
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 49
Câu hỏi tự đánh giá
Câu 17 Quốc hội của các nước có thể thông qua luật bảo hộ biểu tượng của
Olympic phù hợp với Điều 6ter hay không?
Tra lời. Chính xác đây là loại pháp luật được quy định theo Điều này.
(f) Hiệu lực ngoài giới hạn lãnh thổ của đăng ký tại nước xuất xứ
Các quy định của Điều 6quinquies có hiệu lực trong trường hợp một đăng ký tại nước
xuất xứ bị hủy bỏ tại nước đăng ký bảo hộ. Trong khi nguyên tắc đối xử quốc gia đối
với đơn đăng ký đòi hỏi phải có quy tắc thông thường về tính độc lập hoàn toàn của
nhãn hiệu (như được quy định tại Điều 6), thì trong trường hợp ngoại lệ được điều
chỉnh tại Điều 6quinquies lại áp dụng quy tắc ngược lại, quy định hiệu lực ngoài giới
hạn lãnh thổ của một đăng ký tại nước xuất xứ.
Để áp dụng Điều 6quinquies, điều cần thiết là nhãn hiệu có liên quan phải được đăng
ký một cách hợp pháp tại nước xuất xứ. Việc đơn thuần nộp đơn hoặc sử dụng nhãn
hiệu tại nước đó là không đủ. Hơn nữa, nước xuất xứ phải là nước thuộc Liên minh
mà ở đó người nộp đơn có sơ sở công nghiệp hoặc thương mại thực thụ và có hiệu
quả hoặc nếu không có cơ sở như vậy thì là nước thành viên mà người nộp đơn có
chỗ ở cố định, hoặc nếu không có chỗ ở cố định thì là nước thành viên mà người nộp
đơn là công dân.
Quy tắc được thiết lập bởi Điều 6quinquies quy định rằng nhãn hiệu thỏa mãn các
điều kiện cần thiết phải được chấp nhận nộp đơn và bảo hộ như nó vốn có – as is (sử
dụng thuật ngữ trong phiên bản tiếng Anh) hoặc telle quelle (sử dụng thuật ngữ trong
phiên bản tiếng Pháp gốc)—tại các nước thành viên khác, phụ thuộc vào một số ngoại
lệ nhất định. Quy tắc này thường được gọi là nguyên tắc "telle quelle".
Cũng cần ghi nhận rằng quy tắc này chỉ liên quan đến hình thức của nhãn hiệu. Theo
đó, quy tắc nêu trong Điều này không tác động đến vấn đề bản chất hoặc chức năng
của nhãn hiệu như được nhận thức tại các nước đăng ký bảo hộ. Do vậy, một quốc
gia thành viên không có nghĩa vụ đăng ký hoặc mở rộng sự bảo hộ cho một đối tượng
không phải là nhãn hiệu như được định nghĩa trong luật về nhãn hiệu của quốc gia đó.
Ví dụ, nếu theo luật của một quốc gia thành viên, vật thể ba chiều hoặc các nốt nhạc
thể hiện giai điệu không được coi là nhãn hiệu ở quốc gia đó, thì quốc gia này không
có nghĩa vụ phải chấp nhận đăng ký và bảo hộ đối tượng đó.

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 50
Điều 6quinquies, Mục B, bao gồm một số ngoại lệ nhất định về nghĩa vụ chấp nhận
nhãn hiệu đã được đăng ký “như nó vốn có” để đăng ký tại các nước khác trong Liên
minh. Danh mục những ngoại lệ đó là đầy đủ để không thể viện dẫn các lý do khác để
nhằm từ chối hoặc hủy bỏ hiệu lực đăng ký nhãn hiệu. Các ngoại lệ đó là:
(i) Nếu nhãn hiệu xâm phạm các quyền của các bên thứ ba có được tại
nước yêu cầu bảo hộ. Các quyền này có thể là các quyền đối với nhãn hiệu
đã được bảo hộ tại nước có liên quan hoặc các quyền khác, như quyền đối
với tên thương mại hoặc quyền tác giả;
(ii) Khi nhãn hiệu thiếu các đặc điểm có khả năng phân biệt, hoặc chỉ
mang tính mô tả, hoặc bao gồm tên gọi chung;
(iii) Nếu nhãn hiệu trái với đạo đức hoặc trật tự công cộng như quan niệm
ở nước yêu cầu bảo hộ. Căn cứ này bao gồm cả các nhãn hiệu mà có bản
chất lừa dối công chúng như một dạng đặc biệt;
(iv) Nếu đăng ký nhãn hiệu tạo thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
(v) Nếu nhãn hiệu được chủ sở hữu sử dụng theo hình thức khác đáng kể
với hình thức đã được đăng ký tại nước xuất xứ. Sự khác nhau không đáng
kểbản thì không thể được sử dụng làm lý do để từ chối hoặc hủy bỏ.
(g) Nhãn hiệu dịch vụ
Theo tinh thần Điều 6sexies, các quốc gia thành viên cam kết bảo hộ nhãn hiệu dịch
vụ, nhưng không buộc phải quy định về việc đăng ký các nhãn hiệu đó. Quy định này
không buộc quốc gia thành viên phải quy định một cách rõ ràng về đối tượng nhãn
hiệu dịch vụ. Quốc gia thành viên có thể tuân thủ quy định này thông qua việc áp
dụng pháp luật đặc biệt về bảo hộ nhãn hiệu dịch vụ, cũng như thông qua việc chấp
thuận bảo hộ bằng các công cụ khác, ví dụ, trong luật chống cạnh tranh không lành
mạnh của mình.
(h) Mối quan hệ giữa chủ sở hữu nhãn hiệu và đại diện của chủ sở hữu đó
Điều 6septies Công ước quy định các trường hợp đại diện hoặc người đại lý của chủ
sở hữu nhãn hiệu nộp đơn hoặc có được đăng ký nhãn hiệu theo tên của mình hoặc sử
dụng nhãn hiệu mà không có sự cho phép của chủ sở hữu đó. Trong các trường hợp
đó, Điều này cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu quyền phản đối đăng ký hoặc yêu cầu
hủy bỏ đăng ký hoặc, nếu pháp luật quốc gia cho phép, yêu cầu chuyển nhượng đăng
ký đó cho mình. Ngoài ra, Điều 6septies cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu quyền phản
đối đại lý hoặc đại diện của mình sử dụng trái phép nhãn hiệu, dù cho đơn đăng ký
nhãn hiệu đã được làm hay đăng ký nhãn hiệu đã được cấp chứng nhận hay không.

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 51
(i) Bản chất của hàng hóa được gắn nhãn hiệu
Điều 7 Công ước quy định rằng trong trường hợp bất kỳ, bản chất của hàng hóa được
gắn nhãn hiệu cũng không tạo ra trở ngại cho việc đăng ký nhãn hiệu. Mục đích của
nguyên tắc này cũng như nguyên tắc so sánh trong Điều 4quater liên quan đến bằng
độc quyền sáng chế là nhằm làm cho việc bảo hộ sở hữu công nghiệp độc lập với việc
liệu hàng hóa được bảo hộ có thể hay không thể được bán tại nước có liên quan.
Đôi khi, xảy ra trường hợp nhãn hiệu liên quan đến hàng hóa, ví dụ, không tuân thủ
các yêu cầu về an toàn theo pháp luật của một nước cụ thể. Ví dụ, pháp luật về thực
phẩm và dược phẩm của một nước có thể quy định các tiêu chuẩn liên quan đến thành
phần của thực phẩm hoặc tác dụng của dược phẩm và cho phép bán chúng chỉ sau khi
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, trên cơ sở kiểm tra thực phẩm và thử nghiệm
lâm sàng các công dụng của dược phẩm đối với người và động vật. Trong tất cả các
trường hợp này, sẽ là không công bằng khi từ chối đăng ký một nhãn hiệu liên quan
đến những hàng hóa như vậy. Pháp luật về an toàn và chất lượng có thể thay đổi và
sản phẩm có thể được phép bán sau đó. Trong các trường hợp đó, nếu không có dự
kiến thay đổi về pháp luật nhưng sự phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền của nước
có liên quan vẫn bị trì hoãn, thì sự phê duyệt đó, nếu bị áp đặt như một điều kiện để
nộp đơn hoặc đăng ký tại nước đó, có thể gây thiệt hại cho người nộp đơn muốn nộp
đơn đúng hạn để bảo hộ tại quốc gia thành viên khác.
(j) Nhãn hiệu trưng bày tại các cuộc triển lãm quốc tế
Điều 11 quy định nguyên tắc: các quốc gia thành viên, theo luật quốc gia của mình,
có nghĩa vụ dành sự bảo hộ tạm thời đối với các nhãn hiệu cho hàng hóa trưng bày tại
các triển lãm quốc tế chính thức hoặc được công nhận là chính thức tổ chức tại một
quốc gia trong số các quốc gia thành viên.
Sự bảo hộ tạm thời có thể được quy định bằng nhiều hình thức khác nhau. Một là cấp
một quyền ưu tiên đặc biệt, tương tự như quyền được quy định trong Điều 4. Một khả
năng bảo hộ khác được ghi nhận trong một số luật quốc gia là việc thừa nhận quyền
sử dụng trước của người trưng bày hàng hóa mang nhãn hiệu tương phản với các
quyền có được của các bên thứ ba.
Để áp dụng luật pháp quốc gia về bảo hộ tạm thời, các cơ quan có thẩm quyền ở nước
đó có thể yêu cầu bằng chứng nhận biết hàng hóa được trưng bày và ngày bắt đầu
trưng bày hàng hóa ở triển lãm dưới dạng tài liệu bất kỳ mà cơ quan có thẩm quyền
cho là cần thiết.

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 52
Thoả ước và Nghị định thư Madrid
(a) Giới thiệu
Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu được điều chỉnh bởi hai điều ước, đó là Thoả ước
Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, có hiệu lực từ năm 1891, và Nghị định thư liên
quan đến Thoả ước Madrid, được thông qua năm 1989, có hiệu lực từ ngày
1/12/1995, và được thực thi từ ngày 1/4/1996. Quy chế chung thi hành Thoả ước và
Nghị định thư cũng có hiệu lực từ ngày 1/4/1996.
Thoả ước Madrid tạo điều kiện thuận lợi cho một người nộp đơn đủ điều kiện - chủ sở
hữu đăng ký nhãn hiệu quốc gia ở nước sở tại của mình (đăng ký cơ sở ở nước xuất
xứ), được mở rộng sự bảo hộ đó tới một số hoặc tất cả các quốc gia khác tham gia
Thoả ước. Điều này được thực hiện bằng việc nộp một đơn duy nhất tới WIPO (Tổ
chức Sở hữu trí tuệ thế giới) ở Geneva, sau đó cơ quan này sẽ cấp một "Đăng ký quốc
tế" (IR) có chỉ ra ("sự chỉ định") các nước tham gia Thoả ước.
Nghị định thư là một sự sửa đổi mang tính kỹ thuật của Thoả ước. Nó cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho những người nộp đơn có được một Đăng ký quốc tế, chỉ định các
nước tham gia Nghị định thư. Nghị định thư được lập ra nhằm thu hút các quốc gia,
như Hoa Kỳ, Nhật Bản và bốn nước EU không tham gia Thỏa ước (Anh, Ailen, Đan
Mạch và Hy Lạp). Nghị định thư có hiệu lực từ 1/12/1995 và được thực thi từ
1/4/1996. Các quy tắc và lệ phí được hoàn tất vào tháng 1/1996.
Những điểm khác biệt cơ bản giữa Nghị định thư và Thoả ước là:
(i) Một đơn đăng ký nộp theo Nghị định thư có thể dựa trên đơn quốc gia đang
chờ giải quyết, chứ không cần đợi một đăng ký quốc gia được cấp.
(ii) Trong trường hợp có sự phản đối thành công đối với đăng ký hoặc đơn
quốc gia cơ sở, chủ sở hữu Đăng ký quốc tế theo Nghị định thư có thể,
trong vòng 3 tháng kể từ ngày Đăng ký quốc tế đó bị huỷ, chuyển Đăng ký
quốc tế đó sang các đơn quốc gia với cùng ngày của Đăng ký quốc tế.
(Một Đăng ký quốc tế theo Thoả ước bị ràng buộc bởi đăng ký quốc gia cơ
sở trong vòng 5 năm, và một phản đối bất kỳ đối với đăng ký quốc gia
trong thời gian này dẫn tới việc hạn chế, huỷ bỏ hoặc đình chỉ hiệu lực
đăng ký quốc gia đó sẽ kéo theo việc hạn chế hoặc huỷ bỏ hiệu lực đăng
ký quốc tế ở tất cả các lãnh thổ. Đặc điểm này trong Thoả ước được biết
đến như "Phản đối từ trung tâm").

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 53
(iii) Các đơn đăng ký theo Nghị định thư có thể được làm bằng tiếng Anh hoặc
tiếng Pháp. (Thoả ước chỉ cho phép làm bằng tiếng Pháp).
(iv) Nghị định thư cho phép được thu lệ phí cao hơn, hầu như tương đương với
lệ phí nộp đơn và đăng ký quốc gia ở các nước được chỉ định. Tuy nhiên,
không phải chịu các phí luật sư trừ phi có phản đối đối với việc chỉ định.
(v) Thời hạn mà các cơ quan nhãn hiệu quốc gia phải thông báo cho WIPO các
phản đối đối với việc đăng ký được mở rộng từ tối đa 12 tháng tới 18
tháng.
Các nước đã ký Nghị định thư nhưng chưa ký Thoả ước có thể chỉ sử dụng Nghị định
thư, trừ phi họ cư trú hoặc có cơ sở thương mại thực sự và hiệu quả tại một nước của
Liên minh Công ước Paris.
Câu hỏi tự đánh giá
Câu 18 (a) "Phản đối từ trung tâm" của một đăng ký là gì.
Trả lời Khi một đăng ký quốc tế được cấp theo Thoả ước Madrid bị đình chỉ
hiệu lực ở nước mà đơn gốc được nộp thì toàn bộ đăng ký quốc tế đó sẽ
bị mất hiệu lực. Ngược lại, Nghị định thư cho phép các đăng ký bị phản
đối từ trung tâm đó được tách thành các đơn quốc gia.
Câu 18(b) Một đăng ký quốc tế theo Thoả ước Madrid có thể dựa trên một đơn
đang chờ giải quyết hay không?
Trả lời Không, nó phải dựa trên một đăng ký. Nghị định thư cho phép các đơn
đăng ký quốc tế được dựa trên một đơn quốc gia đang chờ giải quyết.
(b) Hoạt động của Hệ thống đăng ký quốc tế
(i) Nộp đơn Đăng ký quốc tế
Một đơn đăng ký quốc tế ("đơn quốc tế") chỉ có thể được nộp bởi một thể nhân hoặc
một pháp nhân có cơ sở thương mại hoặc công nghiệp thực sự và có hiệu quả, hoặc
cư trú tại, hoặc là công dân của một quốc gia tham gia Thoả ước Madrid hoặc Nghị
định thư Madrid, hoặc thể nhân hay pháp nhân có cơ sở thương mại hoặc công nghiệp
thực sự và hiệu quả tại, hoặc cư trú tại lãnh thổ của một tổ chức liên chính phủ là

