i

MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1 3.1. Khách thể nghiên cứu ..................................................................................... 3 3.2. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................... 3 4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 3 5. Các phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 3 6. Phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm .................................................................. 4 PHẦN II: NỘI DUNG ........................................................................................... 5 I. Tổ chức thực hiện đề tài ..................................................................................... 5 1. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 5 2. Cơ sở pháp lý ..................................................................................................... 8 3. Cơ sở thực tiễn .................................................................................................. 9 II. Nội dung công tác Xã hội hóa giáo dục ở trường THPT Đinh Bạt Tụy ........ 10 1. Đặc điểm tình hình của nhà trường ................................................................. 10 1.1. Những thuận lợi cho nhà trường phát triển sự nghiệp giáo dục ................. 11 1.2. Khó khăn ...................................................................................................... 11 2. Một số kết quả đạt được .................................................................................. 12 2.1. Phát triển đội ngũ ......................................................................................... 12 2.2. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục xã hội; tăng cường trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân đối với sự nghiệp giáo dục .......................... 14 2.3. Xây dựng CSVC, trang thiết bị thực hành thí nghiệm ................................. 19 3. Hoạt động Xã hội hóa giáo dục của trường THPT Đinh Bạt Tụy ................. 25 3.1. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền cho phụ huynh cũng như cộng đồng .... 25 3.2. Xây dựng kế hoạch để huy động cộng đồng ................................................ 26 3.3. Tạo lập uy tín, niềm tin thông qua khẳng định uy tín chất lượng của nhà trường .................................................................................................................. 26 3.4. Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên đặc biệt là đội ngũ GVCN của các lớp ........................................................................................................................ 26 3.5. Phát huy vai trò của hội cha mẹ học sinh, phụ huynh học sinh, gia đình học sinh ...................................................................................................................... 26 3.6. Làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo địa phương, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội trong và ngoài huyện.................................................................. 27 3.7. Thực hiện tốt quy định gắn kết ba môi trường giáo dục .............................. 27 3.8. Nâng cao uy tín, năng lực của Người cán bộ quản lý .................................. 28 3.9. Cần phối hợp chặt chẽ các tổ chức đoàn thể, các lực lượng xã hội để giáo dục đạo đức, chăm sóc sức khỏe cho học sinh .................................................... 28 4. Một số vấn đề tồn tại ....................................................................................... 28 III. TÁC DỤNG THỰC TIỄN ............................................................................ 28 1.Về cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học ........................................................... 28 2.Về xây dựng môi trường giáo dục.................................................................... 29 3.Chất lượng đội ngũ và chất lượng giáo dục ..................................................... 29 3.1.Chất lượng đội ngũ ........................................................................................ 29 3.2.Chất lượng Giáo dục .................................................................................... 30 PHẦN III: KẾT LUẬN ....................................................................................... 34

1. Kết luận ........................................................................................................... 34 2. Một số ý kiến ................................................................................................... 35 3. Khả năng và điều kiện áp dụng ....................................................................... 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 37

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ suất sắc của cách mạng Việt Nam, là danh

nhân văn hóa của nhân loại, là nhà chính trị thiên tài, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà

thơ, nổi tiếng. Không những thế, Bác còn là nhà giáo dục tiên tiến với nhiều

quan điểm tiến bộ không chỉ đối với đương thời mà còn đối với cả thời đại hiện

nay và mai sau.

Bác cho rằng: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải có tri thức.

Trong Thư gửi các học sinh (tháng 9-1945) nhân ngày khai trường đầu tiên đã

thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc chăm lo giáo dục thế hệ trẻ. Đối

với sự nghiệp giáo dục Bác đặt vai trò, giá trị của giáo dục lên hàng đầu. Bác

dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, Vì lợi ích trăm năm trồng người". Lời dạy

ấy không những đã đánh giá cao vai trò của giáo dục mà còn chỉ ra cách thức,

phương pháp giáo dục: Giáo dục là trồng người – mà đã trồng người thì phải

ươm mầm, chăm sóc, phải kiên kì, nhẫn nại, phải có sự kết hợp chặt chẽ của cả

xã hội thì mới có thể gặt hái kết quả tốt đẹp.

Trong Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua, phần nói về

GDĐT đã chỉ rõ: “Giáo dục và Đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển

nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước,

xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển Giáo dục và Đào tạo

cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho

Giáo dục và Đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện Giáo

dục và Đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo

yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế,

phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã

hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”.

Điều đó cho thấy quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lĩnh vực GDĐT luôn

được Đảng và Nhà nước ta thể hiện rất nghiêm túc trong suốt quá trình lãnh đạo

cách mạng, đã vận dụng sáng tạo bằng những chính sách, mục tiêu cụ thể.

1

Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo. Nhà nước tổ chức

quản lý, mọi người, mọi nhà, mọi tổ chức xã hội đều phải chăm sóc, phải có

trách nhiệm giáo dục, có thế thì trẻ em hôm nay mới trở thành công dân có ích,

trở thành người lao động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, người chủ của đất nước

mai sau. Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ

(KHCN) thì giáo dục của các nước trên thế giới đã lên trên một tầm cao mới mà

có thể nới chúng ta phải mất hàng chục năm mới có thể có được nền giáo dục

như của các nước phát triển như hiện nay. Muốn được như thế thì cần phải đảm

bảo có đầy đủ CSVC, trang thiết bị thí nghiệm thực hành, chế độ cho người

thầy.v.v. Để đạt được điều đó thì chúng ta cần nhìn từ đâu? khi đất nước còn

khó khăn về ngân sách, trong khi tất cả các nghành đều cần được đầu tư. Vì vậy

phải huy động mọi nguồn lực có thể của xã hội để làm công tác Giáo Dục

(Nhân lực - Vật lực - Trí lực và Tài lực.). Đối với các trường ngoài công lập thì

công tác Xã hội hóa cần phải được phát huy nhiều hơn, phải chủ động nắm bắt

trước những thay đổi của xã hội, của nghành để kịp thời thích ứng và có các giải

pháp phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, đặc biệt là với xu thế số hoá

trường học là tất yếu thì vấn đề nâng cao CSVC trang thiết bị phục vụ học tập lại

càng cấp thiết

Những năm qua công tác xã hội hóa giáo dục của mọi cấp học đã trở nên

phổ biến và rộng rãi trong toàn xã hội. Huy động được nhiều sức người, sức của

trong toàn xã hội, góp phần đưa nền giáo dục nước nhà gặt hái được nhiều thành

công. Từng bước giải quyết, hiện thực hóa các đường lối, tư tưởng giáo dục của

Đảng và chủ trương của Nhà nước, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhân tài để Giáo dục, Đào tạo ra các thế hệ lao động mới phát triển toàn

diện, năng động, sáng tạo đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của nền Công nghiệp

hóa, hiện đại hóa của nước ta. Chính vì vậy tôi mạnh dạn chọn Sáng kiến kinh

nghiệm trong năm học 2021 - 2022 là: "Một số kinh nghiệm trong công tác Xã

Hội Hóa Giáo dục đối với trường ngoài công lập

2. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm

Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng của công tác Xã Hội

Hóa giáo dục ở trường THPT Đinh Bạt Tụy- Huyện Hưng Nguyên- Tỉnh Nghệ

An, tôi đề xuất một số kinh nghiệm, biện pháp thực hiện công tác Xã Hội hóa

Giáo dục nhằm tăng cường cho việc đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng

quản lý đối với loại hình trường ngoài công lập, từng bước xây dựng một môi

trường giáo dục An toàn- Xanh - Sạch - Đẹp. Đồng thời công tác Xã hội hóa

cũng giúp đỡ được nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn được tiếp tục đi học

và học tốt, trở thành người có ích cho xã hội.

3. Đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm

3.1. Khách thể nghiên cứu Công tác Xã Hội Hóa Giáo dục của trường THPT Đinh Bạt Tụy- Huyện

Hưng Nguyên- Tỉnh Nghệ An tác động đến quá trình giáo dục của nhà trường

thông qua việc tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành thí nghiệm

trong trường.

3.2. Đối tượng nghiên cứu Một số kinh nghiệm, biện pháp trong thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục

ở trường THPT Đinh Bạt Tụy- Huyện Hưng Nguyên- Tỉnh Nghệ An về việc

thực hiện xây dựng CSVC khuôn viên, vườn hoa cây cảnh, các công trình khác,

đảm bảo môi trường sư phạm An toàn-xanh-sạch-đẹp.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Nghiên cứu lý luận về công tác Xã hội hóa giáo dục.

4.2. Nội dung thực hiện công tác xã Hội hóa giáo dục của trường THPT

Đinh Bạt Tụy- Huyện Hưng Nguyên- Tỉnh Nghệ An.

4.3. Đề xuất một số biện pháp, kinh nghiệm trong việc thực hiện xã hội

hóa giáo dục để vận động các nguồn trong việc xây dựng CSVC cũng như các

nguồn hỗ trợ khác để giúp đỡ các học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên

trong học tập để các em an tâm học tập tại trường THPT Đinh Bạt Tụy- Huyện

Hưng Nguyên- Tỉnh Nghệ An.

5. Các phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các văn bản pháp quy, những quy định của ngành có liên quan

đến công tác Xã Hội Hóa Giáo dục, xây dựng cơ sở nghiên cứu lý luận cho việc

nghiên cứu đề tài.

5.2. Phương pháp thực tiễn

- Phương pháp quan sát.

- Phương pháp Thống kê và Kiểm tra.

- Phương pháp tổng kết, đúc kết kinh nghiệm thông qua hoạt động của bản

thân và đồng nghiệp.

6. Phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm

Do điều kiện về thời gian và khả năng của bản thân còn hạn chế nên tôi chỉ

nghiên cứu một số biện pháp, kinh nghiệm trong việc thực hiện công tác Xã hội

hóa Giáo dục ở trường ngoài công lập, nhằm tăng cường cơ sở vật chất, trang

thiết bị thí nghiệm từ đó nâng cao chất lượng dạy và học cũng như các hoạt động

khác của trường THPT Đinh Bạt Tụy- Huyện Hưng Nguyên.

Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện áp dụng trong năm học 2021- 2022

tại trường THPT Đinh Bạt Tụy- Huyện Hưng Nguyên- Tỉnh Nghệ An.

PHẦN II: NỘI DUNG

I. Tổ chức thực hiện đề tài

1. Cơ sở lý luận

1.1. Một số khái niệm liên quan đến công tác xã hội hóa giáo dục

a. Khái niệm xã hội hóa giáo dục

Ta biết rằng lịch sử phát triển của loài người gắn liền với giáo dục. Giáo dục

là một nhu cầu không thể thiếu được của xã hội loài người. Xét về nguồn gốc,

Giáo dục xuất hiện trong cuộc sống nhằm mục đích truyền thụ kinh nghiệm

sống, lao động,... và nó là chất kết dính, biến cộng đồng thành một cấu trúc. Do

đó chức năng đầu tiên, chức năng nguyên thủy của giáo dục là Xã hội hóa

(XHH). Khi xã hội phát triển giáo dục được tổ chức thành quá trình hoạt động

có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyện thụ cho lớp người mới những

tri thức về tự nhiên xã hội tạo cho con người có nhân cách.

Để giáo dục có thể phát huy tốt vai trò của mình thì Giáo dục và Đào tạo

phải biết lấy cộng đồng xã hội làm điểm tựa. Theo UNESCO mục đích của việc

học ngày nay là: “Học để biết, học để làm, học để biết chung sống, học để tự

khẳng định mình”. Một khi mục đích của việc học đã như vậy thì vai trò của

Giáo dục và Đào tạo đã có thêm những yếu tố mới: Giáo dục và Đào tạo phải trở

thành tài sản của mọi người và Giáo dục có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của

mọi người, mọi cộng đồng và toàn xã hội. Khi mọi người được hưởng thụ giáo

dục thì mọi người, mọi gia đình, toàn xã hội phải có trách nhiệm về tinh thần và

vật chất đối với giáo dục. Đây chính là công tác “XHH giáo dục”.

Theo nghị quyết của Chính phủ số 90/CP ngày 21/8/1997 về phương

hướng chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, chúng ta có

thể hiểu “XHH giáo dục” là: Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân

dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp Giáo dục, Đào tạo; xây dựng cộng đồng

trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra một môi trường giáo

dục lành mạnh; đa dạng hóa các hình thức hoạt động Giáo dục và Đào tạo. mở

rộng cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các

hoạt động đó; mở rộng các nguồn đầu tư khai thác các tiềm năng về nguồn nhân

lực, vật lực, tài lực trong xã hội. Phát huy có hiệu quả các nguồn lực tạo điều

kiện cho các hoạt động Giáo dục và Đào tạo phát triển nhanh, có chất lượng cao

hơn. Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của chính phủ đã đề cập rất nhiều đến chính

sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.

Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, các nhà

hảo tâm. Huy động các nguồn lực trong nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội,

các tổ chức kinh tế, các cựu học sinh, con em xa quê... để phát triển các hoạt

động Giáo dục, vừa phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực nhằm từng bước khắc

phục khó khăn về CSVC, trang thiết bị thí nghiệm thực hành từ đó nâng cao chất

lượng Giáo dục

Xã hội hóa giáo dục không chỉ đơn thuần là một cuộc đại cải cách hệ thống

Giáo dục & Đào tạo Việt Nam mà về bản chất, nó là một trong những nội dung

quan trọng trong chiến lược hoạch định tương lai đất nước. Vì thế, xã hội hóa

giáo dục là nhiệm vụ chung của toàn xã hội chứ không thuộc về riêng bất kỳ một

bộ, ngành hay cơ quan nào. Đó là một sự nghiệp thiêng liêng bởi xã hội hóa giáo

dục sẽ khắc phục được những khó khăn của các cơ sở Giáo dục, mang lại hiệu

quả giáo dục cao hơn, sẽ tạo ra đội ngũ trí thức, người lao động đầy đủ khả năng

thích ứng với những thay đổi của thế giới và tiến tới làm chủ thể giới

Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục THPT đặc biệt là loại hình trường ngoài

công lập lại càng bức thiết, có thể nói là vấn đề sống còn của các nhà trường

trong đó có trường THPT Đinh Bạt Tụy. Sự ra đời của các trường dân lập, tư

thục gọi chung là trường ngoài công lập là một bài học thành công trong quá

trình xây dựng và phát triển hệ thống Giáo dục của nước ta. Các nhà trường đã

giải quyết được bài toán quá tải vào cấp III cho các địa phương cũng như bài

toán ngân sách, biên chế cho các nhà trường đặc biệt là tại các thành phố lớn.

Đây cũng là một tư tưởng giáo dục lớn của Đảng và chủ trương của Nhà nước

nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để giáo dục tạo ra

lớp người lao động mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo để đáp ứng đòi

hỏi của nền công nghiệp hóa nước ta, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đã nêu ra.

Những năm qua, công tác xã hội hóa đã trở thành quan niệm phổ biến và

rộng rãi trong toàn xã hội. Song trong thực tế, vẫn còn nhiều điều phải bàn để

làm sáng tỏ phạm trù khái niệm và cách tiếp cận thực tiễn cho đúng nhằm biến

chủ trương này của Đảng và Nhà nước thành hiện thực. Ở đây, công tác xã hội

hóa cần được hiểu theo hai nghĩa

1.Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước tổ

chức quản lý, mọi người, mọi nhà, mọi tổ chức xã hội đều phải chăm lo, giáo

dục . Có thế thì học sinh hôm nay mới trở thành người lao động xây dựng và bảo

vệ tổ quốc mai sau. Vì vậy phải huy động mọi nguồn lực của xã hội để làm tốt

công tác Xã hội hóa giáo dục

2. Học sinh không chỉ được quyền nhận sự quan tâm, giáo dục của toàn

xã hội mà còn phải biến sự quan tâm, giáo dục đó thành chất lượng giáo dục của

chính mình, phải có nghĩa vụ đối với xã hội mà trước hết là đối với mình để trở

thành con ngoan, trò giỏi; có như thế sau này mới trở thành người công dân tốt

của đất nước.

Đây là hai mặt của một vấn đề, vừa có tính nhân văn sâu sắc vừa có ý

nghĩa giáo dục to lớn.

Thực tế cho thấy, xã hội hóa sự nghiệp giáo dục được đặt ra cho mọi độ

tuổi, mọi bậc học (cả trẻ em và người lớn) nhưng đối với học sinh THPT thì việc

xã hội hóa như đã hiểu trên đây phải được coi là triệt để nhất bởi các lý do:

Thứ nhất:. Giáo dục THPT là mắt xích cuối cùng trong trong hệ thống giáo

dục quốc dân, là bước ngoặt để học sinh bước vào môi trường giáo dục chuyên

nghiệp, học nghề, chuẩn bị cho tương lai. Là cấp học chịu trách nhiệm quan

trọng đó là giáo dục và định hướng cho học sinh, giáo dục học sinh phát triển

một cách toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mĩ và lao động.

Thứ hai:. Sự phát triển của học sinh trong độ tuổi này rất đặc biệt, là độ tuổi

các em tiến tới hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân, kể cả thể chất và tinh

thần. Mọi sự định hướng lệch lạc hoặc thiếu sự quan tâm của Gia đình, nhà

trường và xã hội trong độ tuổi này sẽ không có cơ hội để sửa lại vì đây là cấp

học cuối cùng. Vì thế đòi hỏi mọi người, nhất là các bậc cha mẹ, các cô giáo, các

cơ sở giáo dục và nói chung là toàn xã hội không được buông lỏng học sinh, phó

mặc công tác giáo dục cho các nhà trường mà phải phối kết hợp hài hòa, chặt

chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

b. Nội dung của công tác “XHH giáo dục”

Nội dung 1: Giáo dục xã hội: Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã

hội, làm cho nền Giáo dục của chúng ta trở thành một nền Giáo dục dành cho

mọi người, tạo cơ hội để mọi người ở mọi lứa tuổi đều có điều kiện học tập

thường xuyên, học tập suốt đời, tạo ra một xã hội học tập.

Nội dung 2: Cộng đồng hóa trách nhiệm: Xây dựng môi trường Giáo dục

lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giữa Giáo

dục trong nhà trường với Giáo dục ở gia đình và Giáo dục ngoài xã hội; tăng

cường trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn

thể, tổ chức kinh tế xã hội, của gia đình, của từng người dân đối với sự nghiệp

Giáo dục .

Nội dung 3: Đa dạng hóa loại hình giáo dục, các hình thức học tập: Tích

cực phát triển các loại hình ngoài công lập để tạo thêm cơ hội học tập, nâng cao

trình độ cho mọi người.

Nội dung 4: Đa phương hóa nguồn lực: Tăng cường đầu tư từ ngân sách

Nhà nước mở rộng các nguồn đầu tư khác, khai thác triệt để và sử dụng có hiệu

quả các nguồn lực trong xã hội để phát triển Giáo dục. Các địa phương cần có sự

quan tâm hơn nữa đến chất lượng giáo dục của các nhà trường, kể cả các trường

ngoài công lập, muốn vậy thì hằng năm cần có sự quan tâm hỗ trợ một phần

kinh phí hỗ trợ CSVC, trang thiết bị học tập cho các nhà trường

Nội dung 5: Thể chế hóa và cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng

và của Nhà nước về “XHH giáo dục”.

Như vậy công tác “XHH giáo dục” gồm 5 nội dung như đã nêu ở trên.

Nhưng xét trong trường THPT thì nội dung công tác “XHH giáo dục” chủ yếu là:

Giáo dục hóa xã hội; cộng đồng hóa trách nhiệm và đa phương hóa nguồn lực.

2. Cơ sở pháp lý Ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời( tháng 9/1945), Nhà nước đã

chú ý đến Giáo dục và Đào tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập nha

bình dân học vụ, kêu gọi toàn quốc chống dốt, cả xã hội làm giáo dục.

Trong luật giáo dục (tháng 12/1998).

Điều 11 đã nêu: Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm

chăm lo sự nghiệp Giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường Giáo

dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu Giáo dục.

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp Giáo dục; thực hiện đa

dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức Giáo dục; khuyến khích,

huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp

Giáo dục.

Điều 81: Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã

hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục

Điều 82 đến điều 85 quy định rõ vai trò của xã hội tham gia và làm giáo dục

Trong điều 45 chương VII của điều lệ trường THPT: “Nhà trường phải chủ

động phối hợp với hội đồng giáo dục các cấp, Ban đại diện cha mẹ học sinh, các

tổ chức và cá nhân nhằm

- Thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp Giáo dục giữa nhà trường,

gia đình và xã hội.

- Huy động mọi lực lượng của cộng động chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây

dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng

cơ sở vật chất nhà trường. .”

Chỉ thị của Bộ Trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về những nhiệm vụ trọng

tâm của toàn ngành trong năm 2002 – 2003 đã chỉ rõ: “.. Đầy mạnh xã hội hóa

giáo dục và thực hiện công bằng hóa giáo dục”.

3. Cơ sở thực tiễn Hệ thống giáo dục của nước ta đã phát triển đầy đủ các ngành bậc học từ

nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, THPT, dạy nghề, cao đẳng, đại học

và sau đại học. Trong những năm gần đây đã tiến hành phổ cập giáo dục tiểu và

trung học cở sở, THPT cũng được phát triển, đặc biệt bậc đại học và cao đẳng

phát triển nhanh so với các năm trước đây.

Tuy nếu đem so sánh sự phát triển này với các nước trên thế giới và trong

khu vực thì ta còn kém nhiều, về quy mô giáo dục và đào tạo xét theo biết chữ

và tiểu học, ta ở vào mức bình thường. Ở bậc trung học ta ở mức thấp. Ở bậc

Đại học ta ở bậc cuối và cách xa các nước khác, không có nhiều trường được

xếp hạng, các công trình nghiên cứu khoa học như các nước trong khu vực .

Về chất lượng, trừ một số ít học sinh giỏi của ta thì không kém các nước

nhìn chung cũng theo kiểu đào tạo gà nòi: Nhưng đa số học sinh kiến thức hổng

hụt nhiều, đặc biệt là kỹ năng thực hành và làm việc theo nhóm. Sự hiểu biết về

công nghệ ít, trình độ ngoại ngữ kém, hạn chế kỹ năng giao tiếp.

Nguyên nhân của sự yếu kém trên đây có nhiều, nhưng chủ yếu là do

nguồn lực đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo và sự huy động xã hội đóng góp cho

giáo dục quá ít ỏi.

Yêu cầu của đất nước ta là phải phát triển nhanh để trở thành một nước

công nghiệp theo hướng hiện đại. Muốn vậy thì sự nghiệp phát triển Giáo dục

phải đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Đảng ta đã khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và

đào tạo là quốc sách hàng đầu”.

Để giải quyết mâu thuẩn về nguồn lực và yêu cầu phát triển về số lượng,

chất lượng đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH và xây dựng một xã hội học tập thì

không có cách nào khác là phải tiến hành “XHH giáo dục”.

II. Nội dung công tác Xã hội hóa giáo dục ở trường THPT Đinh Bạt Tụy

1. Đặc điểm tình hình của nhà trường Trường THPT Đinh Bạt Tụy thành lập năm 1999. Trường cách Trung tâm

huyện Hưng Nguyên 4 km, tổng diện tích của trường gần bằng 12.000m

. 22 năm qua các thế hệ giáo viên và học sinh của trường đã không ngừng phấn

đấu, rèn luyện trong học tập và công tác.

Năm học 2021 – 2022 trường có 02 CBQL, 23 giáo viên, 05 nhân viên, 09

lớp với tổng số 3867 học sinh; 12 phòng học cấp 4. 03 phòng thí nghiệm thực

hành. 07 phòng chức năng

Trong 8 năm qua kể từ năm học 2013-2014, trường luôn đạt danh hiệu

trường tiên tiến.

Một trong những giải pháp để đạt được những kết quả trên là do nhà

trường làm tốt công tác “XHH giáo dục” (một trong những bài học kinh nghiệm

của trường trong nhiều năm học).

1.1. Những thuận lợi cho nhà trường phát triển sự nghiệp giáo dục -Từ khi mới thành lập đến nay Trường THPT Đinh Bạt Tụy luôn nhận được sự

quan tâm, giúp đỡ của Sở giáo dục và Đào tạo Nghệ An, Huyện Ủy, UBND

huyện Hưng Nguyên và của chính quyền các xã thị trấn trong và ngoài huyện.

- CBGV,NV trong nhà trường trẻ, năng động, đoàn kết, có ý thức tổ chức kỷ luật

cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn có ý thức phấn đấu trong công tác và xây

dựng nhà trường

- Học sinh ngoan, có ý thức. An ninh trường học được giữ vững

- Là trường ngoài công lập có cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm cao hơn nên nhà

trường chủ động trong việc xây dựng các kế hoạch để huy động, đồng thời cũng

dễ áp dụng cho việc khen thưởng, xử lý cá nhân, tập thể vi phạm

- Nhà trường tạo được uy tín cao trong nhân dân. Chế độ công khai làm tốt,

minh bạch.

- Trường mang tên cụ Đinh Bạt Tụy là vị trạng nguyên triều Lê, nhà nghèo

nhưng hiếu học và học giỏi vì vậy có nhiêu thuận lợi trong việc giáo dục truyền

thống cho các thế hệ học trò.

1.2. Khó khăn

- Do nguồn học sinh giảm tự nhiên, bên cạnh đó công tác phân luồng sau tốt

nghiệp THCS đã làm giảm quy mô trường lớp. Số lượng lớp và học sinh giảm

hàng năm, chất lượng đầu vào của học sinh ngày càng thiếu và yếu, Số lượng

CBGV,NV vẫn giữ nguyên, số tiết dạy ít, trong khi đó không có phụ cấp thâm

niên, không có phụ cấp đứng lớp, chế độ dóng BHXH chỉ đóng được theo mức.

Vì vậy đời sống rất khó khăn, không ổn định nên Giáo viên còn phải làm thêm,

không có nhiều thời gian đầu tư sâu vào chuyên môn.

- Vùng tuyển sinh của nhà trường hầu hết là các xã thuần nông, diện tích đất

canh tác hẹp, mức sống của nhân dân còn nghèo, thu nhập còn hạn chế, chủ yếu

là nhờ nông nghiệp, nên việc thực hiện xã hội hóa giáo dục còn khó khăn, khả

năng đóng góp của các bậc phụ huynh còn hạn chế. Cơ sở vật chất còn thiếu

chưa có phòng học, phòng làm việc cao tầng nên việc huy động học sinh đến

trường chưa được cao, có năm chưa hoàn thành chỉ tiêu tuyển sinh.

- Đội ngũ giáo viên đa số trẻ về tuổi đời và tuổi nghề, không có các giáo viên

thực sự có chất lượng để nâng thương hiệu. Đội ngũ không ổn định, mức lương

nhà trường chi trả hàng tháng chỉ tính được theo tiết, giáo viên đời sống còn gặp

nhiều khó khăn không yên tâm công tác, có cơ hội là thuyên chuyển hoặc nghỉ

việc…làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Sự

giảm sâu sĩ số cũng như số lớp hàng năm, thêm vào đó không có một sự quan

tâm nào về cơ chế chính sách cho các trường ngoài công lập do vậy giáo viên

thiếu niềm tin vào sự nghiệp phát triển của nhà trường.

- Một bộ phận phụ huynh học sinh còn băn khoăn chưa tin tưởng vào kết quả

giáo dục của trường. trong khi đầu ra của ngành giáo dục nói chung còn rất

nhiều hạn chế.

- Về cơ sở vật chất : CSVC ngày càng xuống cấp trong khi không có nguồn

kinh phí để cải tạo, sửa chữa, tiền xã hội hóa hàng năm chỉ đủ sửa chữa nhỏ.

Phòng lớp học còn chưa đủ chuẩn, đủ diện tích cho học sinh vui chơi học tập

theo qui định song sân bãi chưa đẹp, đồ dùng dạy học còn chưa đa dạng, chưa

đồng bộ, chất lượng kém, hiệu quả sử dụng chưa cao

2. Một số kết quả đạt được

2.1. Phát triển đội ngũ Đội ngũ giáo viên là lực lượng giáo dục chủ yếu, quan trọng nhất, là

người quyết định chất lượng Đào tạo trong nhà trường. Do vậy nhiều năm qua

lãnh đạo nhà trường luôn chú ý việc phát triển đội ngũ giáo viên. Ngày đầu

thành lập trường chỉ có 14 giáo viên trong đó có 06 giáo viên trẻ cơ hữu, 02 giáo

viên về hưu và 06 giáo viên thỉnh giảng, chưa có Giáo viên trên chuẩn. Đến hôm

nay nhà trường đã có 5/23 CBGV là thạc sĩ. 02/02 CBQl có trình độ thạc sĩ. Để

họ yên tâm công tác nhà trường đã đề ra chủ trương, các biện pháp động viên,

kích thích vật chất tinh thần cho đội ngũ giáo viên như: Cố gắng đảm bảo chế độ

tiền lương tối thiểu; tạo điều kiện cả về thời gian và vật chất để giáo viên học tập

nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong tập

thể sư phạm; xây dựng bầu không khí thuận lợi, cộng sự cao. Phát hiện và bồi

dưỡng các giáo viên trẻ có chuyên môn tốt, đạo đức tốt, tâm huyết với nghề với

nhà trường để quy hoạch đào tạo vào đội ngũ các bộ quản lý cũng như các tổ

chức đoàn thể, các tổ chuyên môn, từ đó giáo viên trẻ có động lực để phấn đấu

Muốn có trò giỏi thì phải có thầy giỏi, do vậy nhà trường đặt ra mục tiêu

phấn đấu cho tập thể cán bộ giáo viên là: Đã là thầy, cô giáo của Trường THPT

Đinh Bạt Tụy phải có ý chí phấn đấu dạy khá, giỏi, nâng cao chuyên môn,

nghiệp vụ. Xác định “chất lượng của nhà trường là danh dự của bản thân

mình”. Phấn đấu có học sinh giỏi, học sinh thi đỗ vào trường đại học, cao đẳng,

trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đó là niềm tin của học trò, cha mẹ học

sinh đối với mái trường THPT Đinh Bạt Tụy.

Hàng năm nhân dịp ngày tổng kết năm học nhà trường tổ chức trao

thưởng, vinh danh cho các Giáo viên có thành tích trong công tác, Do vậy trong

nhiều năm qua, mỗi thầy, cô giáo đã tự ý thức xây dựng kế hoạch tự học, tự bồi

dưỡng để trở thành người thu nhận và sàng lọc nhiều kênh thông tin và chống

nhiễu để cung cấp cho các em những thông tin chuẩn xác. Tận tâm dạy dỗ các

em học sinh để các em an tâm, không tự ty, chán nản khi học trong mái trường

ngoài công lập

Bảng thống kê quá trình phát triển đội ngũ giáo viên

Đội ngũ GV Giáo Đại Thạc Nhân Ghi Tổng số BGH viên học sĩ viên chú Năm học

15 14 1 14 0 1999- 2000

24 25 1 25 0 2 2000 – 2001

30 28 1 28 0 3 2001 – 2002

46 41 2 41 0 3 2002 – 2003

47 48 2 47 1 3 2003– 2004

48 47 2 46 Đã 3 2004 – 2005

chuyển

2 4 2005 – 2006 47 47 46 0

2006 - 2007 45 2 46 45 01 4

2007 - 2008 46 3 46 45 01 5

2008 – 2009 46 3 44 42 2 5

2009 – 2010 46 2 39 37 2 5

2010 – 2011 38 2 31 26 5 5

2011 – 2012 38 2 31 26 5 5

2012 – 2013 38 2 31 25 6 5

2013 – 2014 36 2 29 25 8 5

2014– 2015 36 2 29 21 8 5

2015-2016 35 2 28 21 7 5

2016-2017 33 2 26 20 6 5

2017-2018 33 2 26 20 6 5

2018-2019 33 2 26 20 6 5

2019-2020 33 2 26 20 6 5

2020-2021 33 2 26 20 6 5

2021-2022 30 2 23 18 5 5

2.2. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục xã hội; tăng cường trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân đối với sự nghiệp giáo dục Trong nhiều năm qua Ban giám hiệu, Công đoàn, Đoàn thanh niên, trong

nhà trường đã chủ động vận động, tăng cường trách nhiệm của các tổ chức và cá

nhân trong huyện để phát triển sự nghiệp Giáo dục tạo cho học sinh có môi

trường thuận lợi để an tâm học tập.

Cụ thể hàng năm trường phối hợp với công an tỉnh, công an huyện tổ

chức các đợt học tập và thi tìm hiểu về pháp luật về ATGT, Luật an ninh mạng

và TNXH... nhân ngày 22/12 mời hội CCB Huyện – Các anh hùng QĐNDVN

về nói chuyện, giao lưu với học sinh. Đoàn thanh niên duy trì tốt các hoạt động

giao lưu với các đơn vị bạn trong huyện, thành lập và duy trì hoạt động nhiều

câu lạc bộ VHVN,TDTT

Với cha mẹ, học sinh nhà trường xây dựng thang điểm chấm hạnh kiểm

và thống nhất từ đầu năm học. Thống nhất các khoản thu, công khai minh bạch.

Qua đó các gia đình học sinh thấy được trách nhiệm của mình trong việc giáo

dục học sinh.

Với phương châm “Mỗi mét vuông đều mang ý nghĩa giáo dục”. Trong

thời gian qua, đặc biệt là những năm gần đây nhà trường đã tranh thủ vận động

được nguồn tài chính Xã hội hóa từ cha hội cha mẹ học sinh, từ các tổ chức

đoàn thể chính trị xã hội trong và ngoài nhà trường. Có thể nói nhà trường đi lên

thành công từ con số 0. Từ chỗ còn phải thuê phòng học, đến hôm nay nhà

trường đã có cơ ngơi gồm 02 đãy nhà cấp 4 với 12 phòng học, 02 dãy nhà làm

việc với 07 phòng và 03 phòng thí nghiệm, thực hành đảm bảo đủ yêu cầu tối

thiểu, sân chơi, bãi tập đầy đủ. Xung quanh trường và trong sân trường là hệ

thống những cây cảnh, cây bóng mát đủ chổ cho học sinh vui chơi, sau giờ học

căng thẳng... phía sau lớp học là sân vận động có sân bóng đá mini, sân bóng

chuyền, hố nhảy cao, nhảy xa, sân đẩy tạ, đường chạy ngắn, chạy dài,... Rất

thuận lợi cho giáo dục thể chất học sinh, giáo viên.

Bảng thống kế các mặt hoạt động xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh

Tổ chức Thi tìm Mít tinh các hoạt Ủng hộ hiểu PL, nói Phong trào Cây bóng động (số nhân ATGT, chuyện thi đua học mát, cây lượt) đạo từ TNXH, truyền tốt cảnh thiện HIV, thống AIDS.. Năm học

1999- 2000 trồng 12 cây 0 2 0 0 xoài

2000 – Trồng 20 cây

2001 0 2 0 1 xoài, bàng,

hoa sũa

2001 – Trồng 15 cây

2002 1 2 0 2 Keo xanh,

Phi lao, Xoan

2002 – Trồng mới

2003 2 2 1 2 15 cây Keo

lá tràm

2003– Trồng mới 2 3 1 2 2004 18 cây xoài

2004 – Trồng mới 3 3 2 3 2005 10 cây xoài

2005 – Trồng mới

2006 10 cây bàng, 2 3 1 3 phượng vĩ,

bằng lăng

2006 - Xây 16 bồn 2 3 1 2 2007 cây cảnh,

2007 - Trồng mới

2008 12cây, xây 2 3 2 1 dựng 01

vườn hoa

2008 – Trồng mới 3 3 2 2 2009 (thay thế 10

cây xoài bị

hỏng)

2009 – Trồng mới

2010 15 cây xoài

2 4 1 3 và xây dựng

01 vườn hoa

cây cảnh

2010 – Trồng mới

3 3 3 12 cây lộc 1 2011

vừng

2011 – Xây vườn 3 3 2 3 2012 hoa cây cảnh

2012 – Trồng mới

2013 10 cây xoài 3 3 2 3 (thay thế cây

keo lá tràm)

2013 – Trồng mới

3 4 2 3 10 cây lộc 2014

vừng

2014– Trồng mới

2015 18cây và đắp

3 4 2 3 01 đảo sinh

thái trồng

cây cảnh

2015-2016 Trồng mới

3 3 0 1 12 cây xoài,

03 cây sữa

2016-2017 Trồng mới

12 cây lộc 3 2 2 2 vừng. 02 cây

cau vua

2017-2018 Làm vườn

thực hành 2 3 1 2 môn nghề

làm vườn

2018-2019 Mua 12 chậu

cảnh (hoa 3 3 2 2 giấy, vạn tuế,

râm bụt)

2019-2020 Mua 10 chậu

cảnh (Hoa 2 1 1 3 sứ, hoa giấy,

Mẫu đơn)

2020-2021 Thay 10 cây 2 0 1 0

xoài, trồng

mới 10 cây

ban Osaka

Nhật, Đỗ

Quyên

2021-2022 Trồng mới 4 0

cây ban

Osaka, trồng

mới vườn

hoa cây cảnh

2.3. Xây dựng CSVC, trang thiết bị thực hành thí nghiệm

Ngoài việc tranh thủ tiền xã hội hóa hàng năm, nhà trường còn tăng cường

tích lũy tài chính từ học phí cũng như thắt chặt các khoản chi tiêu, các nguồn hỗ

trợ khác để đầu tư xây dựng CSVC, cải tạo khuôn viên, cảnh quan nhà trường.

Động viên các Đoàn thể, các tổ chức, cá nhân, để xây dựng các công trình của tổ

chức mình. Những buổi đầu thành lập trường đầy khó khăn thử thách. từ chỗ

phải học thuê địa điểm trường THPT Thái Lão 01 học kỳ I, Trường THCS Hưng

Tân học kỳ II của năm học 1999 -2000. Bằng sức lao động của thầy và trò, cha

mẹ học sinh và sự quan tâm của UBND Huyện Hưng Nguyên, UBND Xã Hưng

Tân đã tạo điều kiện giao quỹ đất 5000m để đến ngày 31/7/2000 nhà trường

tiến hành xây dựng bằng nguồn vốn vay ngân hàng chính sách. Đến 15/9/2000

nhà trường đã tổ chức lễ khai giảng năm học mới 200-2001 với 08 phòng học

nhà cấp 4 lợp ngói. Có thể nói trường THPT Dân lập Hưng Nguyên nay là

THPT Đinh Bạt Tụy chính thức ra đời từ ngày đó. Đến hè năm 2001 nhà trường

xây thêm 04 phòng học cấp 4. hè năm 2003 xây nhà văn phòng, nhà các phòng

làm việc bằng mái via. Khuôn viên, các phòng cơ bản dược định hình từ năm

2003

Dưới sự lãnh đạo của chi ủy, sự đồng thuận của CBGV,NV, sự ủng hộ

của phụ huynh có con học tại trường trong nhiều thế hệ, nhà trường đã mua

thêm 7000m đất từ trường THCS Hưng Tân sau khi trường THCS Hưng Tân

sáp nhập với trường THCS Hưng Thông, đến nay nhà trường đã có 12.000m có

đủ sân chơi bãi tập, cơ bản có đủ các phòng tối thiểu, kiên cố để thực hiện nhiệm

vụ dạy và học an toàn:

Bảng thống kê cơ sở vật chất của trưởng từ khi thành lập trưởng đến nay

Tổng số Phòn CSVC Phòn phòng Đầù Các công trình g Máy g học và sách Bảng khác học vi chức phòng thư từ (Ngoài xây dựng cấp tính năng chức viện phòng học) Năm 4 học năng

1999- 0 0 0 0 0 0 Thuê địa điểm học

2000 tại THPT Thái

Lão và THCS

Hưng Tân

2000 – 8 0 8 0 01 0 Xây 08 phòng học

2001 cấp 4, Mua bàn

ghế cho tất cả các

phong học. xây

nhà vệ sninh cho

GV,học sinh. X ây

nhà xe học sinh.

Nhà xe Giáo viên

(đến năm 2010 bị

bão, lụt làm sập

hoàn toàn)

2001 – 10 0 10 120 01 0 Xây 04 phòng học

2002 cấp 4, Mua bàn

ghế cho tất cả các

phong học.

2002 – 15 0 15 211 02 0 Xây dựng khu nhà

2003 hiệu bộ và các

phòng chức năng

Thay bảng xi

măng, Mua 12

bảng từ và lát gạch

12 phòng học

(gạch Bát Tràng)

2003– 20 0 20 250 02 0 Xây tường rào bao

2004 qaunh phía Đông

Bắc (giáp với

trường THCS Hưng Tân,Lát

gạch, và đổ sân bê

tông toàn bộ sân

trường

2004 – 20 0 20 03 12 Xây dựng phòng 300 2005 học thực hành máy

tính, phòng văn

phòng nhà trường

2005 – 20 01 21 03 12 Trang bị phòng

2006 350 học thực hành

môn tin học gồm

25 máy

2006 - 25 01 26 28 18 Mua thêm diện

2007 tích của trường C2 450 Hưng Tân và dãy

phòng học gồm 05

phòng cấp 4, 01

dãy ký túc, 01 dãy

nhà làm việc

2007 - 25 01 26 29 18 Xây xong toàn bộ

2008 tường rào bao

quanh nhà trường 475 kể cả khu vực mở

rộng, San lấp

900m2 ao sâu trên

diện tích mua lại

từ trường THCS

Hưng Tân

2008 – 25 01 26 512 29 18 Xây mới Gara xe

2009 giáo viên, Nhà vệ

sinh giáo viên

2009 – 25 01 26 30 18 Lát gạch Bloc toàn

1818 bộ khu vực trước 2 2010

dạy phòng học .

Nâng và lát gạch

sân văn phòng

2010 – 25 01 26 30 18 Xây mới 15 phòng

2011 để xe học sinh

kiên cố mái 1890 Phibroximang (Do

dãy nhà xe cú bị

sập)

2011 – 25 01 26 30 18 Cải tạo phòng học

2012 cũ mua lại từ

trường THCS 2000 Hưng Tân, Đổ

dầm thông phòng

2 phòng liền kề

cải tạo phòng

thực hành

2012 – 24 02 26 30 18 Đổ dầm thông

2000 phòng 2 phòng 2013

liền kề cải tạo

phòng thực hành

(từ 05 phòng còn

03 phòng)

2013 – 23 03 26 30 18 Xây vườn hoa

2014 mang tên cụ Đinh

Bạt Tuỵ, Xây

vườn hoa 200m2

giũa 2 dãy phòng 2100 học. Đổ đường

Btong từ cổng

trường vào khu

vực nhà xe học

sinh với chiều dài

185m chiều rộng

3m

2014– 23 03 26 30 18 Xây mới công

2015 chính và vườn

hoa phía trong

cống chính, Cải

tạo, nâng cấp hệ

thống điện toàn 2320

trường, Thay toàn

bộ quạt trần cũ

bắng quạt mới

điện cơ và bổ sung

thêm 4 quạt treo

tường trong từng

lớp

2590 2015- 23 03 26 30 18 Đảo ngói, đóng

trần tôn dưới ngói 2016

toàn bộ 02 dãy

phòng học 14

phòng

2016- 23 03 26 30 23 Đảo ngói thay rui,

2017 mè, đóng trần tôn

2670 dưới ngói của dãy

phòng làm việc và

thực hành

2017- 23 03 26 30 23 Nâng cấp, cải tạo,

2018 nới rộng thêm

50% diện tích

phòng nhà xe học 2789 sinh, Thay toàn bộ

ngói Proximang

bằng tôn nhà xe

học sinh

2018- 23 03 26 30 23 Xây mới, lát, ốp

2019 nhà vệ sinh học

sinh, làm đường ra 3017 từ dãy phòng học

đến khu vực vệ

sinh

2019- 23 03 26 30 23 Đổ sân B tong học

2020 GDTC. Đổ đường

B tông trước dãy

nhà xe, xây dựng 3234 vườn hoa trước

cổng trường, nâng

cấp hệ thống

tường rào, dây

kẽm gai

2020- 23 03 26 30 23 Mua săm 25 máy

2021 tính để thay thế

máy đã hỏng 3421 Lát toàn bộ nền và

sơn lại 12 phòng

học ,

2021- 23 03 26 30 23 Lát nền, ốp tường

2022 dãy phòng chức

năng, phòng hiệu 3572 bộ. Trong năm học

2021-2022 nhà

trường đã xây

dựng kế hoạch

mua 09 ti vi màn

hình phẳng cỡ lớn

(hoặc máy chiếu)

để trang bị cho tất

cẩ các phòng học.

3. Hoạt động Xã hội hóa giáo dục của trường THPT Đinh Bạt Tụy

3.1. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền cho phụ huynh cũng như cộng đồng Người cán bộ quản lý hàng năm phải làm tốt công tác xây dựng kế hoạch

mua sắm, sửa chữa, cũng như các công trình xây dựng mới. Dự trù kình phí phù

hợp. Nắm bắt thông tin từ tình hình chung của các trường cùng loại hình trong

địa bàn tỉnh Nghệ An, cũng như các trường trong huyện để từ đó có biện pháp

tuyên truyền, vận động phù hợp đến với phụ huynh, học sinh thông qua hội nghị

phụ huynh đầu năm học, bên cạnh đó đẩy mạnh hoạt động nêu gương tốt về

công tác XHH giáo dục. Kế hoạch mua sắm, sửa chữa phải được xây dựng trước

khi nghỉ hè thông qua BCH hội phụ huynh để nhà trường vận động trước khi

nghỉ hè để có kinh phí thực hiện trong thời gian nghỉ hè. Đảm bảo vào năm học

mới là xong tất cả các hạng mục, đảm bảo an toàn, môi trường sạch sẽ cho thầy

và trò

3.2. Xây dựng kế hoạch để huy động cộng đồng BGH Nhà trường xây dựng kế hoạch dựa trên sự giải đáp như: Thành lập

ban vận động Xã hội hóa giáo dục với đầy đủ các thành viên theo yêu cầu. Xác

định và công khai mục tiêu huy động là gì? Đối tượng nào? thời gian? Phân

công ai vai trò chủ thể huy động? Kế hoạch vận động phải rõ ràng, nếu hạng

mục công trình nào lớn thì thực hiện vận động xã hội hoá trong nhiều năm để

vừa sức dân.

3.3. Tạo lập uy tín, niềm tin thông qua khẳng định uy tín chất lượng của nhà trường Cán bộ quản lý phải phát huy năng lực, uy tín của mình. Điều đó thể hiện

bằng phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chất lượng giáo dục của Nhà

trường. Có kế hoạch sử dụng các nguồn lực huy động một cách hợp lý, đúng

mục đích, dân chủ, công khai, có hiệu quả.

3.4. Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên đặc biệt là đội ngũ GVCN của các lớp Giáo viên chủ nhiệm các lớp là "Cầu nối, là đầu mối giữa phụ huynh học

sinh và Nhà trường". Vì vậy cần thường xuyên liên lạc giữa giáo viên chủ nhiệm

lớp với các bậc phụ huynh học sinh bằng nhiều hình thức như trao đổi trực tiếp,

điện thoại, qua hòm thư góp ý, qua các cuộc họp phụ huynh học sinh, qua các

ngày hội ngày tết, hội thi của trẻ, qua bản tin thông báo.....

3.5. Phát huy vai trò của hội cha mẹ học sinh, phụ huynh học sinh, gia đình học sinh Trách nhiệm của người làm công tác quản lý là phát hiện và tận dụng vai

trò của Hội Cha Mẹ Học Sinh- đội ngũ các nhà "Tư vấn tự nguyện" để làm

công tác XHH giáo dục.Việc làm đó là cả một quá trình kinh nghiệm và là một

Nghệ thuật cũng như khả năng tạo dựng niềm tin của người quản lý, tạo mối

quan hệ giữa đối tượng và chủ thể có sự gắn kết. Tranh thủ phát huy sức mạnh

của cựu học sinh các thế hệ để vận động các năm kỷ niệm trường dịp năm tròn,

chẵn. Đây là lực lượng tạo nên sức mạnh to lớn trong việc hỗ trợ tri ân nhà

trường khi các em đã trưởng thành. Để làm được điều này cần phải làm tốt công

tác truyền thông, cũng như vai trò của GVCN các thế hệ. Bên cạnh đó công tác

công khai minh bạch nguồn vận động phải được làm tốt. Những công trình, vật

chất vận động được

3.6. Làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo địa phương, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội trong và ngoài huyện Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ tích cực của lãnh đạo địa phương, các tổ

chức đoàn thể chính trị xã hội trong huyện, người cán bộ quản lý phải làm tốt

công tác tham mưu. Vì vậy người cán bộ quản lý cần chú ý tham mưu đến, Đảng

ủy, HĐND, UBND, huyện Hưng Nguyên cũng như các xã, thị trấn. Có sự liên

kết chặt chẽ thường xuyên với Hội khuyến học và UBMT Tổ quốc huyện là các

tổ chức có vai trò rất lớn trong việc huy động cộng đồng, tận dụng đến các yếu

tố này trong quá trình huy động cộng đồng. Ngoài ra tranh thủ sự qaun tâm, hỗ

trợ của Sở GD&ĐT Nghệ An, công đoàn giáo dục Nghệ An để có sự dịnh

hướng các tổ chức, cá nhân giúp đỡ CSVC, trang thiết bị dạy học thí nghiệm

cũng như những sự qua tâm đến đời sống của CBGV,NV trong nhà trường

(trong năm học 2020-2021 Giám đốc sở GD&ĐT Nghệ An đã phối hợp với 01

công máy tính trao tặng 05 máy tính cho nhà trường và nhiều phần quà để động

viên đến nhà trường để nhà trường khắc phục khó khăn đặc biệt là thời gian bị

ảnh hưởng do dịch Covid-19)

3.7. Thực hiện tốt quy định gắn kết ba môi trường giáo dục Nhà trường - Gia đình - Xã hội. Người cán bộ quản lý làm tốt vai trò đầu

mối, tận dụng cơ hội ngày lễ, ngày truyền thống của Ngành, của trường để mời

lãnh đạo địa phương, Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội phụ huynh học sinh đến dự

tạo cơ hội giao tiếp. Nhà trường chủ động tham gia vào các hoạt động của địa

phương và duy trì tốt mối quan hệ gắn bó với địa phương, các ban ngành đoàn

thể, các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn để huy động nhiều nguồn lực cho Nhà

trường.

3.8. Nâng cao uy tín, năng lực của Người cán bộ quản lý Uy tín của Người cán bộ quản lý trong công tác XHH giáo dục là rất quan

trọng. Vì vậy phải thường xuyên tự bồi dưỡng để làm tốt vai trò đầu mối của

mình trong môi trường xã hội địa phương. Người cán bộ quản lý có uy tín, có

năng lực là nguồn kích thích cho sự tham gia của cộng đồng trong công tác

XHH giáo dục.

3.9. Cần phối hợp chặt chẽ các tổ chức đoàn thể, các lực lượng xã hội để giáo dục đạo đức, chăm sóc sức khỏe cho học sinh Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho trẻ cần có sự phối hợp chặt chẽ với

các đoàn thể: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Công an, phối hợp chặt chẽ với trạm

y tế xã để sơ cứu khi cần thiết

4. Một số vấn đề tồn tại - Tồn tại trong việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp

giáo dục giữa nhà trường với giáo dục ở gia đình và ngoài xã hội,....

- Chưa khai thác hết các tiềm năng của tổ chức cá nhân ngoài xã hội tham

gia phát triển trường.

- Nhà trường chưa tạo được phong trào để vận động được nguồn tài chính hỗ trợ

CSVC từ bên ngoài, chủ yếu mới đến từ một số doanh nghiệp và UBMT tổ quốc huyện

Hưng Nguyên và hội khuyến học huyện

- Chất lượng giáo dục của nhà trường ở một số thời điểm có giảm sút đặc

biệt là chát lượng giáo dục đại trà, nên ảnh hướng tới sự gắn bó của Nhà trường

và cộng đồng.

III. TÁC DỤNG THỰC TIỄN

1.Về cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học

Nhà trường đã xây dựng các phòng học đầy đủ tiện nghi, trang thiết bị đồ

dùng dạy học. Trường lớp sạch sẽ, an toàn, thoáng mát, có đủ ánh sáng, đủ diện

tích và các đồ dùng dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động giáo dục.

Trường có nhà vệ sinh đạt yêu cầu. khu vực vệ sinh được tách riêng biệt của

thầy và trò, bố trí cách xa phòng học và dãy phòng làm việc, đường đi khép kín

từ phòng học ra tận nơi đảm bảo cho học sinh không bị nắng mưa, đảm bảo vệ

sinh sạch sẽ

Trong năm học nhà trường đã vận động XHH trong học sinh đang học

được 410.000.000đ qua đó đã thực hiện

nâng cấp cải tạo 02 dãy phòng học: Tổng kinh phí xây dựng cải tạo cơ sở

vật chất là : 235.763.800đ

Xây dựng vườn hoa cây cảnh trị giá : 44.573.800đ.

Huy động được cựu học sinh các thế hệ 01 phòng máy tính 25 máy với số

tiền: 300.000.000 (Ba trăm triệu đồng)

2.Về xây dựng môi trường giáo dục

-Tuyên truyền với các bậc phụ huynh, giáo viên, học sinh cùng đóng góp,

mua, trồng hệ thống bồn hoa, cây cảnh trị giá hơn 4.500.000đ.

Bồn hoa : 12 bồn

Cây cảnh : 20 cây

Trường có cây xanh bóng mát, bồn hoa, cây cảnh sắp xếp hợp lý, bảo đảm

mỹ quan

Tổng số cây xanh bóng mát: 85 cây ( Cây cau vua, phượng vĩ, lộc vừng,

cây sữa, cây Xoài…)

Tạo cảnh quan sư phạm nhà trường" Xanh - Sạch - Đẹp". Mặc dù là dãy

phong học, làm việc đều là cấp 4 song đảm bảo an toàn, cảnh quan luôn thoáng

mát, sạch sẽ, nhiều cây xanh, cây hoa, cây cảnh tạo nên môi trường làm việc,

học tập thân thiện

3.Chất lượng đội ngũ và chất lượng giáo dục

3.1.Chất lượng đội ngũ

- Tống số CBGVNV : 32 đc trong đó : CBQL : 02

Giáo viên : 25 trong đó có 04 thỉnh giảng

Nhân viên : 05.

- Trình độ chuyên môn : CBQL : Đạt trên chuẩn : 2/2 đc = 100%

Giáo viên : 25/25 đc đạt chuẩn = 100 %

Trong đó: Trên chuẩn : 07/25 đc = 28 %

- Làm tốt công tác tuyên truyền vận động đối với các bậc phụ huynh, các

ban ngành địa phương và đội ngũ giáo viên trong trường.

- Phát động phong trào thi đua " Dạy tốt - Học tốt " trong nhà trường để có

sự thi đua giữa các tổ, các lớp, các cá nhân với nhau. Dự giờ, xây dựng tiết mẫu,

tổ chức thực tập theo từng chủ đề, chủ điểm, từng chuyên đề…

- Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá, phân loại giáo viên công bằng,

dân chủ, công khai và có biện pháp động viên kịp thời.

- Tổ chức hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, làm tự làm đồ dùng, tranh

ảnh nhằm đổi mới cách dạy, cách học, bình xét thi đua hàng tháng.

- Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ giáo viên

- Xây dựng tập thể sư phạm đoàn kết, thống nhất, đặc biệt là sự thống nhất

trong việc chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường.

- Kết quả và chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị trong nhà

trường :

+ Chi bộ : Thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường. Thực hiện tốt

nhiệm vụ năm học

+ Công đoàn : Hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức năng và vai trò của công

đoàn, tham mưu, tuyên truyền, vận động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

chính đáng cho cán bộ giáo viên, tham gia các hội thi do ngành tổ chức.

+ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh : Đoàn thanh niên luôn làm tốt vai trò nòng

cốt, là lực lượng xung kích trong các hoạt động mũi nhọn của nhà trường, luôn

đi đầu trong các phong trào thi đua. Ngoài việc phát hiện các nhân tố điển hình

giới thiệu cho chi bộ Đảng thì Đoàn thanh niên đóng vai trò quyết định đến

phong trào VHVN,TDTT và an ninh trường học.

3.2.Chất lượng Giáo dục a. Chất lượng văn hóa: (Học Kỳ I)

- 100% các lớp thực hiện tốt chương trình Giáo dục

Sĩ số Khá Đạt

Khối lớp Khối 12 156 SL 125 % 80.1% SL 18 Chưa đạt % SL

Khối 11 92 49 53,2% 34 04 4.3% 05 % 11.5 % 37%

Khối 10 136 94 69.1% 36 06

Tốt SL % 8.3 13 % 5,4 % 4.4 % 26.4 %

268 69,7% 88 23% 4 1% Trường 24 384

6.2 % b. Chất lượng đạo đức

Sĩ số Tốt Khá Đạt

%

156 SL 141 90.4% SL 15 % 9.6% SL 0 % Chưa đạt SL % 0

192 43 46.7% 36 39.1% 8.7% 4 4.35% 8

136 79 58% 51 37.5% 4,5% 6

263 68,5% 102 26,5% 14 3.6% 4 1%

Khối lớp Khối 12 Khối 11 Khối 10 384 Trường c.Các hoạt động khác

Phối kết hợp với các đoàn thể trong nhà trường như: Hội phụ nữ, Đoàn

thanh niên, Hội cha mẹ học sinh cùng tham gia thực hiện phong trào " Xây dựng

trường học thân thiện - Học sinh tích cực".

Bảng thống kê các công trình vận động

Công trình Tiền hỗ trợ Đội ngũ

GV Hội Mặt Đoàn TN Công đoàn Hội phụ huynh Khuyến trận học

Số Số Số Số Số Số tiền tiền tiền Triệu Triệu công công Công (triệu Năm (triệu (triệu đồng đồng trình trình trình đ) học đ) đ)

0 1999-

2000

1 23 2000 –

2001

1 6.7 1 40 2001 –

2002

1 55 2002 –

2003

1 25 2003– 1 3

2004

0 2004 – 1 7

2005

1 32 2005 – 1 3.1

2007

1 20 2007 - 1 2.2

2008

2008 – 1 2,1 1 12 1 27

2009

2009 – 1 2.3 125 3 50(lũ 1

2010 lụt)

1 45 2 2010 – 1 2 3

2011

1 20 2 2011 – 1 2.5 3,5

2012

1 48 2 2012 – 1 2.3 3

2013

1 45 2 2013 – 1 1.8 2.8

2014

2014– 1 1 45.5 2.5 35 2 1 3

2015

2015- 3 1 3 1 1 35.8 5 2,5

2016

1 3.5 1 3.5 1 32.6 3.6 4 2016-

2017

1 2.7 1 3.3 1 67(chia 4.5 4,5 2017-

thành 2 2018

năm 1 3,5 1 4,7 5 2018- 5

2019

2019- 1 3.8 1 5 1 45.7 10 6

2020 kỷ

niệm 20

năm

thành

lập

trường

1 2,4 1 3 Không vận 5 2020- 5

động 2021

Do ảnh hưởng của dịch Covid nên nhà trường 6 2021- 3

không vận động 2022

PHẦN III: KẾT LUẬN

1. Kết luận Thực tiễn thành công của công tác xã hội hóa giáo dục tại trường THPT

Đinh Bạt Tụy –là một trường ngoài công lập đóng ở địa bàn khó khăn, không có

sự hỗ trợ nào về tài chính của nhà nước, trong khi đó mức học phí cao hơn so

với các trường công lập đã một lần nữa chứng tỏ rằng,

“Dễ trăm lần không dân cũng chịu

Khó vạn lần dân liệu cũng xong”

Để làm tốt công tác xã hội hóa ở trường ngoài công lập bên cạnh những nét

chung cơ bản như các trường cùng cấp học thì cũng có những đặc thù riêng.

Nhà trường huy động mọi nguồn lực của địa phương, của phụ huynh để làm

công tác giáo dục, lấy chất lượng và hiệu quả giáo dục của nhà trường để làm

căn cứ thực tiễn mà thuyết phục và huy động các ban ngành, đoàn thể và phụ

huynh, học sinh các thế hệ nhân họp mặt truyền thống vào những ngày lễ, hội kỷ

niệm trường, hội khoá….. Bên cạnh việc xây dựng kế hoạch vận động bài bản,

phù hợp, vừa sức thì một giải pháp để phụ huynh hài lòng đó là chia nhỏ ra

thành 2 đợt trước khi nghỉ hè và đầu năm học mới, những gia đình có từ hai con

trở lên học tại trường chỉ thu 1 em, hay những học sinh quá khó khăn thì miễn

đóng, từ những việc làm hợp lòng dân trong nhiều năm qua việc vận động không

gặp khó khăn, phụ huynh đồng thuận cao kể cả những phụ huynh là ban hành

giáo của các giáo xứ trong huyện.

Xuất phát từ cơ sở khoa học, phân tích thực trạng, tác giả đã lý giải các

biện pháp quản lý nhằm nâng cao công tác “XHH Giáo dục” ở trường THPT

ngoài công lập. Như vậy mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đã hoàn

thành, tác giả đã mạnh giạn đề xuất được 5 biện pháp quản lý nhằm nâng cao

công tác “XHH Giáo dục” ở trường THPT là:

+ Tăng cường công tác tổ chức tuyên truyền cho cán bộ quản lý, giáo

viên, nhân viên, phụ huynh học sinh và học sinh về công tác “XHH Giáo dục”.

Định hướng chương trình hành động cho các tổ chức trong nhà trường để thực

hiện vận động hiệu quả, khoa học

+ Nâng cao vai trò của hiệu trưởng và giáo viên trong việc huy động cộng

đồng tham gia xây dựng và phát triển trường THPT.

+ Muốn các hoạt động “XHH Giáo dục” đạt kết quả cần phải có kế hoạch

hóa. Việc lập kế hoạch đó cần phải có căn cứ khoa học, phù hợp với hoàn cảnh,

điều kiện và tính đặc thù của địa phương và kế hoạch đó phải là một bộ phận

hữu cơ trong chương trình vận động năm học.

+ Làm tốt công tác công khai, minh bạch các nguồn tài chính, để phụ

huynh, học sinh, giáo viên, cũng như các tổ chức đoàn thể tin tưởng, từ đó tiếp

tục có được sự hỗ trợ cho những năm học tiếp theo.

+ Làm tốt công tác động viên khen thưởng và công tác tham mưu, phối hợp

Mặc dù đề tài này đã đề xuất được 5 biện pháp nhằm nâng cao công tác

“XHH Giáo dục” ở trường THPT ngoài công lập nhưng còn nhiều khía cạnh

khác chưa có điều kiện đề cập tới như:

- Bằng mọi hình thức của nhà quản lý giáo dục phải tạo môi trường cho

nhân dân thực sự làm chủ sự nghiệp giáo dục trên tất cả các mặt.

- Phải tiến hành “XHH Giáo dục” trong mối quan hệ với các xã thị trấn, với

lãnh đạo địa phương.

- Các trường ngoài công lập nói chung cũng như trường THPT Đinh Bạt

Tụy nói riêng chưa nhận được sự hỗ trợ từ cấp trên, các nguồn quỹ hỗ trợ giáo

dục để đảm bảo một phần nào đó về công bằng xã hội, vì học sinh ở trường

ngoài công lập ở các huyện hầu hết là con gia đình “yếm thế”, không có điều

kiện đi học, thêm, học nâng cao ở các cấp dưới, do vậy khi thi vào cấp 3 không

đậu các trường công lập

2. Một số ý kiến Từ thực tiễn nghiên cứu và chỉ đạo công tác “XHH Giáo dục” ở trường

THPT Đinh Bạt Tụy, chúng tôi có một số kiến nghị sau:

+ Đối với Bộ giáo dục và đào tạo: Tăng cường chỉ đạo, tuyên truyền hơn

nữa về giáo dục nói chung và công tác “XHH Giáo dục” nói riêng để cộng đồng

hiểu đúng đắn lợi ích về “XHH Giáo dục”. Cần có các giải pháp tháo gỡ giúp

các trường ngoài công lập có thể tồn tại và phát triển

+ Đối với Sở Giáo dục Đào tạo:

- Cần phải chỉ đạo các trường triển khai “XHH Giáo dục” với các nội

dung phù hợp đặc điểm của các bậc học, ngành học và lưu ý đến điều kiện, hoàn

cảnh của từng địa phương. Cần tham mưu với UBND tỉnh trong việc trích một

phần ngân sách hỗ trợ các trường ngoài công lập để khắc phục CSVC, trang

thiết bị thí nghiệm thực hành

- Có tổng kết, biểu dương khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có

thành tích cao trong công tác “XHH Giáo dục”, nhắc nhở những đơn vị, cá nhân

chưa làm tốt công tác “XHH Giáo dục” nhằm phát triển mạnh công tác “XHH

Giáo dục” trong toàn tỉnh.

+ Đối với trường THPT:

- Phải chủ động tiến hành “XHH Giáo dục”, phải coi mình là đầu mối của

việc triển khai “XHH Giáo dục” để tạo ra các nội dung cho các hoạt

động.“XHH Giáo dục” diễn ra

- Cần nâng cao hơn nữa vai trò của Hiệu trưởng, tập thể giáo viên trong

việc thực hiện công tác “XHH Giáo dục” diễn ra.

- Trong việc lập kế hoạch của năm học phải có căn cứ khoa học, phù hợp

với hoàn cảnh, điều kiện và tình đặc thù của địa phương và kế hoạch hóa công

tác “XHH Giáo dục” phải là bộ phận hữu cơ trong chương trình hành động của

năm học...

3. Khả năng và điều kiện áp dụng

Trên đây là những kết quả đã đạt được trong công tác xã hội hóa giáo dục

góp phần " Xây dựng trường học thân thiện - Học sinh tích cực" của trường

THPT Đinh Bạt Tụy trong năm học vừa qua.

Với nội dung và kết quả áp dụng thực tiễn trong công tác xã hội hóa giáo

dục nhằm tăng cường cơ sở vật chất " Xây dựng trường học thân thiện - Học

sinh tích cực". Tôi thiết nghĩ sáng kiến này có thể thực hiện rộng rãi ở tất cả các

trường THPT ngoài công lập, tùy theo đặc điểm của từng trường, từng địa

phương để áp dụng cho phù hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Văn kiện đại hội Đảng

2. Điều lệ trường trung học

3. Tài liệu hướng dẫn về công tác Xã Hội Hóa Giáo Dục

4. Tài liệu quản lý về giáo dục đào tạo dành cho cán bộ quản lý bậc THPT