
TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ẨM THỰC
ĐẾN NHU CẦU HIỂU BIẾT VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP
ThS.Nguyễn Thị Như Tuyết1
CN. Nguyễn Thị Nhật Lộc, ThS. Nguyễn Thị Thuỳ Nga2
Tóm tắt: Do tầm quan trọng của nguồn nhân lực được nhấn mạnh trong một xã hội dựa trên
tri thức nên giáo dục để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao kỹ năng làm việc
đang được chú trọng. Vì vậy, tầm quan trọng của chất lượng giáo dục trong giáo dục chuyên
ngành ẩm thực tại các trường đại học là đảm bảo rằng sinh viên chuyên ngành được trang bị đầy
đủ kiến thức và kỹ năng ẩm thực để hoàn thành chương trình giáo dục đại học và bước vào nơi
làm việc thông qua giáo dục hiệu quả và mở rộng giáo dục theo nhu cầu của xã hội. Chúng ta phải
nhận ra điều này và nỗ lực nâng cao chất lượng giáo dục ẩm thực trong các trường đại học. Qua đó
làm rõ mối quan hệ giữa chất lượng giáo dục nấu ăn cần thiết cho đào tạo đầu bếp chuyên nghiệp
và tác động của nó đến nhu cầu nhận thức và thành tích học tập của cá nhân.
Từ khóa: Giáo dục ẩm thực, Chất lượng ẩm thực, Chất lượng giáo dục ẩm thực
Abstract: Due to the emphasis on the importance of human resources in a knowledge-based
society, education aimed at developing high-quality human resources and enhancing work skills
is being prioritized. Therefore, the importance of the quality of education in culinary specialization
at universities lies in ensuring that students majoring in this field are fully equipped with culinary
knowledge and skills to complete their higher education and enter the workforce through
effective education and expanded education tailored to societal needs. We must recognize this
and strive to improve the quality of culinary education at universities. Through this, it is necessary
to investigate the relationship between the quality of culinary education required for training
professional chefs and its impact on individuals” cognitive needs and academic performance
Keyword: Culinary education,Culinary quality, Quality of culinary education
1
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng.
2
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ.

ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ828
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhu cầu hiểu biết là xu hướng tham gia và tận hưởng các hoạt động
trí tuệ và xu hướng chung để xử lý thông tin và thành tích học tập có
thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ nhu cầu nhận thức. Nó sẽ có tác
động tích cực không chỉ đến thành tích học tập mà còn về sự hài lòng
trong học tập. Do đó, nhu cầu nhận thức là một biến số quan trọng
trong việc giải thích thành tích học tập và sự hài lòng liên quan đến
động lực nội tại trong các tình huống học tập.
Kết quả học tập đề cập đến thành tích giáo dục bằng đánh giá mức
độ đạt được các nhiệm vụ học tập trong chương trình giảng dạy, và nó
cũng là một tài liệu tham khảo để đánh giá hiệu quả việc học ở trường.
Kết quả giáo dục là mức độ đạt được các mục tiêu giáo dục và các kỹ
năng được trau dồi thông qua học tập.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ điều tra mức độ nhu cầu hiểu
biết của học viên để cải thiện chất lượng giáo dục ẩm thực trong các
trường đại học và tập trung vào chất lượng giáo dục ẩm thực ảnh
hưởng đến nhu cầu nhận thức và thành tích học tập của các cá nhân
như một nghiên cứu về thành tích học tập.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối với phạm vi không gian và thời gian của nghiên cứu này, dữ
liệu phân tích về chất lượng giáo dục ẩm thực, nhu cầu nhận thức và
thành tích học tập đã được chọn trong số các chuyên ngành ẩm thực
tại các trường đại học bốn năm ở Thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngày 3
tháng 5 đến ngày 3 tháng 8 năm 2024, tổng cộng 390 bảng câu hỏi đã
được phát cho các chuyên ngành ẩm thực với các mục về chất lượng
giáo dục ẩm thực, nhu cầu hiểu biết và kết quả học tập và 360 bảng câu
hỏi đã được trả lại. Tổng cộng có 342 bản, không bao gồm 18 bản còn
thiếu, được sử dụng làm dữ liệu phân tích cuối cùng cho nghiên cứu
này. Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi và các nội
dung liên quan đến chất lượng giáo dục nấu ăn, nhu cầu hiểu biết và
kết quả học tập, đồng thời các câu hỏi khảo sát sử dụng thang đo Likert
5 điểm. Dữ liệu khảo sát được thu thập đã trải qua quá trình mã hóa
dữ liệu và được phân tích bằng SPSS WIN 20.0 (gói thống kê dành cho
khoa học xã hội). Phân tích tần suất, phân tích độ tin cậy và phân tích

TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 829
nhân tố được sử dụng làm phương pháp phân tích và độ giá trị hội tụ
và phân biệt của các biến đo lường, đã được phân tích. Để xác minh
thống kê, phân tích chéo, phân tích tương quan và phân tích hồi quy
bội đã được tiến hành.
3. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU
3.1. Những cân nhắc lý luận về chất lượng giáo dục ẩm thực
3.1.1. Khái niệm và định nghĩa giáo dục ẩm thực
Một số thực phẩm không thể ăn sống, vì vậy hầu hết chúng được
nấu chín để làm cho chúng ngon hơn và có kết cấu mềm hơn, dễ tiêu
hóa hơn. Nói cách khác, chúng ta đề cập đến phương tiện và phương
pháp cải thiện các đặc tính cơ bản của thực phẩm và cách chế biến
thực phẩm.
Lee Ga-hee (2013) đề cập đến nấu ăn là quá trình cải tiến thực phẩm
và các đặc tính cơ bản của nó, giúp bạn dễ dàng ăn qua quá trình nêm
nếm bằng cách luộc, hấp, nướng, xào hoặc chiên. Giáo dục ẩm thực bao
gồm tất cả các nội dung liên quan đến nấu ăn, và có thể nói giáo dục
ẩm thực là giáo dục các nội dung liên quan đến nấu ăn, mà không phân
biệt giữa ẩm thực trong cuộc sống hàng ngày hoặc trong công nghiệp.
3.1.2. Định nghĩa chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ được xác định bởi các cách tiếp cận, đối tượng
và học giả khác nhau. Lewis, Boom (1983) định nghĩa chất lượng dịch
vụ là việc cung cấp dịch vụ với chi phí chấp nhận được tại thời điểm
khách hàng giành được những gì anh ta giành được trong các ràng
buộc hoạt động của doanh nghiệp và Grönroos (1984) định nghĩa nó là
chất lượng được thị thực tiêu dùng nhận thức chủ quan và định nghĩa
nó là kết quả của việc đánh giá so sánh dịch vụ nhận thức của khách
hàng so với dịch vụ được cung cấp.
Parasurarman, Zeithaml và Berry (PZB, 1988) đã định nghĩa sự
khác biệt giữa dịch vụ nhận thức của khách hàng và kết quả mà một
công ty dịch vụ nên cung cấp cho khách hàng, như thái độ hoặc đánh
giá chung của khách hàng về tính ưu việt hoặc xuất sắc của một dịch
vụ cụ thể.

ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ830
Thuật ngữ “dịch vụ giáo dục” là thuật ngữ mới và chưa được sử
dụng rộng rãi, xác định rõ ràng. Ngoài ra, có sự bất đồng về việc liệu
việc học có thuộc về dịch vụ hay không. Các học giả nghiên cứu sư
phạm thuần túy xem giáo dục là một khái niệm siêu hình và tin rằng
giáo dục không được bao gồm trong phạm vi dịch vụ, nhưng một số
học giả nghiên cứu kinh tế giáo dục, kinh doanh và kinh tế cho rằng
giáo dục trong phạm vi dịch vụ (Kwon Obong, 2011).
Chất lượng dịch vụ giáo dục được đánh giá bằng các yếu tố bên
trong liên quan đến cá nhân sinh viên (thái độ tự giác) và các yếu tố
bên ngoài do trường đại học cung cấp (thái độ giảng dạy, nội dung bài
giảng, cơ sở vật chất) và chất lượng dịch vụ giáo dục được đánh giá
bằng cách chia nó thành ba loại: yếu tố cần thiết, yếu tố chấp nhận được
và yếu tố chức năng và thuật ngữ chất lượng dịch vụ giáo dục ra đời.
3.2. Những cân nhắc lý luận về nhu cầu hiểu biết
3.2.1. Định nghĩa nhu cầu hiểu biết
Cacioppo và Petty (1982) cho rằng động lực hiểu biết bao gồm ảnh
hưởng tính cách, cũng như ảnh hưởng tình huống. Tuy nhiên, cho đến
khi khái niệm về nhu cầu hiểu biết được đề xuất, các nghiên cứu về
động lực hiểu biết chủ yếu tập trung vào các yếu tố tình huống. Nói
cách khác, tôi đã quan tâm đến việc khi nào hoặc trong hoàn cảnh nào
mọi người nghĩ với nỗ lực hiểu biết.
Nhu cầu nhận thức có một khía cạnh động lực, nhưng không giống
như các nghiên cứu trước đây, có thể nói rằng đó là một khái niệm
phản ánh ảnh hưởng tính cách. Tóm lại, nhu cầu hiểu biết là động lực
nhận thức phản ánh sự khác biệt cá nhân (Cacioppo, Petty, Feinstein,
& Jarvis, 1996).
Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhu cầu hiểu biết với
khả năng học tập và thành tích, nhu cầu hiểu biết có liên quan tích cực
đến các bài kiểm tra thành tích học tập và mức độ kiến thức về các vấn
đề hiện tại khác nhau (Hyo-Hee Lee, 2010).
Bộ xử lý kết hợp là những người có mức độ cảm xúc và hiểu biết cao,
được tự do sử dụng bất kỳ hệ thống xử lý thông tin nào (Bem, 1974).
Cảm giác dựa vào cảm xúc. Nói cách khác, các tín hiệu họ sử dụng để

TRAINING AND USING CULTURAL TOURISM HUMAN RESOURCES... 831
đưa ra quyết định là những cảm xúc như “Tôi thích sản phẩm” hoặc
“Tôi cảm thấy tốt về sản phẩm” (Booth-Butterfield, 1990).
3.2.2. Đặc điểm của nhu cầu hiểu biết
Nói cách khác, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có nhu
cầu nhận thức cao có nhiều khả năng tìm kiếm thông tin sâu hơn
những người có nhu cầu nhận thức thấp (Hye-Jin Lee, 1998).
Theo một nghiên cứu của Bailey (1997), khi ảnh hưởng của nhu cầu
nhận thức được chia thành các tình huống phán đoán và lựa chọn,
người ta thấy rằng những người có nhu cầu nhận thức thấp tìm kiếm
nhiều thông tin hơn trong các tình huống phán đoán đòi hỏi nỗ lực
nhận thức tương đối cao, trong khi ít thông tin hơn được tìm kiếm
trong các tình huống lựa chọn đòi hỏi nỗ lực nhận thức tương đối cao.
Kết quả của việc so sánh hiệu quả của nhu cầu nhận thức trong các
tình huống “mát mẻ”, thường được coi là quan trọng đối với sinh viên
đại học và trong các tình huống ”công việc”, không được công nhận là
quan trọng, những người có nhu cầu nhận thức thấp tìm kiếm thông
tin ít hơn trong cả hai tình huống nói chung, trong khi những người có
nhu cầu nhận thức cao tìm kiếm nhiều hơn trong các tình huống “mát
mẻ” hơn là trong các tình huống “công việc”.
3.3. Những cân nhắc về mặt lý luận về kết quả học tập
3.3.1. Khái niệm kết quả học tập
Theo Từ điển Giáo dục, thành tích học tập là quá trình hoặc kết quả
của việc có được kiến thức và kỹ năng là kết quả của việc học. Nói cách
khác, đó là xác định mức độ mà học sinh đạt được mục tiêu giáo dục
của mình thông qua các hoạt động học tập khác nhau trong trường.
Park Young-shin và Kim Eui-chul (2004) định nghĩa thành tích học tập
là “mức độ đạt được học tập được cảm nhận bởi từng người học”.
Các nghiên cứu gần đây về thành tích học tập ở Hàn Quốc chủ yếu
nghiên cứu các yếu tố tâm lý và môi trường, và trong số đó, các yếu tố
tâm lý như đặc điểm tâm lý của trẻ em như động lực tự điều chỉnh và
hiệu quả học tập đã được biết là có ảnh hưởng quan trọng đến thành
tích học tập của học sinh (Park Yong-hwi, 2003).

