
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NINH BÌNH
TRƯỜNG THPT NHO QUAN A
--------
PHỤ LỤC SÁNG KIẾN
“TÍCH HỢP MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
TRONG DẠY HỌC STEM HÓA HỌC TẠI
TRƯỜNG THPT NHO QUAN A – NINH
BÌNH”
* Nhóm tác giả của Sáng kiến:
1. Bùi Bằng Đoàn – Phó hiệu trưởng.
2. Dương Quốc Hưng – Tổ phó CM, giáo viên Hóa Học.
3. Trịnh Thị Thanh – Giáo viên Hóa Học.
4. Phạm Thị Phương Thủy - Giáo viên Hóa Học.
* Đơn vị: Trường THPT Nho Quan A.
Ninh Bình, tháng 5 năm 2021

MỤC LỤC
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU……………………………………………………………….1
I. Lí do chọn đề tài……………………………………………………………………...1
I.1. Cơ sở lí luận: ............................................................................................................. 1
I.2. Cơ sở thực tiễn: ......................................................................................................... 3
II. Mục đích nghiên cứu: ................................................................................................. 4
III. Đối tượng nghiên cứu: ............................................................................................... 4
IV. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 4
CHƯƠNG II: NỘI DUNG ............................................................................................ 5
I. Giải pháp cũ thường làm .............................................................................................. 5
II. Giải pháp mới đề ra ..................................................................................................... 7
II.1. Các biện pháp chính cần thực hiện .......................................................................... 7
II.2. Áp dụng sáng kiến ................................................................................................. 16
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 34
I. Đánh giá định tính ...................................................................................................... 34
II. Đánh giá định lượng ................................................................................................. 35
CHƯƠNG IV: HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI ....................................................... 40
CHƯƠNG V: ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG ........................................ 41
CHƯƠNG VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................... 42
VI.1. Kết luận ................................................................................................................ 42
VI.2. Kiến nghị .............................................................................................................. 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 44
PHỤ LỤC .........................................................................................................................

1
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.1. Cơ sở lí luận
Ở nước ta, Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng 04/11/2013 về
Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ nhiệm vụ “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng
phát triển phẩm chất, năng lực của người học”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc
“Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo
dục gia đình và giáo dục xã hội”. Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông tổng
thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo (BGD&ĐT) 12/2018 xem năng lực giải quyết vấn đề
và sáng tạo (NL GQVĐ & ST) là một trong những năng lực cốt lõi mà nền giáo dục
cần phải hình thành phát triển cho HS.
Trong các mô hình giáo dục mới hiện nay, giáo dục STEM (Science - Khoa học,
Technology - Công nghệ, Engineering - Kỹ thuật và Math - Toán học) đang là một mô
hình nhận được nhiều chú ý trên thế giới và trong nước. Nhiều nghiên cứu đã nhấn
mạnh tầm quan trọng của giáo dục STEM như: Giáo dục STEM là giải pháp để chuẩn
bị nguồn nhân lực cho CMCN 4.0. Mô hình giáo dục STEM sử dụng phương pháp
“học qua hành”, người học có được kiến thức từ kinh nghiệm thực hành chứ không
phải chỉ từ lý thuyết. GV không phải là người truyền dạy kiến thức mà chỉ hướng dẫn
người học xây dựng kiến thức. STEM mang đến các hoạt động trải nghiệm thực tế,
thông qua đó người học không chỉ được trang bị các kỹ năng STEM mà còn được
trang bị các kỹ năng phù hợp trong thế kỉ 21. Người học STEM có khả năng tự giải
quyết vấn đề thông qua phối hợp kiến thức và kỹ năng các môn vận dụng trong công
việc, đặc biệt là ngành nghề liên quan đến Kỹ thuật – Công nghệ. Giáo dục STEM
xuất hiện ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây tuy chưa thực sự trở thành một hoạt
động giáo dục chính thức trong trường phổ thông. Nhưng giáo dục STEM với nhiệm
vụ cung cấp các kiến thức và kĩ năng cần thiết cho HS thế kỉ 21 sẽ là mô hình giáo dục
diện rộng trong tương lai gần của cả thế giới. Do vậy, giáo dục STEM rất cần sự quan
tâm và nhận thức của toàn xã hội. Gần đây ở Việt Nam, STEM và giáo dục STEM nói
riêng đã bắt đầu được nghiên cứu.
Trong chương trình THPT, Hóa học là môn khoa học có sự kết hợp chặt chẽ giữa
lí thuyết và thực nghiệm, do đó dạy và học Hóa học không chỉ dừng lại ở việc truyền

2
đạt và lĩnh hội kiến thức khoa học mà còn phải nâng cao tính thực tế của môn học.
Chính vì vậy, Giáo dục STEM đòi hỏi người GV dạy học thông qua việc giao các
nhiệm vụ cho HS. Khi đó HS được tiến hành thí nghiệm, được vận dụng kiến thức, kĩ
năng để giải thích các hiện tượng Hóa học có trong đời sống, nghiên cứu bản chất Hóa
học của các quá trình sản xuất...qua đó HS phát triển NL nhận thức và NL hành động,
hình thành, phát triển NL, phẩm chất của người lao động mới năng động, sáng tạo.
Mặt khác, hoạt động dạy học Hóa Học dưới dạng trò chơi, lồng ghép các câu
chuyện, câu thơ vui là một hình thức tổ chức dạy học, là một trong những hoạt động
của HS tiến hành trong nhà trường nhằm gây hứng thú, củng cố, mở rộng, khắc sâu
kiến thức, phát triển nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tư duy sáng tạo của học sinh,
rất lớn về mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
• Người học được mở rộng, bổ sung, cập nhật các kiến thức Hoá học cần thiết,
rèn luyện và củng cố vững chắc các kĩ năng học tập có được trong các giờ học trên
lớp.
• Tăng thêm những tri thức thực tế, từ đó biết áp dụng tri thức Hoá học vào đời
sống hàng ngày.
• Rèn luyện cho người học khả năng thích nghi, chủ động, rèn luyện kĩ năng
nghiên cứu, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu
lao động, tinh thần tập thể, tinh thần cộng đồng, thói quen quan sát, phán xét, suy
luận…hứng thú học tập. Đó cũng là tiền đề quan trọng để rèn luyện những phẩm chất
của con người lao động mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội và mục têu của giáo dục.
• Rèn luyện cách thức làm việc tập thể như có sự phân công công việc, nhiệm
vụ, có người chỉ huy, điều khiển, có trao đổi bàn bạc, có kiểm tra đôn đốc…
• Tạo điều kiện phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu.
Giúp giáo viên phát hiện được những học sinh có năng khiếu Hoá học, say mê
Hoá học.Từ đó bồi dưỡng những học sinh đó trở thành những học sinh giỏi. Đặc biệt
phát hiện được năng lực của những học sinh có khả năng tổ chức hoạt động tập thể tốt
để bồi dưỡng học sinh trở thành một cán bộ Đoàn, Đội xuất sắc.
Như vậy, có thể nhận định, việc áp dụng mô hình STEM trong dạy học Hóa Học
và phương pháp sử dụng trò chơi, lồng ghép các câu chuyện,câu thơ vui,…trong việc
tổ chức các hoạt động dạy học Hóa Học sẽ là yếu tố quan trọng thúc đẩy việc nâng cao

3
năng lực học bộ môn Hóa Học, giúp HS tiếp thu kiến thức một cách chủ động, hứng
thú,…từ đó, vận dụng được các kiến thức đã lĩnh hội được vào thực tiễn.
I.2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay những sáng kiến kinh nghiệm về dạy học STEM ở môn Hóa học chưa
nhiều và việc sử dụng trò chơi, lồng ghép những câu chuyện,câu thơ vui trong dạy học
tại trường THPT Nho Quan A trong các tiết học Hóa còn hạn chế, thậm chí có giáo
viên chưa từng biết và sử dụng.
Qua tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng phương pháp trò chơi, câu chuyện, câu
thơ trong dạy học Hóa Học, chúng tôi rút ra một số kết quả như sau:
- Số lượng rất ít, chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Về hình thức tổ chức ít do đó học sinh ít được tham gia.
- Về phía giáo viên: Các giáo viên đều cho rằng nếu được tổ chức thường xuyên,
nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn sẽ nâng cao chất lượng học tập của học
sinh. Tuy nhiên, do nhiều lí do như: kinh phí, kinh nghiệm tổ chức…mà thực tế
hiện nay chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức.
- Về phía học sinh. Các em đã tham gia đều cảm nhận được tác dụng của các trò
chơi, các câu chuyện , câu thơ hay trong tiết dạy đem lại niềm vui, hứng thú học
tập thêm yêu môn học, thấy mình mạnh dạn hơn … Khi được hỏi các em điều
mong muốn mình sẽ được tham gia và muốn được thường xuyên học tập .
Đối với dạy học chủ đề STEM, đa số GV còn thiếu hiểu biết về lĩnh vực này, cho
rằng giáo dục STEM không quan trọng. Khi được yêu cầu dạy học theo chủ đề STEM,
GV áp dụng còn đang rập khuôn, máy móc, chưa vận dụng linh hoạt. Đặc biệt, một số
bước trong quá trình dạy học STEM thực hiện chưa thực sự mang lại hiệu quả:
- HS chưa biết cách tìm hiểu nội dung các chủ đề thông qua bộ câu hỏi định
hướng hoặc đã biết cách nhưng việc tiếp thu và ghi nhớ còn chậm và chưa có
phương pháp để nhớ nhanh, nhớ lâu.
- HS chưa thực sự có hứng thú khi phải tự đi tìm hiểu các nội dung kiến thức bài
học phục vụ cho việc học chủ đề STEM.
- Sau khi HS báo cáo sản phẩm STEM, GV mặc định rằng tất cả các HS đã nắm
vững kiến thức mà chưa có biện pháp củng cố giúp HS nhớ lâu kiến thức để
làm tốt bài test về nội dung kiến thức bài học,…

