
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến Sở Giáo Dục và Đào Tạo Ninh Bình
TT Họ và tên Ngày, tháng,
năm sinh
Nơi công tác Chức vụ Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%)
đóng góp vào
việc tạo ra
sáng kiến
1 Đinh Hoàng Đạo 12/02/1978 THPT Bình Minh Phó hiệu trưởng Thạc sĩ 25%
2 Lê Chí Hoan 16/06/1982 THPT Bình Minh Tổ phó CM Thạc sĩ 25%
3 Nguyễn Huy Anh 10/10/1986 THPT Bình Minh Giáo viên Thạc sĩ 25%
4 Nguyễn Thọ Lộc 12/02/1978 THPT Bình Minh Giáo viên Đại học 15%
5 Trần Văn Thạch 22/05/1988 THPT Bình Minh Giáo viên Đại học 10%
I. TÊN SÁNG KIẾN, LĨNH VỰC ÁP DỤNG
Chúng tôi đề nghị xét công nhận sáng kiến:“Dạy học theo mô hình STEM bài
Sự điện li của nước. pH. Chất chỉ thị axit – bazơ và bài Ankan, Hoá học 11 ở
trường THPT”
Lĩnh vực áp dụng: Môn Hóa học.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG LÀM
Bài “ Sự điện li của nước. pH. Chất chỉ thị axit- bazơ” trong chương trình hóa
học lớp 11 là một bài học khó, có nhiều kiến thức mới về nhận biết môi trường các
dung dịch, cách xác định độ pH và ứng dụng quan trọng trong thực tế đó là nhận biết
môi trường các dung dịch.
Bài “Ankan” trong chương trình hóa học lớp 11 là một bài học quan trọng mở
đầu về hidrocacbon và các chương kiến thức tiếp theo. Nội dung kiến thức và các dạng
bài tập rất phong phú nên học sinh các em phải học rất nhiều kiến thức mới.
Sau khi các em học về ankan các em phải vận dụng làm các dạng bài tập để
chuẩn bị cho thi kiểm tra nhưng vận dụng những kiến thức về ankan để sử dụng trong
cuộc sống rất hạn chế.
- Khi lên lớp giáo viên thực hiện chương trình theo từng tiết học đã quy định
sẵn:
Bài 4: Sự điện li của nước. pH. Chất chỉ thị axit – bazơ (2 tiết)
Bài 33: Ankan. (3 tiết)
1

Thời gian tổ chức các hoạt động học tập chỉ trong phạm vi tiết học, hình thức tổ
chức chưa đa dạng, thường vẫn là giảng dạy các bài học theo một khung phân phối
chương trình đã định sẵn với đúng số tiết theo quy định.
Đa số giáo viên vẫn là người chủ động, là người lập kế hoạch hướng dẫn học
sinh nắm bắt kiến thức. Học sinh được lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng và phát
triển các năng lực thông qua các hoạt động của giáo viên và học sinh ngay trên lớp.
- Giáo viên cố gắng dạy cho đủ kiến thức trong sách giáo khoa theo định hướng
nội dung, nặng về lập luận, suy luận, diễn giải hình thành kiến thức, chú trọng việc
truyền thụ hệ thống kiến thức khoa học mà chưa chú trọng đến học sinh cũng như khả
năng ứng dụng tri thức đã học trong những tính huống thực tiễn.
Ưu điểm:truyền thụ cho người học một hệ thống tri thức khoa học, thực hiện
đúng các kế hoạch giáo dục đề ra.
Nhược điểm và những tồn tại cần khắc phục:
- Học sinh học tập ít hứng thú vì nội dung kiến thức ít được gắn liền với thực
tiễn cuộc sống.
- Học sinh học tập thụ động, các kiến thức đã sắp đặt sẵn nên tạo thói quen
nghe, ghi chép, học thuộc, do đó chưa phát huy năng lực tư duy sáng tạo, khả năng tự
học, tự tìm tòi, tự xử lý thông tin ở học sinh.
- Phát triển cho học sinh các năng lực như năng lực sáng tạo; năng lực tự học,
tựnghiên cứu; năng lực tự điều chỉnh; năng lực đánh giá; năng lực sử dụng công nghệ
thông tin chưa thật sự đạt hiệu quả cao. Chưa phát huy hết các năng lực sẵn có của học
sinh.
- Kiểm tra, đánh giá nặng về tái hiện tri thức chưa đánh giá về mặt năng lực vận
dụng thực tế; chủ yếu là đánh giá qua các bài kiểm tra, chỉ giáo viên đánh giá học sinh, học
sinh không được tham gia vào quá trình đánh giá.
2. GIẢI PHÁP MỚI CẢI TIẾN
- Tìm hiểu về mặt lý luận: dạy học theo mô hình STEM, chương trình định
hướng phát triển năng lực học sinh.
- Phân tích chương trình Hoá học lớp 11 THPT, nghiên cứu, tìm hiểu, lựa chọn
và phát hiện nội dung kiến thức quan trọng để xây dựng các chủ đề dạy học tích hợp.
- Thiết kế các hoạt động học tập trong không gian lớp học và ngoài lớp học để
phát huy tối đa năng lực, sức sáng tạo của học sinh.
- Thực nghiệm sư phạmđể kiểm tra tính đúng đắn và tính khả thi của giải pháp.
Xây dựng kế hoạch dạy học theo mô hình STEM bài Sự điện li của nước. pH.
Chất chỉ thị axit – bazơgồm: xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch thực hiện, xây dựng bộ câu
hỏi định hướng, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học
sinh.Thực nghiệm sư phạmđể kiểm tra tính đúng đắn và tính khả thi của chủ đề.
2

Cụ Thể:
- Bước 1: Lựa chọn chủ đề giáo dục STEM: nhận biết môi trường của các
dung dịch hay gặp trong cuộc sống, cách xác định pH của các dung dịch, chế tạo chất
chỉ thị màu từ hoa đậu biếc .
- Bước 2: Xác định mục tiêu của chủ đề giáo dục STEM:
+ Khoa học (S): Cách xác định môi trường các dung dịch theo pH, cách tính pH
của các dung dịch. Phương pháp cách chế tạo chất chất chỉ thị màu từ hoa đậu biếc.
+Công nghệ (T): Cách làm chất chỉ thị màu từ hoa đậu biếc, các bước thực
hiên, sản phẩm có thể thu được.
+ Kĩ thuật (E): Bản quy trình tạo ra nến nhiều màu, nến thơm.
+ Toán học (M): Định lượng khối lượng hoa đậu biếc cần dùng, thể tích của
chất chỉ thị màu thu được.
- Bước 3: Xác định các vấn đề cần giải quyết trong chủ đề giáo dục STEM:
khối lượng sáp nến, chất tạo màu tự nhiên, tinh dầu thơm cần dùng để tạo nến.
- Bước 4: Xác định các nội dung cụ thể cần sử dụng để giải quyết vấn đề trong
chủ đề STEM:
Tên sản phẩm Khoa học Công nghệ Kỹ Thuật Toán học
Chế tạo chất
chỉ thị màu từ
hoa đậu biếc
Nồng độ phần
trăm, xác định
môi trường các
dung dịch theo
pH, cách tính
pH của các
dung dịch...
Cân điện tử, bộ
dụng cụ pha
chế( Cốc chia
vạch, muôi,
thìa, đũa thủy
tinh…
Thực hành
cân đo , đong
và thí
nghiệm, sử
dụng máy đo
pH
Tính toán khối
lượng hoa đậu
biếc cần dùng,
hiệu suất trong
sản xuất sản
phẩm
- Bước 5: Thiết kế hoạt động học tập: “Dạy học theo mô hình STEM bài Sự
điện li của nước. pH. Chất chỉ thị axit – bazơ, Hoá học 11”
- Bước 6: Thiết kế các tiêu chí và bộ công cụ kiểm tra, đánh giá HS:
+ Học sinh hoàn thành nội dung phiếu đánh giá toàn bộ quá trình.
+ GV thiết kế các phiếu tự đánh giá sản phẩm của nhóm mình, phiếu đánh giá
do GV nhận xét, phiếu hỏi về hứng thú HS sau khi thực hiện xong chủ đề.
Đây là một hoạt động rất ý nghĩa và cần thiết khi kết thúc chủ đề STEM
+ Điểm sản phẩm mỗi nhóm được tính bằng trung bình cộng điểm do nhóm HS
tự đánh giá và GV đánh giá.
Xây dựng kế hoạch dạy học theo mô hình STEM bài ankan, hoá học 11 gồm
các bước sau:
3

- Bước 1: Lựa chọn chủ đề giáo dục STEM: nến parafin, sáp ong, sáp đậu
nành, tinh dầu thơm là nguyên liệu phổ biến dễ kiếm gần gũi với tất cả mọi người
dùng để chế tạo nến nhiều màu, nến thơm.
- Bước 2: Xác định mục tiêu của chủ đề giáo dục STEM:
+ Khoa học (S): Cách xác định khối lượng sáp nến cần dùng để chế tạo nến
theo kích thước cho trước.
+Công nghệ (T): Sử dụng các nguyên vật liệu dễ tìm và an toàn vệ sinh thực
phẩm: nến parafin, sáp ong, sáp đậu nành, tinh dầu thơm( tinh dầu sả, quế, dầu tràm...)
+ Kĩ thuật (E): Bản quy trình tạo ra nến nhiều màu, nến thơm.
+ Toán học (M): Định lượng khối lượng, thể tích của nến cần chế tạo
- Bước 3: Xác định các vấn đề cần giải quyết trong chủ đề giáo dục STEM:
khối lượng sáp nến, chất tạo màu tự nhiên, tinh dầu thơm cần dùng để tạo nến.
- Bước 4: Xác định các nội dung cụ thể cần sử dụng để giải quyết vấn đề trong
chủ đề STEM:
Tên sản phẩm Khoa
học
Công nghệ Kỹ Thuật Toán học
Chế tạo nến
nhiều màu
Nồng
độ phần
trăm
Cân điện tử, bộ dụng
cụ pha chế( Cốc chia
vạch, muôi, thìa, đũa
thủy tinh…
Thực hành cân
đo , đong và
thí nghiệm
Tính toán số gam
chất tan(parafin,
sáp ong, sáp đậu
nành) và số gam
chất tạo màu
Chế tạo nến
thơm
Nồng
độ mol/l
Cân điện tử, bộ dụng
cụ pha chế( Cốc chia
vạch, muôi, thìa, đũa
thủy tinh…
Thực hành cân
đo , đong và
thí nghiệm
Tính toán số gam
chất tan(parafin,
sáp ong, sáp đậu
nành) và thể tích
tinh dầu thơm cần
dùng
- Bước 5: Thiết kế hoạt động học tập: “Dạy học theo mô hình STEM bài
ANKAN, Hoá học 11”
- Bước 6: Thiết kế các tiêu chí và bộ công cụ kiểm tra, đánh giá HS:
+ Học sinh hoàn thành nội dung phiếu đánh giá toàn bộ quá trình.
+ GV thiết kế các phiếu tự đánh giá sản phẩm của nhóm mình, phiếu đánh giá
do GV nhận xét, phiếu hỏi về hứng thú HS sau khi thực hiện xong chủ đề.Đây là một
hoạt động rất ý nghĩa và cần thiết khi kết thúc chủ đề STEM
+ Điểm sản phẩm mỗi nhóm được tính bằng trung bình cộng điểm do nhóm HS
tự đánh giá và GV đánh giá.
3. HIỆU QUẢ GIÁO DỤC, XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC
3.1. HIỆU QUẢ GIÁO DỤC
4

- Nâng cao hứng thú học tập môn Hóa học cho học sinh giúp các em nhận thấy
khoa học không còn xa vời với đời sống mà khoa học có ngay trong đời sống của con
người.
- Giảng dạy kiến thức bài học, giáo dục học sinh cách vận dụng kiến thức đã
học vào thực tế cuộc sống, giúp các em vận dụng học đi đôi với hành, kiến thức và
thực tế luôn luôn song hành bổ trợ cho nhau, vận dụng kiến thức vào thực tế giúp tăng
năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế.
- Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong và nếp sống cho học sinh: sử
dụng hợp lí các nguồn tài nguyên, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường.
- Giáo dục kiến thức văn hoá, khoa học: từ hoạt động trãi nghiệm giúp cho học
sinh thêm yêu khoa học, thích khám phá, say mê tìm tòi nghiên cứu hoặc vận dụng
những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống giúp gia đình, xã hội nâng cao năng suất
lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Tất cả các học sinh sau khi tham gia hoạt động trãi nghiệm vận dụng tốt các
kiến thức đã được học trong việc làm bài tập, vận dụng kiến thức vào thực tế.
* Kết quả đạt được:
- Thực trạng chất lượng môn Hóa học sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
trong hai năm học 2018 – 2019; 2019-2020 tại Trường THPT Bình Minh:
+ Chất lượng học sinh khá giỏi tăng lên rõ rệt, học sinh trung bình giảm đi
nhiều.
Chất lượng học lực sau khi học bài Sự điện li của nước. pH. Chất chỉ thị axit – bazơ
Năm học Lớp (%)HS Giỏi (%) HS Khá (%) HS TB (%)HS Yếu
2018-2019 11A 16,00 56,00 28,00 0
11G 5,41 70,59 24,00 0
2019-2020 11A 45,71 51,43 2,86 0
11G 45,71 51,43 2,86 0
Bảng 1: Bảng kết quả kiểm tra của HS lớp 11B trong 2 năm học
Lớp Nă
m
học
Số
HS
Điểm xi
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
11A 2018-
2019
40 0 0 0 1 1 15 11 6 5 1 0
11A 2019-
2020
40 0 0 0 0 1 8 9 10 7 3 2
Bảng 2: Bảng kết quả kiểm tra của HS lớp 11G trong 2 năm học
Lớp Nă
m
học
Số
HS
Điểm xi
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
11G 2018-
2019
40 0 0 1 2 5 8 12 8 4 0 0
11G 2019- 40 0 0 0 1 3 6 10 12 4 4 0
5

