intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

SKKN: Hỗ trợ kỹ năng “làm việc nhóm” đạt hiệu quả bằng cách ứng dụng vào thực tiễn chương trình Tin học khối 12

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:35

0
161
lượt xem
78
download

SKKN: Hỗ trợ kỹ năng “làm việc nhóm” đạt hiệu quả bằng cách ứng dụng vào thực tiễn chương trình Tin học khối 12

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

“Phương pháp dạy học truyền thống: thầy đọc – trò ghi” liệu có còn hiệu quả, phù hợp với đặt thù môn học hay không? Việc đổi mới phương pháp có phải cứ soạn hay tải toàn bộ nội dung dạy truyền thống qua phần mềm Power Point thêm một vài hiệu ứng rồi lên chiếu cho học trò xem là đổi mới? là phát huy tính tích cực của học sinh? Là hiệu quả?. "Làm sao để thay đổi cách học thủ động - phát huy tính tích cực của học sinh?". Thế còn bộ môn Tin học, khi máy tính là trọng tâm của môn học thì sao?. “Phương pháp dạy học bằng giáo án điện tử (có đầu tư) – liệu có áp dụng rộng rãi và thường xuyên được không?. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến “Hỗ trợ kỹ năng “làm việc nhóm” đạt hiệu quả bằng cách ứng dụng vào thực tiễn chương trình Tin học khối 12”.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Hỗ trợ kỹ năng “làm việc nhóm” đạt hiệu quả bằng cách ứng dụng vào thực tiễn chương trình Tin học khối 12

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LONG PHƯỚC Mã số: ____________ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HỖ TRỢ KỸ NĂNG “LÀM VIỆC NHÓM” ĐẠT HIỆU QUẢ BẰNG CÁCH ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC KHỐI 12 Thực hiện : Dương Thị Thanh Xuân Lĩnh vực nghiên cứu : Quản lý giáo dục :  Phương pháp dạy học bộ môn :  Phương pháp giáo dục :  Lĩnh vực khác :  Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN  Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác Năm học 2012 – 2013
  2. SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 1. Họ và tên: DƯƠNG THỊ THANH XUÂN 2. Ngày tháng năm sinh: 27/7/1978 3. Nam/nữ: Nữ 4. Địa chỉ: Trường THPT Long Phước – xã Long Phước - LT – ĐN 5. Điện thoại: 0918.149023 6. Email: duongthithanhxuan79@yahoo.com.vn 7. Chức vụ: Giáo viên 8. Đơn vị công tác: Trường THPT Long Phước II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: - Trình độ chuyên môn: Cử nhân - Năm nhận bằng: 2005 - Chuyên ngành đào tạo: Tin học III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Tin học - Số năm kinh nghiệm : 8 năm - Các sáng kiến đã có trong 5 năm gần đây: 03
  3. BẢN THÀNH TÍCH CÁ NHÂN I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 1. Họ và tên: DƯƠNG THỊ THANH XUÂN 2. Ngày tháng năm sinh: 27/7/1978 3. Nam/nữ: Nữ 4. Địa chỉ: Trường THPT Long Phước – xã Long Phước - LT – ĐN 5. Điện thoại: 0918.149023 6. Email: duongthanhxuan79@yahoo.com.vn 7. Chức vụ: Giáo viên 8. Đơn vị công tác: Trường THPT Long Phước II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: - Trình độ chuyên môn: Cử nhân - Năm nhận bằng: 2005 - Chuyên ngành đào tạo: Tin học III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Tin học - Số năm kinh nghiệm : 8 năm - Các sáng kiến đã có trong 5 năm gần đây: 03 IV. NHỮNG THÀNH TÍCH ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC - Nhiều năn liền đạt Lao động tiên tiến - Năm 2010 – 2011 đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua - Năm 2011 – 2012 đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua - Được nhà trường và đồng nghiệp tin cậy và bầu chọn là tổ phó phụ trách bộ môn - Đã từng được bầu chọn là công đoàn viên xuất sắc, giáo viên chủ nhiệm giỏi.
  4. - Được đề cử đi tập huấn và triển khai lại trong trường chuyên đề “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT” Long Phước, ngày 10 tháng 5 năm 2013 Người viết DƯƠNG THỊ THANH XUÂN --- I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tin học đã được chính thức trở thành một môn học trong nhà trường từ năm học 2009 – 2010 rộng khắp trên các bậc học. Trong thời gian qua tin học không ngừng khẳng định vị trí của nó thông qua các ứng dụng và lợi ích mà nó đem lại. Chính vì thế năm học 2012-2013 Bộ giáo dục tiếp tục triển khai đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào giảng dạy và quản lí. Thực tế cho thấy ứng dụng tin học để tìm hình ảnh minh hoạ một bài Văn, một bài Địa, một bài Sử, hay quay lại một thí nghiệm cho bộ môn Lý, Hoá, Sinh… sẻ khá đơn giản, đáp ứng được yêu cầu của giáo viên và học sinh vì tránh tình trạng “dạy chay”. “Phương pháp dạy học truyền thống: thầy đọc – trò ghi” liệu có còn hiệu quả, phù hợp với đặt thù môn học hay không? Mặc dù là phương pháp truyền thống nhưng vẫn được xem là phương pháp chủ đạo trong ngành giáo dục và trên nhiều lĩnh vực khác. Và đương nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó. Việc đổi mới phương pháp có phải cứ soạn hay tải toàn bộ nội dung dạy truyền thống qua phần mềm Power Point thêm một vài hiệu ứng rồi lên chiếu cho học trò xem là đổi mới? là phát huy tính tích cực của học sinh? Là hiệu quả? Không đầu tư cho bài dạy thì sẽ chuyển học tiết học từ “đọc - chép” sang “chiếu - chép” "Làm sao để thay đổi cách học thủ động - phát huy tính tích cực của học sinh?" Là câu hỏi được đặt ra cho tập thể những người làm công tác sư phạm, nghiên cứu để tìm ra câu trả lời này không quá khó, cái khó là hành động như thế nào để điều đó trở thành hiện thực tại các trường, trong các tiết học chứ không phải chỉ qua vài tiết chuyên đề hay hội giảng.
  5. “Phương pháp dạy học bằng giáo án điện tử (có đầu tư) - hiệu quả như thế nào? Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh. Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học Thế còn bộ môn tin học, khi máy tính là trọng tâm của môn học thì sao? Việc học tin học ở trường của học sinh vẫn chưa đạt hiệu quả, phần đông học sinh chưa phát huy tính tích cực, còn thụ động, ỷ lại. Vậy nguyên nhân đó từ đâu? + Đối với học sinh, khó khăn lớn nhất là nền tảng kiến thức toán của các em đa phần còn hạn chế. Các em dùng máy tính bỏ túi quá nhiều, lệ thuộc vào chúng nên việc giải những bài toán khá đơn giản như tính chu vi, diện tích hình tròn, hay thậm chí là giải phương trình bậc 2... nhiều em vẫn không biết cách giải. Kiến thức cơ bản toán học là điều kiện tiên quyết giúp các em học tốt môn học này. Do vậy các em dễ chán nản và đâm ra thụ động trong giờ học. + Đối với giáo viên, khó khăn lớn nhất chính là kinh nghiệm giảng dạy. “Phương pháp dạy học bằng giáo án điện tử (có đầu tư) – liệu có áp dụng rộng rãi và thường xuyên được không? - Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector…còn thiếu và chưa đồng bộ, như trường THPT Long Phước chỉ có được 3 máy (trong đó một máy tuổi thọ bóng đèn hình đã già, nghĩa là chỉ 2 phòng có thể sử dụng tốt thường xuyên), giáo viên chúng ta chưa được hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả. - Kiến thức, kĩ năng về CNTT ở một số giáo viên còn thấp. - Nhiều giáo viên mặc dù đã được đào tạo về tin học và cách sử dụng phần mềm soạn giảng nhưng ứng dụng chưa nhiều, chưa thành thạo. Chính vì thế qua giảng dạy, và khảo sát sự hiểu biết của học trò, tôi rút ra được một vài nội dung cần chia sẻ và nội dung mà tôi chia sẻ trong phạm vi giới hạn này là HỖ TRỢ KỸ NĂNG “LÀM VIỆC NHÓM” ĐẠT HIỆU QUẢ BẰNG CÁCH ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC KHỐI 12 II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận:
  6. Khơi dạy hứng thú cho học sinh là một vấn đề quan trọng trong hoạt động dạy - học. Trong đó chất lượng, hiệu quả cơ bản phụ thuộc vào người học. Nhưng để điều đó lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: năng lực học sinh, ý thức tự nhận thức, động cơ học tập, sự quyết tâm, môi trường học tập, vị trí chỗ ngồi, nội dung truyền đạt, cách truyền đạt tạo ra sự hứng thú trong học tập. Sự hứng thú biểu hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động. Sự hứng thú gắn liền với tình cảm con người. Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú làm việc, con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, làm nẩy sinh khát vọng hành động một cách có sáng tạo. Ngược lại, nếu không có hứng thú, dù là hoạt động gì cũng sẽ không đem lại hiệu quả cao. Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú, kết quả sẽ không là gì hết, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực. Việc học của học sinh hiện nay vẫn còn mang tính chất đối phó, miễn cưỡng, người học may lắm chỉ tiếp thu được một lượng kiến thức rất ít, không sâu, không bản chất. Và vì thế dễ quên. Khi có hứng thú, say mê trong nghiên cứu, học tập thì thì việc lĩnh hội tri thức trở nên dễ dàng hơn; ngược lại, khi nắm bắt được vấn đề, tức là hiểu được bài thì người học lại có thêm hứng thú. Trên thực tế, những người không thích, không hứng thú khi học môn học nào đó thường là những người không học tốt môn học đó. Chính vì vậy, việc tạo hứng thú cho người học được xem là yêu cầu bắt buộc đối với bất cứ ai làm công tác giảng dạy, đối với bất cứ bộ môn khoa học nào. Vì thế việc đổi mới, hoạt đơn giản là cải tiến một phương pháp đã cũ, đã bị lãng quên sao cho nó thật phù hợp với đặt thù học sinh trong môi trường làm việc của mình, làm sao có thể nâng cao được chất lượng bài học, tạo ra sự hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh chính là nỗi niềm trăn trở của tôi khi viết bài trao đổi kinh nghiệm này 2. Thực trạng ? Làm sao để tạo hứng thú cho học sinh khi giảng dạy tin học khối 12 trong khi môn học này không là một trong các môn thi tốt nghiệp, thi đại học? Không có con đường chung cho mọi người. Sự hứng thú của học sinh phụ thuộc nhiều yếu tố như phương pháp giảng dạy, phong cách, ngôn ngữ, cách thức tổ chức quá trình học tập của giáo viên; chương trình, còn phụ thuộc rất nhiều vào học sinh; Vậy, thực tế vấn đề này như thế nào? Trước khi tiến hành đề tài này, tôi đã khảo sát ý kiến từ học sinh đang học xoay quanh một số nội dung sau: 1. Điều gì quan trọng nhất tạo hứng thú cho người học? 2. Không khí lớp học vui nhộn quyết định như thế nào đến việc tạo hứng thú cho người học? 3. Yếu tố nào quyết định đến không khí lớp học?
  7. 4. Trong giờ học giáo viên nên tạo một vài tình huống hài hước gắn với nội dung bài học không? 5. Có phải học sinh thật sự thờ ơ, học lệch, thậm chí thả trôi các môn học không nằm trong nhóm 8 môn trọng yếu (toán, lý, hoá, sinh, văn, sử, địa, anh văn)? 6. Gia đình, nhà trường và bối cảnh xã hội có tác động, ảnh hưởng gì đến vấn đề học lệch, phân biệt môn chính, môn phụ của học sinh. ? Việc rèn luyện kĩ năng làm việc theo nhóm trong các giờ tin học sẽ giúp ích được gì cho học sinh khối 12 Qua khảo sát các “cựu học sinh” trường THPT Long Phước hiện tại đang theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và các em học sinh đã đi làm cho biết: 1. Học sinh phổ thông khi tham gia học tập tại các bậc học sau đó đều thiếu kĩ năng giao tiếp, nói chuyện trước đam đông, thuyết trình trước tập thể học sinh và giáo viên 2. Kĩ năng soạn một bài thuyết trình hoàn toàn thiếu (do không được dạy và chưa bao giờ có cơ hội để tìm hiểu các phần mềm soạn giảng, trình chiếu) 3. Học sinh hoàn toàn thụ động, bối rối và bở ngỡ khi tham gia các buổi thuyết trình, báo cáo chuyên đề và tạo sự thuyết phục khi trả lời chất vấn 4. Đa phần các môn học ở các bậc học sau THPT đều đòi hỏi tinh thần học tập và làm việc theo đội nhóm. 5. Khi làm việc thì kĩ năng làm việc theo nhóm là kĩ năng tuyên quyết, được đặt lên hàng đầu:  Các em cần trang bị những kiến thức về soạn giảng  Các em cần có kĩ năng về thảo luận nhóm một cách thật hiệu quả  Các em cần có kĩ năng chọn người giao việc  Các em cần biết cách thuyết phục người khác cùng làm việc  Các em cần trang bị kĩ năng nói chuyện trước đám đông  Các em cần kĩ năng thuyết phục người khác khi trả lời, phản biện  Các em cần được trãi nghiệm, thực hành thực tế chứ không phải là giáo viên giảng, các em lắng tay nghe Qua khảo sát, tụ trung lại là: + Yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự hứng thú hay không hứng thú cho học sinh phụ thuộc nhiều vào giáo viên thông qua cách tổ chức giờ dạy, sự cuốn hút, nghệ thuật của giáo viên khi lên lớp. Việc dạy - học kích thích sức mạnh nội tâm đến một chừng mực nào đó thì sẽ có sức lôi cuốn, hấp dẫn chừng ấy. Ngược lại, những gì lôi cuốn làm ta say mê cũng đều kích thích sức mạnh nội tâm của chúng
  8. ta. Mà kích thích sức mạnh nội tâm chính là phát huy tối đa tâm lực của chúng ta, giúp ta phát huy được năng lực của mình. + Giáo viên dạy các bộ môn (không trọng yếu), có tự xem môn của mình là môn phụ hay không? Có cho phép mình lơ là, thả lỏng, tự dễ với bản thân mình trong các giờ lên lớp hoặc trong hình thức kiểm tra và chấm điểm học sinh hay không? Đây cũng là nguyên nhân tác động đến thái độ và ý thức học tập của học sinh. + Giáo viên dạy các bộ môn (không trọng yếu), dùng phương pháp gì để kích thích học trò đến với bộ môn của mình? Tạo sự hứng thú – phát huy tính tích cực của học sinh thông qua “làm việc theo nhóm”, khai thác phương tiện internet để tiến hành làm việc và trao đổi qua mạng, thực hiện các nội dung thực hành, những bài tập trên phòng máy chiếu trước khi thực hành trực tiếp trên phòng thực hành nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học hướng về người học. Việc tổ chức cho học sinh “làm việc theo nhóm” là đặt học sinh vào môi trường hoạt động tích cực. Giải quyết bài tập theo nhóm giúp học sinh tinh thần làm việc chủ động, sáng tạo và gắn kết, không chỉ dừng lại trong môi trường nhà trường, học sinh được thảo luận và hợp tác làm việc với nhau. Học tập theo nhóm giúp học sinh học tập thông qua giao tiếp, trao đổi tranh luận với nhau, chia sẽ và có cơ hội diễn đạt ý nghĩ của mình, phát triển các kĩ năng giải quyết vấn đề. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn kích thích hổ trợ học sinh lĩnh hội kiến thức bằng kinh nghiệm giáo dục của mình.  Phương pháp làm việc theo nhóm (Nhóm tự thảo luận, tự phân chia nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm): Phương pháp này thích hợp cho việc đưa ra những cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo; kích thích sự hợp tác của tất cả các thành viên trong nhóm cùng tham gia vào việc giải quyết một vấn đề. + Lựa chọn đúng nội dung cần làm việc theo nhóm. Không phải vấn đề nào cũng đưa ra thảo luận. Chỉ áp dụng với những vấn đề đòi hỏi phát huy trí tuệ của tập thể. + Phân nhóm khoa học. Tùy điều kiện cụ thể, mỗi nhóm có thể phân công 2 hay 4 học sinh trong bàn thành 1 nhóm, hoặc 1 tổ thành 1 nhóm. + Hướng dẫn thật kĩ nội dung và qui định thời gian làm việc nhóm  Phương pháp “thảo luận” (Nhóm tự thảo luận, tự phân chia nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm): Qua những năm công tác cũng như khi dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy khi thảo luận nhóm nhiều giáo viên không chú ý nhiều đến việc hướng dẫn trước và khi học sinh đã gom nhóm để bắt đầu thảo luận thì các em sẽ gặp phải những khó khăn, khúc mắc. Từ đó dẫn đến việc thảo luận không tốt. Ngoài ra phương pháp thảo luận nhóm chỉ mang tính đối phó trong các tiết thanh tra, dự giờ, nên vì thế kĩ năng và tinh thần tích cực tham gia trong nhóm thảo rất hạn chế, học một số ít các em
  9. tham gia, một số ít các em lợi dụng thời gian đó, lơ là hay làm việc riêng, nói chuyện phím;  Ý kiến đề xuất: 1. Giáo viên cần đưa ra vấn đề, nêu những nội dung, “đặt những yêu cầu” và “đặt những câu hỏi gợi mở” hoặc “các gợi ý” để các em căn cứ vào đó chia nhóm ra để thảo luận giải quyết từng ý hay thảo luận giải quyết vấn đề từng bước theo gợi ý  Nhóm làm việc tích cực, khắc phục được tình trạng người làm, người không 2. Tuỳ theo câu hỏi thảo luận, nội dung ít hay nhiều mà phân chia nhóm ( 2 học sinh, 4 học sinh trong bàn, 2, 3 bàn thành nhóm….), không nhất thiết lúc nào cũng phân học sinh từ 3 bàn, gom thành 2 bàn để thảo luận làm mất thời gian di chuyển và mất trật tự vì những lý do không đâu vào đâu 3. Giáo viên phải theo dõi các nhóm trong quá trình thảo luận, đi tới từng nhóm xem tiến trình thảo luận, động viện khích lệ các em kịp thời.  Phương pháp “làm bài tập nhóm” (Nhóm tự phân chia nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm làm việc): Việc thực hiện bài tập theo nhóm là bước đầu tập cho các em có tinh thần tập thể và kĩ năng làm việc nhóm, và đây là một nội dung rất cần thiết cho các em học tiếp lên các bậc học Trung Cấp, Cao Đẳng hay Đại học cũng như các em ra trường đi làm, nhưng các giáo viên, đặc biệt giáo viên cấp 3 rất e dè khi thực hiện vì: - Ngại các em học sinh không làm bài tập nhóm (vì không xem trọng môn tin học) - Ngại các em phân chia bài tập trong nhóm không tốt, kẻ làm, người chơi, khi cho điểm thì dẫn đến tình trạng không công bằng trong học sinh - Ngại các em sao chép, hoặc nhờ người khác làm bài  Ý kiến đề xuất: 1. Khi “phân nhóm” để làm bài tập nhóm, giáo viên cần lưu ý về “trình độ” của các nhóm phải đều nhau 2. Bài tập nhóm “đa dạng” nhưng cần phải “thiết thực” và có tính “xuyên suốt” (ở tin 12 bài tập đầu tiên của làm việc theo nhóm là xây dựng CSDL của nhóm mình (nhóm lớn theo tổ, nhóm nhỏ theo bàn, và theo 2 học sinh trong), vì thế học sinh nào không tham gia làm việc theo nhóm thì trong CSDL sẽ không có thông tin.) Giáo
  10. viên sẽ theo dõi được và chấm điểm được chính xác. Cũng như có biện pháp khác buộc học sinh đó phải cùng tham gia làm bài tập nhóm 3. Giáo viên cần “khuyến khích” tinh thần làm việc nhóm thông qua việc làm bài tập nhóm cho học sinh, khi cần thiết giáo viên được phép “dùng hình phạt” đối với những học sinh bất hợp tác trong nhóm 4. Giáo viên “kích thích” tin thần làm việc nhóm thông qua bài tập nhóm (nhóm nào bài tập hiệu quả, đạt đủ thông tin, thời gian nhanh chóng thì tính thên điểm cộng), cũng như kích thích tới thái độ làm việc tích cực của các thành viên trong nhóm và sự phân chia đồng đều công việc của các thành viên. 5. Với những nội dung trên thì người khác sẽ rất khó làm thay cho học sinh mà chỉ đứng vai trò là người hỗ trợ  điều này thì rất đáng được hoan nghênh vì học sinh đó đã có thêm một người thầy về bộ môn tin học. Thậm chí khi các em tham khảo nội dung từ Internet thì đây chính là mục tiêu hướng tới của tin học đó là các em biết khai thác internet để phục vụ cho việc học của mình. (Tuy nhiên bài tập thì chỉ có nhóm các em mới làm được thôi chứ trên Internet không có CSDL của nhóm em, và trên Internet không báo cáo thuyết trình, cũng như phản biện, thực hành dùm nhóm em sau đó).  Phương pháp “báo cáo thuyết trình - phản biện” (Nhóm tự phân chia nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm theo từng nội dung): Đây là một kĩ năng giúp học sinh, đặc biệt học sinh 12 tự tin hơn khi đứng trước đám đông. Giống “làm bài tập nhóm”, “báo cáo thuyết trình - phản biện” là một nội dung không thể thiếu trong các bậc học Trung cấp, Cao đẳng hay Đại học cũng như khi đi phỏng vấn xin việc làm. Tuy nhiên nó lại tốn khá nhiều thời gian nên ít được áp dụng trong các môn học ở bậc THPT ngoại trừ môn Ngữ Văn có tiết “phát biểu tự do” và trong các giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp. Nhiều giáo viên cho học sinh làm việc nhóm, nhưng lúc báo cáo chỉ mời một hai nhóm báo cáo. May mắn một điều ở Bộ môn tin học 12, tiết thực hành của các em khá nhiều, nên có đủ thời gian để các em rèn luyện và phát huy kĩ năng này.  Ý kiến đề xuất: 1. Phải báo cáo kết quả thảo luận nhóm, làm bài tập theo nhóm nhóm (dựa trên sản phẩm cụ thể). 2. Thành viên thuyết trình và nhóm phải chuẩn bị những nội dung để phản biện lại những câu hỏi do nhóm khác và giáo viên đặt ra
  11. 3. Ngoài ra, giáo viên nên kết hợp cho điểm cộng (+) các nhóm trả lời tốt để khích lệ các em làm việc hiệu quả hơn 4. Học sinh thuyết trình sẽ thay đổi luân phiên, không cố định một học sinh trong nhóm  Phương pháp thực hành theo nhóm: Đây là phương pháp đặc trưng của bộ môn Tin học. So với tiết dạy lý thuyết, thực hành được học sinh yêu thích hơn. Đó cũng chính là một trong những ưu điểm mà phương pháp này đem lại. - Thông qua các tiết thực hành, củng cố và làm sáng tỏ kiến thức lý thuyết các em đã tiếp thu được. Tuy nhiên, để thực hành đạt hiệu quả cao thì người giáo viên phải nhiều kinh nghiệm và phải có sự chuẩn bị công phu. Việc thực hành theo nhóm, nộp bài qua email và thực hành trên phòng chiếu trước khi vào phòng máy mang lại một số kết quả khả quan như sau:  Ý kiến đề xuất: 1. Sau khi giao bài tập cho các em làm việc theo nhóm ở nhà (ngoài giờ học) các em trong nhóm sẽ tương trợ giúp đỡ cho nhau; 2. Mỗi nhóm thành viên (tốt nhất là mỗi tổ 1 nhóm chính, chia thành 3 nhóm thành viên theo 3 bàn học) tiến hành nộp nội dung thực hành qua email cho giáo viên. Để đến tiết thực hành trong phòng máy, các em đã có sẵn các CSDL của tiết thực hành trước và học sinh tiếp tục thực hành nội dung mới; 3. Điểm là kết quả làm việc theo nhóm (nên trong giờ thực hành 4 dãy máy giao cho 4 nhóm; mỗi nhóm thành viên thực hiện trên 2 máy với CSDL hôm trước mình đã làm gửi qua email cho giáo viên) nên sẽ không có tình trạng các em tranh máy với nhau để thực hành mà thay vào đó giúp đỡ nhau cùng thực hành . 4. Giảm thiểu tối đa việc giáo viên phải “cầy tay – chỉ việc” cho học sinh trong giờ thực hành. 5. Học sinh tiến hành thực hành rất nhanh vì đã hiểu nội dung – phát huy tinh thần tập thể trong suốt quá trình học. 3. Nội dung biện pháp thực hiện các giải pháp (được thực hiện trong chương trình tin học khối 12)
  12. BÀI 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN ( THẢO LUẬN – LÀM BÀI TẬP NHÓM ) CÁC CÔNG VIỆC THƯỜNG GẶP KHI XỬ LÝ THÔNG TIN CỦA MỘT TỐ CHỨC HOẠT ĐỘNG CÙA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH 1. THẢO LUẬN  Làm việc nhóm Đặt vấn đề: Suy nghĩ trả lời nhóm ? Để tạo ra một hồ sơ để quản lý, ta cần  Hồ sơ quản lý đối tượng nào? nắm bắt những nội dung gì? Trong thời điểm nào?  Xác định chủ thể cần quản lý  Với chủ thể cần quản lý đó, thì ? Hồ sơ được tạo ra chứa những thông chủ thể có các thông tin nào, liệt kê tin chi tiết nào? Các thông tin đó được ra, và bố trí, trình bày những thông sắp xếp ra sao? Hãy đề xuất một mẫu tin đó bảng biểu để chứa thông tin cần quản lý ? Làm sao để hoàn chỉnh toàn bộ hồ sơ  Xác định chủ thể cần quản lý trên?  Thu thập thông tin bằng nhiều cách: trực tiếp, gián tiếp  Học sinh cùng giáo viên đưa ra biểu mẫu hoàn chỉnh Thảo luận và làm việc theo nhóm DANHSACHHS_TO  Học sinh làm, giáo viên theo Đặt vấn đề: dõi, góp ý Suy nghĩ trả lời nhóm ? Hồ sơ đó liệu có đúng, có phù hợp với thực tế nếu thời gian thay đổi hay  Trong quá trình thu thập thông
  13. không? tin, độ chính xác có khả năng sai  (Cần khẳng định không mẫu nào lệch, những cách giúp hoàn chỉnh hồ là sai cả, chỉ có thiếu và đầy đủ sơ đó đảm bảo sự đúng đắn thông tin hay chưa mà thôi)  Thay đổi thông tin  Thêm các thông tin phù hợp  Xoá các thông tin sai lệch hoặc không còn đúng nữa  Giáo viên: Vì đây là bước đầu nên  Học sinh: Bước đầu làm quen với giáo viên hướng dẫn và dẫn dắt nội thảo luận nhóm và cho ra kết quả sản dung thảo luận của học sinh khá chi tiết, phẩm rõ ràng  Tin thần làm việc và tôn trọng ý kiến tập thể 2. LÀM BÀI TẬP NHÓM ? Mỗi tổ chọn cho mình một chương  Làm việc nhóm trình phần mềm, xây dựng bảng DANHSACHHOCSINHTO với đầy đủ thông tin vừa tạo. Nộp qua email cho giáo viên trong thời gian 48h. + Đúng thời gian, đúng cấu trúc và đầy  Các nhóm tiến hành làm việc đủ thông tin như kết quả thảo luận +2đ. nhóm ngoài giờ học  Nộp bài + Đúng thời gian, sai cấu trúc và thiếu một ít thông tin như kết quả thảo luận +1đ. + Trể 1h thì -1điểm  Phát huy tính tổ chức của nhóm, chọn người giao việc, kĩ năng sử dụng internet và tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân đối với tập thể BÀI 2: HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU QUAN HỆ (LÀM BÀI TẬP NHÓM) Sau tiết thực hành Bài tập đề xuất:
  14. 1. Em hãy tìm hiểu và giới thiệu cho cả lớp biết về phần mềm MicroSoft Access (xuất xứ, tiến trình phát triển, các ứng dụng của Access cho chương trình tin học 12 với tài liệu tham khảo SGK và các tài liệu khác từ thư viện, nhà sách, internet) 2. Trình bày một số thao tác cơ bản của Access (đầy đủ các cách cho từng thao tác) Hai nhóm làm một câu, thực hiện riêng lẽ từng nhóm. Nộp bài qua Email trong thời gian 48h  Thực hiện bằng MicroSoft Word : 6 điểm  Thực hiện bằng Power Point (phần mềm khác): 8 điểm  (Thuyết trình tốt : 2 điểm; thực hiện trong tiết dạy sau) (Tuy nhiên có thể tính điểm cộng (+) cho cả tổ tuy theo tình hình thực tế của lớp)  Rèn luyện kĩ năng tổ chức của nhóm, chọn người giao việc, kĩ năng sử dụng internet, kĩ năng tìm hiểu và khai thác thêm các phần mềm ứng dụng khác  Rèn luyện kĩ năng làm việc tích cực, khẩn trương, tin thần trách nhiệm của từng cá nhân đối với tập thể và của các nhóm với nhau BÀI 3: GIỚI THIỆU MICROSOFT ACCESS ( BÁO CÁO THUYẾT TRÌNH – PHẢN BIỆN ) HOẠT ĐỘNG CÙA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH  Làm việc nhóm - Trao quyền chủ động cho học sinh khi + Báo cáo thuyết trình lên thuyết trình sản phẩm của mình  Cử thành viên lên thuyết trình sản - Hỗ trợ học sinh về mặt kĩ thuật, và phẩm của tổ mình điều chỉnh hành vi của học sinh trong + Phản biện tiến trình thực hiện sao cho phù hợp  Bổ sung và trả lời những chất vấn - Theo dõi nội dung để chấm kết quả của giáo viên cũng như của các thành thuyết trình của học sinh viên trong tổ khác.
  15.  Rèn luyện kĩ năng nói chuyện trước đám đông, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng phản biện. Đặc biệt kĩ năng tương trợ lẫn nhau trong tập thể (nhóm)  Học sinh có cơ hội tìm hiểu và chia sẽ hiểu biết với nhau về những phần mềm mới, những kĩ năng khác nhau qua trãi nghiệm thực tế BÀI 4: CẤU TRÚC BẢNG (THẢO LUẬN Hãy xác định kiểu dữ liệu của bảng DANHSACHHOCSINHTO theo ngôn ngữ Acess HOẠT ĐỘNG CÙA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH - Mỗi nhóm 2 tới 4 học sinh  Làm việc nhóm - Theo dõi tiến trình thảo luận  Căn cứ theo bảng kiểu dữ liệu trang 34, xác định kiểu dữ liệu và - Nhóm nào xong lên bảng trình bày (4 trình bày cũng như nộp sản phẩm nhóm trong 4 tổ trong lớp)  Theo dõi kết quả - Chấm theo kiểu “toán chạy” 8 nhóm khác của 4 tổ - Sửa kết quả tại trên bảng cho cả lớp. - Hướng dẫn học sinh cách tạo và sửa cấu trúc bảng bằng máy chiếu  Rèn luyện và phát huy kĩ năng thảo luận nhóm, chọn thành viên báo cáo sản phẩm sau khi thảo luận.  Rèn luyện kĩ năng cá nhân thực hành minh họa dưới sự theo dõi của tập thể  Học sinh được theo dõi và học tập kĩ năng thực hành không giới hạn từ giáo viên mà từ các bạn là học sinh trong lớp mình ( LÀM BÀI TẬP THEO NHÓM) CHUẨN BỊ CHO BÀI THỰC HÀNH SỐ 2
  16. (Chia lớp thành 4 nhóm theo 4 tổ)  Làm việc nhóm - Bài tập chung cho 4 nhóm : Mỗi nhóm - Nhóm tự phân chi nhiệm vụ cho các thành viên tạo một DANHSACHHOCSINHTO của mình nộp cho giáo viên trong thời gian - Làm việc ngoài giờ 72 giờ - Khai thác Internet khi làm việc - Xin ý kiến từ giáo viên thông qua gặp trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại và Internet - Kiểm tra và nộp sản phẩm  Học sinh có cơ hội rèn luyện kĩ năng làm bài tập nhóm, khắc phục được những điểm hạn chế, rút kinh nghiệm của lần làm việc trước BÀI THỰC HÀNH SỐ 2 (THỰC HÀNH THEO NHÓM) Học sinh có thể tiến hành thực hành theo SGK, hoặc theo nội dung bài tập trước HOẠT ĐỘNG CÙA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH - Mỗi nhóm một dãy máy, (chia thành 3  Làm việc nhóm nhóm thành viên, 4 học sinh, 2 máy) - Các nhóm hỗ trợ luân phiên nhau làm tròn vẹn bài, lấy điểm cho - Thực hành dưới sự giám sát của giáo tổ viên  Phát huy được tin thần đồng đội, hỗ trợ, giúp đỡ, hướng dẫn nhau cùng học ( LÀM BÀI TẬP THEO NHÓM) CHUẨN BỊ CHO BÀI SỐ 5 (Chia lớp thành 4 nhóm theo 4 tổ)  Làm việc nhóm
  17. - Bài tập chung cho 4 nhóm : Mỗi nhóm - Nhóm tự phân chi nhiệm vụ cho tạo một DANHSACHHOCSINHTO của các thành viên mình - Làm việc ngoài giờ - Bài tập riêng cho các nhóm: - Khai thác Internet khi làm việc + Nhóm 1: Thiết kế bài giảng “Cập - Xin ý kiến từ giáo viên thông qua nhật dữ liệu” và Demo thực hiện (Bài gặp trực tiếp hoặc gián tiếp qua 5 mục 1: dùng nhiều cách với mỗi thao điện thoại và Internet tác) - Kiểm tra và nộp sản phẩm + Nhóm 2: Thiết kế bài giảng “Sắp xếp - Chọn thành viên thuyết trình và lọc dữ liệu” và Demo thực hiện (Bài 5 mục 2: dùng nhiều cách với mỗi thao tác) + Nhóm 3: Thiết kế bài giảng “Tìm kiếm đơn giản và In dữ liệu” và Demo thực hiện (Bài 5 mục 3: dùng nhiều cách với mỗi thao tác) + Nhóm 4: Thiết kế bài giảng “In dữ liệu” và Demo thực hiện (Bài 5 mục 4: dùng nhiều cách với mỗi thao tác)  Khuyến khích học sinh sử dụng thêm các phần mềm o Chụp lại các Icon màn hình o Chụp giao diện màn hình o Quay phim lại tiến hình hoạt động của máy tính o Các phần mềm trình chiếu - Nộp bài trong thời gian 72 tiếng  Phát huy được kĩ năng làm bài tập nhóm (học sinh không còn bỡ ngỡ, bối rối nữa)  Chia sẽ những hiểu biết của từng cá nhân đối với tập thể
  18.  Rèn luyện tinh thần tập thể BÀI 5: CÁC THAO TÁC CƠ BẢN TRÊN BẢNG ( BÁO CÁO THUYẾT TRÌNH – PHẢN BIỆN – THỰC HÀNH THEO NHÓM) HOẠT ĐỘNG CÙA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH - Trao quyền chủ động cho học sinh khi  Làm việc nhóm lên thuyết trình sản phẩm của mình + Báo cáo thuyết trình - Hỗ trợ học sinh về mặt kĩ thuật, và  Cử thành viên lên báo cáo kết quả điều chỉnh hành vi của học sinh trong sản phẩm của tổ tiến trình thực hiện sao cho phù hợp DANHSACHHOCSINHTO - Theo dõi nội dung để chấm kết quả  Thuyết trình sản phẩm của tổ thuyết trình của học sinh mình + Phản biện  Bổ sung và trả lời những chất vấn của giáo viên cũng như của các thành viên trong tổ khác. + Thực hành theo nhóm Gọi ngẫu nhiên thành viên cuả tổ:  Ở dưới quan sát, phát hiện cái sai + Tổ lên đầu tiên thực hiện trên (nếu có) của bạn mình, hướng dẫn máy cho các bạn cùng xem, bạn làm cho đúng Cho điểm, nhận xét, rút kinh nghiệm  Ghi nhớ nội dung vào vở theo phương pháp của riêng mình, sao cho dễ hiểu và dễ thực hiện cho tiết thực hành sau  Phát huy kĩ năng nói chuyện trước đám đông, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng phản biện. Đặc biệt kĩ năng tương trợ lẫn nhau trong tập thể (nhóm)  Khắc phục những hạn chế, rút kinh nghiệm cho từng cá nhân  Khẳng định được bản lĩnh của từng cá nhân trước tập thể
  19.  Chia sẽ những hiểu biết về tin học cũng như những phần mềm mới, những kĩ năng khác nhau qua trãi nghiệm thực tế BÀI TẬP THỰC HÀNH 3 (THỰC HÀNH THEO NHÓM) Học sinh có thể tiến hành thực hành theo SGK, hoặc theo nội dung bài tập trước HOẠT ĐỘNG CÙA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH - Mỗi nhóm một dãy máy, (chia thành 3  Làm việc nhóm nhóm thành viên, 4 học sinh, 2 máy) - Các nhóm hỗ trợ luân phiên nhau làm tròn vẹn bài, lấy điểm cho - Thực hành dưới sự giám sát của giáo tổ viên  Phát huy được tin thần đồng đội, hỗ trợ, giúp đỡ, hướng dẫn nhau cùng học BÀI 6: BIỂU MẪU (THẢO LUẬN – BÁO CÁO THEO NHÓM) Củng cố kiến thức (phần hiểu) HOẠT ĐỘNG CÙA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH 1. THẢO LUẬN  Làm việc nhóm ? Đối tượng nào thường dùng biểu mẫu  Thảo luận trả lời và ghi lại từng nội dung ? Có thể xem, nhập, sửa dữ liệu trực tiếp trên bảng, vậy khi nào người ta thực hiện những việc đó bằng Biểu mẫu ? Trình bày các ưu và khuyết điểm của
  20. Bảng và Biểu mẫu trong việc xem, nhập và sửa dữ liệu khi thao tác với bảng dữ liệu DANHSACHHOCSINHTO của nhóm các em 2. BÁO CÁO THUYẾT TRÌNH  Làm việc nhóm - Chọn thành viên thuyết trình - Theo dõi tiến trình thảo luận - Ổn định trật tự - Chuẩn bị nội dung phản biện - Gợi ý - Giám sát từng thành viên, từng nhóm - Gọi đại diện nhóm lên báo cáo - Cho học sinh chất vấn, cùng chất vấn - Khuyến khích trả lởi câu hỏi Phân chia nội dung trả lời phản biện chất vấn nhanh (cho điểm, tuy cho các thành viên (để lấy điểm cộng nhiên một thành viên trả lời nhiều cho các thành viên) câu hỏi cũng chỉ tính là 1 lần) - Nhận sản phẩm từ các tổ sau khi báo cáo - Chấm điểm kết quản sản phẩm của các nhóm  Trao dồi kĩ năng phân chia việc cho từng thành viên trong nhóm sao cho hiệu quả nhất. Trao dồi kĩ năng phản biện, bảo vệ chính kiến của mình (nhóm mình). Trao dồi “kĩ năng biết lắng nghe”, “biết chọn lọc” những thông tin góp ý từ người khác (THẢO LUẬN NHÓM - BÀI TẬP THEO NHÓM) CHUẨN BỊ NỘI CHO BÀI 7 – LIÊN KẾT BẢNG Đặt vấn đề  Làm việc nhóm - Yêu cầu học sinh nhận lại CSDL của tổ sau bài thực hành 4 DANHSACHHOCSINHTO với đầy đủ

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản