
82
HỌC PHẦN II.
CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
BÀI 8.
PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”,
BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Chủ nghĩa đế quốc cho rằng sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là nguy cơ, là hiểm
hoạ đối với chúng. Do vậy khi chủ nghĩa xã hội mới được hình thành trên cơ sở lí
luận thì chúng đã kiên quyết chống phá, và khi chủ nghĩa xã hội được thiết lập ở
Liên Xô và các nước Đông Âu thì chúng càng điên cuồng chống phá chủ nghĩa xã
hội. Nhưng sau nhiều năm chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế
giới chúng đã rút ra bài học là không thể dùng sức mạnh quân sự đơn thuần để chiến
thắng chủ nghĩa xã hội mà cần sử dụng các biện pháp tổng lực: Chống phá về kinh
tế chính trị, văn hoá, văn nghệ, quân sự, ngoại giao “Diễn biến hoà bình” thì mới có
thể chiến thắng chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy từ giữa thế kỷ XX, chiến lược “Diễn
biến hòa bình” bắt đầu hình thành. Ban đầu “Diễn biến hòa bình” được sử dụng như
một biện pháp hỗ trợ cho các chiến lược “ngăn chặn” , “phản ứng linh hoạt”... của
chủ nghĩa đế quốc để chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới.
Gần đây, “Diễn biến hòa bình” đó trở thành chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực phản động âm mưu lật đổ chế độ chính trị - xã hội các nước xã hội
chủ nghĩa. Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc đó gúp phần quyết
định làm sụp đổ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Hiện nay: Chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện “Diễn biến hòa bình”, bạo
loạn lật đổ chống phá quyết liệt các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó Việt Nam là
một trọng điểm. Vì vậy chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là
nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
I. CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA
CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
A. CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”
“Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các
nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi
quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành1.
Mục tiêu cơ bản của chiến lược là: Nhằm thủ tiêu chủ nghĩa xã hội hiện thực,
xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
1 Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự: Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005,
tr. 303

83
Thủ đoạn để thực hiện mục tiêu trên rất đa dạng, vừa trắng trợn vừa tinh vi,
vừa công khai vừa lén lút. Chủ nghĩa đế quốc thường sử dụng các thủ đoạn như:
Xuyên tạc lịch sử, bội nhọ Đảng Cộng sản, tuyen truyền tư tưởng tư sản và tô hồng,
ca tụng xã hội tư sản hiện đại; bao vây, cô lập kinh tế, đồng thời sử dụng viện trợ để
gây sức ép, thao túng, làm chuyển hóa nền kinh tế xã hội chủ nghĩa theo con đường
tư bản chủ nghĩa; dùng các chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, các vấn đề dân tộc,
tôn giáo kích động gây mâu thuẫn nội bộ, kéo dài, mua chuộc các phần tử thoái hóa,
biến chất, bất mãn, bất đồng quan điểm, xây dựng và cài cắm lực lượng chống đối từ
bên trong, tạo nên lực lượng chống chủ nghĩa xã hội từ trong lòng các nước xã hội
chủ nghĩa.
Những thủ đoạn trên của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tác động
toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng - văn hóa, quốc phòng
- an ninh, đối ngoại; phối hợp tác động cả bên ngoài và bên trong, cả tổ chức và con
người, với tất cả các tầng lớp, thành phần xã hội trong các nước xã hội chủ nghĩa để
gây nên “tự diễn biến” từ từ, thầm lặng, làm mục rỗng từ bên trong, dẫn tới sụp đổ
chế độ xã hội chủ nghĩa.
Chiến lược “Diễn biến hòa bình” ra đời, phát triển cùng với sự điều chỉnh
phương thức, thủ đoạn chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động
quốc tế để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa . Chiến lược “Diễn biến hòa bình”
của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch hình thành và phát triển qua nhiều giai
đoạn khác nhau.
- Giai đoạn từ 1945 - 1980:
+ Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trước sự lớn mạnh của Liên Xô sự ra đời của
một loạt nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cách mạng thế giới phát triển nhanh
chóng... chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược toàn cầu: “Ngăn chặn” sự bành
trướng của chủ nghĩa cộng sản. Chiến lược này do Tổng thống Mỹ Truman khởi
xướng ngày 12/3/1947, trong đó coi trọng dùng thủ đoạn quân sự đe doạ, bao vây,
can thiệp vũ trang, cùng với tiến hành chiến tranh để “ngăn chặn” ảnh hưởng của
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
+ Trước đó ngày 22/12/1946, Kenman đại diện lâm thời của Hoa Kỳ tại Liên
Xô trình lên chính phủ Mĩ bức điện 8000 từ về kế hoạch chống Liên Xô toàn diện
hơn bao gồm: Bao vây quân sự, phong toả kinh tế; lật đổ chính trị; thậm chí dùng vũ
lực can thiệp. Cũng trong thời gian này, giám đốc CIA tuyên bố: Mục tiêu là phải
reo rắc ở Liên Xô sự hỗn loạn và phải bắt đầu bằng chiến tranh tâm lí thay giá trị
của Liên Xô bằng đồ rởm và tìm mọi cách ủng hộ và nâng đỡ đám “nghệ sĩ” để họ
truyền bá bạo lực, đồi trụy, chủ nghĩa vô liêm sỉ, phản bội vào Liên Xô. Tóm lại,
mọi thứ vô đạo đức. Từ đó chiến tranh tâm lí chống Liên Xô được nâng lên hàng
quốc sách ở Mĩ, gọi là “chiến tranh tâm lí tổng lực”.
+ Tháng 4/1948, Quốc hội Mĩ chính thức phê chuẩn kế hoạch Mác San, tăng
viện trợ để khích lệ lực lượng dân chủ, cài cắm gián điệp vào các Đảng Cộng sản để
phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Tây Âu,

84
hướng họ phụ thuộc vào Mĩ. Trong hai năm 1949 - 1950 Mĩ đó chi 50 triệu đô la
cho hoạt động chiến tranh tâm lí chống Liên Xô
+ Năm 1949 Mĩ lập Uỷ ban châu Âu tự do có đài phát thanh riêng. Tháng 7
năm 1947, khi đó trở về Oasinhtơn giữ chức Phó giám đốc học viện quốc phòng,
chuyên trách về đối ngoại, Kennan lại trình bầy những biện pháp bổ sung cho chiến
lược “ngăn chặn”: bên cạnh việc tăng cường vũ lực và sẵn sàng sử dụng vũ lực, cần
tăng cường viện trợ cho các nước xung quang Liên Xô.
Như vậy, cho đến đầu thập kỷ 50, với chủ nghĩa Truman ý tưởng “Diễn biến hòa
bình” đó được bổ sung cho chiến lược tiến công quân sự của Mĩ chống Liên Xô.
+ Từ năm 1953, Aixenhao nhận chức tổng thống và 1956 lại trúng cử nhiệm kỳ
II đến năm 1961, chính phú Mĩ đó đề ra chiến lược quân sự “trả đũa ồ ạt” Aixenhao
dựa vào sức mạnh của răn đe vũ khí hạt nhân để thực hiện “ngăn chặn” chủ nghĩa
cộng sản. Mĩ đó đưa quân đi khắp thế giới, can thiệp vào nội bộ chính trị các nước
trong thế giới thứ ba. Trong đó chúng coi chiến trường Việt Nam là mục tiêu chính
để phá hoại chủ nghĩa xã hội và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Song song với chiến lược trả đũa ồ ạt, học thuyết “Ngăn chặn phi vũ trang” của
Kenman được tán dương và hưởng ứng, bổ sung bởi các học giả của tập đoàn thống
trị Mĩ, xuất hiện ý tưởng “hòa bình giải phóng” của AlenDalet. Như vậy, ý tưởng
“Diễn biến hòa bình” được bổ sung và trở thành biện pháp của chiến lược “Ngăn
chặn” của đế quốc Mĩ.
+ Tháng 01/1961 Kennơđi thay Aixenhao và đưa ra chiến lược “phản ứng linh
hoạt” cùng chiến lược “hoà bình”, thực hiện chính sách “mũi tên và cành ô liu”. Từ
đây, “Diễn biến hòa bình” bước đầu trở thành chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế
quốc và luôn đi cùng sức mạnh quân sự.
+ Tháng 12/1963 Kennơđi bị ám sát, phó tổng thống Giôn xơn thay thế, kiêm
nhiệm tới năm 1969, Giôn xơn thúc đẩy chạy đua vũ trang, triệt để dùng sức mạnh
quân sự đi kèm với những hoạt động phá hoại bằng chính trị mà điển hình là: các vụ
bạo loạn ở Cộng hòa dân chủ Đức (1953), Ba lan, Hungary (1956), Tiệp Khắc
(1968). Do lực lượng các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên bang Xô Viết lớn
mạnh, chúng lấy chiến lược “phản ứng linh hoạt” thay cho chiến lược “trả đũa ồ ạt”
và tìm kiếm những biện pháp mới đi cùng các hoạt động quân sự chống phá hệ
thống xã hội chủ nghĩa.
+ Từ năm 1961 Mĩ tiến hành “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh Cục bộ”
đưa 50.000 quân vào Miền Nam, bị quân và dân ta đánh cho thất bại. Tháng 3/1968
GiônXơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom Miền Bắc Việt Nam, Phải tiến hành
đàm phán tại hội nghị Pari, “chiến lược phản ứng linh hoạt” bị phá sản.
+ Từ 1968 - 1972 Nichxơn trúng cử tổng thống trong bối cảnh so sánh lực
lượng Mĩ - Xô thay đổi nhất là lực lượng hạt nhân chiến lược đang ở thế cân bằng,
thất bại trong chiến trường Trung đông, Việt Nam. Nichxơn thực hiện chiến lược
quân sự “răn đe thực tế” mục đích là ngăn chặn phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc, phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa đang diễn ra trên toàn thế giới.

85
+ Cũng trong thời gian này Mĩ thực hiện chính sách ngoại giao “cây gậy và củ
cà rốt” tuy vẫn coi trọng răn đe vũ khí hạt nhân nhưng đó chủ trương tăng cường
tiếp xúc, hoà hoãn với các nước xã hội chủ nghĩa , tiến hành thẩm thấu tư tưởng văn
hoá, gieo rắc hạt giống chống phá từ bên trong... thúc đẩy tiến trình, “Diễn biến hòa
bình” đối với các nước xã hộ chủ nghĩa. Chính Ních xơn đã nêu ra chính sách đối
ngoại của Mỹ đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa là dùng đối thoại thay
cho đối đầu. Đàm phán trên thế mạnh là thủ đoạn của Níchxơn để thực hiện “Diễn
biến hòa bình” .
+ Tháng 12/1957, Tổng thống Aixenhao tuyên bố “Mĩ sẽ giành thắng lợi bằng hòa
bình” và mục đích của chiến lược để làm suy yếu và lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa .
- Giai đoạn từ năm 1980 đến nay:
+ Chủ nghĩa tư bản đạt được ổn định và có bước phát triển. Nhiều nước xã hội
chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, thực hiện đường lối cải tổ, cải cách sai lầm, dẫn
đến khủng hoảng trầm trọng. Lợi dụng cơ hội đó, chủ nghĩa đế quốc hoàn chỉnh
chiến lược “Diễn biến hòa bình” và ráo riết thực hiện. Nhằm làm sụp đổ Liên Xô,
các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác. Có thể
lấy năm 1988, Níchxơn xuất bản cuốn sách “1999, chiến thắng không cần chiến
tranh” làm mốc cho sự hoàn chỉnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” .
+ Thất bại trong chiến lược sử dụng lực lượng quân sự mà điển hình là Việt
Nam - Trong nhiệm kỳ 2 (những năm 80) của tổng thống Rigân, điều chỉnh chiến
lược toàn cầu từ “răn đe thực tế bằng quân sự” sang chiến lược “Diễn biến hòa
bình” với các nước xã hội chủ nghĩa mà khởi nguồn là chính sách ngoại giao của
cựu ngoại trưởng Mĩ Hen.Kitxingiơ và công cuộc cải tổ chính trị của nguyên
Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.C.Gobachov mà kết quả của nú là sự tan
ró của các nước xã hộ chủ nghĩa ở Đụng Âu và Liên Xô, sự thoái trào của chủ
nghĩa xã hội.
+ Sau sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục ra sức sử dụng chiến lược “Diễn biến
hòa bình” để thực hiện âm mưu xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Các thế
lực thự địch cho rằng, phải làm xói mòn tư tưởng, đạo đức và niềm tin cộng sản của
thế hệ trẻ để “tự diễn biến”, tự suy yếu, dẫn đến sụp đổ, tan ró chế độ xã hội chủ
nghĩa ở một số nước còn lại.
B. BẠO LOẠN LẬT ĐỔ
Là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay
lực lượng li khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành gây rối
loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền ở địa phương
hay trung ương1.
- Về hình thức của bạo loạn, gồm có bạo loạn chính trị, bạo loạn vũ trang hoặc
bạo loạn chính trị kết hợp với vũ trang.
1 Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự: Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005,
tr. 63.

86
- Trên thực tiễn, bạo loạn lật đổ là một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các
thế lực phản động gắn liền với chiến lược “diễn biến hòa bình” để xoá bỏ chủ nghĩa
xã hội. Khi tiến hành bạo loạn lật đổ, các thế lực thù địch thường kích động những
phần tử quá khích, làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội ở một số khu vực và trong
một thời gian nhất định (thường chỉ diễn ra trong không gian hẹp và thời gian ngắn)
tiến tới lật đổ chính quyền ở địa phương hoặc nhà nước xã hội chủ nghĩa.
- Quy mô bạo loạn lật đổ, có thể diễn ra ở nhiều mức độ, từ quy mô nhỏ đến
lớn. Phạm vi địa bàn xảy ra bạo loạn lật đổ có thể ở nhiều nơi, nhiều vùng của đất
nước, trọng điểm là những vùng trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hoá của Trung
ương và địa phương, nơi nhạy cảm về chính trị hoặc ở các khu vực, địa bàn mà cơ
sở chính trị của địa phương yếu kém.
II. CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA
CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
A. ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chủ nghĩa đế quốc cùng các thế lực thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng
điểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống chủ nghĩa xã hội.
Từ đầu năm 1950 - 1975, chủ nghĩa đế quốc dùng hành động quân sự để xâm
lược và muốn biến Việt Nam thành thuộc địa vĩnh viễn của chúng nhưng cuối cùng
đó bị thất bại hoàn toàn. Sau khi sử dụng những đũn tấn cụng bằng quân sự để xâm
lược Việt Nam không thành công, chúng đó chuyển sang chiến lược mới như “bao
vây cấm vận kinh tế”, “cô lập về ngoại giao” kết hợp với “diễn biến hòa bình”, bạo
loạn lật đổ nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Lợi dụng thời kì nước ta gặp nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, từ năm 1975 -
1994 do hậu quả của chiến tranh để lại và sự biến động chế độ xã hộ chủ nghĩa ở
Liên Xô, Đông Âu, các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”
đối với Việt Nam.
Từ năm 1995 đến nay, trước những thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước theo định hướng xã hộ chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo, thì các thế lực thự địch lại tiếp tục điều chỉnh thủ đoạn
chống phá cách mạng nước ta. Chúng đó tuyên bố xoá bỏ “cấm vận kinh tế” và
bình thường hoá quan hệ ngoại giao để chuyển sang thủ đoạn mới, đẩy mạnh hoạt
động xâm nhập như: “Dính líu”, “ngầm”, “sâu, hiểm” nhằm chống phá cách mạng
Việt Nam.
Mục tiêu nhất quán của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong sử
dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam là thực hiện âm mưu xoá bỏ
vai trò lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta đi theo con
đường chủ nghĩa tư bản và lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc,... Để đạt được mục tiêu
đó, các thế lực thù địch không từ bỏ bất kì thủ đoạn chống phá nào như sử dụng bạo

