
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ
----------------------------------
THỰC HÀNH HÓA SINH
KHOA DƯỢC
HÀ NỘI – 2021
LƯU HÀNH NỘI BỘ

2
QUY TẮC LÀM VIỆC TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM HÓA SINH
1. An toàn khi làm việc với acid và kiềm
a. An toàn khi làm việc với acid
Phải làm việc trong tủ hút bất cứ khi nào đun nóng acid hoặc thực hiện phản ứng
với các acid tự do.
Khi pha loãng luôn phải cho acid vào nước.
b. An toàn khi làm việc với kiềm
Kiềm có thể làm cháy da.
Mang găng tay, khẩu trang khi làm việc với dung dịch kiềm.
Thao tác trong tủ hút, mang mặc nạ chống độc để phòng ngừa hít phải bụi và hơi kiềm.
2. Quy tắc làm việc với hóa chất thí nghiệm
Hóa chất thí nghiệm: Các hóa chất dùng để phân tích, làm tiêu bản, tiến hành phản
ứng, trong phòng thí nghiệm được gọi là hóa chất thí nghiệm.
Nhãn hiệu hóa chất: Hóa chất được bảo quản trong chai lọ, thủy tinh hoặc nhựa
đóng kín có nhãn ghi tên hóa chất, công thức hóa hoc, mức độ sạch, tạp chất, khối lượng
tịnh, khối lượng phân tử, nơi sản xuất, điều kiện bảo quản.
Cách sử dụng và bảo quản hóa chất:
- Khi làm việc với hóa chất, nhân viên phòng thí nghiệm cũng như sinh viên cần hết
sức cẩn thận tráng gậy những tai nạn đáng tiếc cho mình cũng như cho người khác.
- Bao giờ cũng đổ nước vào acid hay bazơ đặc khi pha loãng.
- Không hút acid hay bazơ bằng miệng mà phải dùng các dụng cụ riệng như: công
tơ hút, pipet, …..
3. Các chất dễ cháy và các chất có khả năng cháy
Các chất lỏng dễ cháy được sử dụng rất nhiều hàng ngày trong các phòng nghiên
cứu hoa sinh là những chất rất nguy hiểm vì chúng dễ cháy hoặc dễ gây nổ. Chúng được
xếp loại theo điểm bốc cháy (là nhiệt độ mà ở đó hơi của chúng có khả năng bốc lên để
tạo thành một hỗn hợp dễ cháy với không khí).
- Chất lỏng dễ chảy có nhiệt độ bốc cháy < 37,8 °C (100F).
- Chất lỏng có khả năng cháy có điểm bốc cháy ở nhiệt độ > 37,8 °C (100F).
Một số chất lỏng dễ cháy và có khả năng cháy thường được sử dụng là: Acetone,
benzene, ethanol, isopropanol, methanol, toluene, xylene, heptane.

3
Chú ý: các chất dễ cháy còn gồm các loại chất khí và chất rắn như paraffin. Trước
khi mở nút chai chứa các chất dễ cháy cần tránh xa ngọn lửa. Không được đun bình chứa
các chất dễ cháy trực tiếp trên ngọn lửa mà phải đun cách thuỷ hoặc đun trên bếp điện kín.
4. Các chất ăn mòn
Bao gồm: Các acid như acid acetic, acid sulfuric, acid nitric, acid clohydric, acid
tricloacetic (TCA), acid orthophosphoric, acid percloric.
Các kiểm mạnh như: Ba(OH)2, NaOH và KOH.
Không được dùng pipet hút trực tiếp bằng miệng các chất ăn mòn (dùng pipet có
lấp quả bóp cao su, hoặc pipet tự động).
Việc đổ rót các dung dịch ăn mòn phải thận trọng, tử từ, làm thấp dưới tẩm mắt và
luôn đeo kính bảo vệ.
Việc hoà tan các chất ăn mòn ở thể rắn, thể đặc (ví dụ: Hoà NaOH vào nước hoặc
hoà loãng các acid đặc) phải hết sức thận trọng vì đây là những phản ứng toả nhiệt, có
thể gây bỏng.
Chú ý: khi hoà loãng acid phải đổ acid vào nước để lượng acid bao giờ cũng ít hơn
nước và phải đổ từ từ. Không được đổ nước vào acid vì điều này sẽ gây toả nhiệt lớn,
vỡ bình và acid bắn ra xung quanh và gây nguy hiểm
Xử lý khi hút phải acid: Dùng NaHCO3 3% xúc miệng, sau đó xúc miệng bằng nước
sạch nhiều lần.
Xử lý khi hút phải kiềm hoặc kiềm dính vào da: Xúc miệng hoặc rửa bằng acid
acetic 1%, sau đó xúc miệng hoặc rửa bằng nước nhiều lần.
5. Các hoá chất độc
Những hóa chất độc là những chất có thể gây chết người hoặc gây bệnh nếu ăn phải,
uống phải, ngửi phải hoặc tiếp xúc trực tiếp qua da, mắt, ... Những chất độc phổ biến
trong phòng thí nghiệm là: KCN, Hg(NO3)2, sodium azide, sodium nitroprusside,
thiosemicarbazide, chloroform, methanol, ...
Cần hết sức thận trọng khi thao tác hoặc tiếp xúc với các hoá chất độc.
Phải thực hiện nghiêm chỉnh việc sử dụng các trang thiết bị cá nhân phù hợp khi
thao tác với các hoá chất độc.
6. An toàn về phòng, chống cháy
a. Phân loại chất cháy, nổ
Dựa theo tính chất tự nhiên của sự cháy và các thiết bị chữa cháy, người ta chia
nguyên liệu cháy thành 4 loại:

4
Loại A: Chất liệu rắn thông thường: Giấy, gỗ, nhựa, cao su, vải, ...
Loại B: Chất lỏng và khí dễ cháy như: Xăng, dầu, mỡ, sơn, ...
Loại C: Các thiết bị điện, động cơ, bộ phận ngắt điện, ...
Loại D: Kim loại dễ cháy, dễ phản ứng: Magnesi (Mg), Natri (Na), Kali (K)
b. Cách sử trí cháy, nổ
Phải tuỳ theo bản chất cháy mà chữa cho đúng cách, bởi vì nếu dùng sai chất chữa
cháy nhiều khi không dập tắt được chúy mà còn nguy hiểm hơn.
Loại A: Đối với các chất liệu rằn thông thường như: Giấy, gỗ, nhựa, cao su, Vải ....
khi các vật liệu này bị chảy có thể dập lửa bằng nước hoặc hoá chất khô.
Loại B: Đối với các chất lỏng và khí dễ cháy như: Xăng, dầu, mỡ, sơn, …. khi các
vật liệu này bị chảy có thể dập lửa bằng CO2, hoặc hoá chất khô (không dung nước).
Loại C: Đối với các thiết bị điện, động cơ, bộ phân ngắt điện, ... Khi các vật liệu này
bị chảy có thể dập lửa bằng CO, hoặc hoá chất khô.
Loại D: Đối với các kim loại để chảy như Mg, Na, K, ... khi các vật liệu này bị chảy
có thể dập lửa bằng cách phủ lên kim loại cháy bằng hoá chất dập lửa khô,
c. Đối với cho thiết bị điện
Phòng thí nghiệm nào cũng sử dụng rất nhiều thiết bị điện, máy móc. Điện giật có
thể trực tiếp gây chết người, sốc, bảng điện có thể gây cháy, nổ. Vì vậy:
- Không đặt các thiết bị diện ở nơi ẩm ướt.
- Phải hết sức cẩn thận khi sử dụng các thiết bị có điện cao thế cao.
- Các thiết bị tiên phải có dường dây nối với đất.
- Không bao giờ được vận hành thiết bị diện với bàn tay ướt.
- Phải kiểm tra các dây diện bị sờn, rách. Không làm việc với dây điện bị hở lõi đồng.
- Phải kiểm tra ngay khi thiết bị có tiếng kêu lạ
- Phải biết chính xác chỗ đặt cấu dao trong phòng thí nghiệm.
- Khi bị điện giết phải lập tức các cầu dao điện, cấp cứu người bị giật kịp thời và
gửi ngay đến cơ sử cấp cứu gần nhất
Phòng thí nghiệm phải được thiết kế có đủ các vòi nước chữa cháy sao cho tất cả
các vị trí đều có thể có nước cứu hoả, mỗi phòng thí nghiệm đều phải có bình chữa cháy CO2.
d. Đối với các khí nén
Các khí nén thường được sử dụng trong các phòng thí nghiệm như: O2, CO2, N2,
acetylene, propane, butane, ..., để làm thí nghiệm hoặc để đun nấu, có thể gây cháy, nổ,
gây ngạt hoặc tổn thương cơ năng. Một số yêu cầu đối với việc sử dụng các khí nên này:

5
- Phải biết rõ loại khí ta sẽ sử dụng.
- Các bình khí nén phải được đặt thẳng đứng.
- Các bình khí nén phải luôn được đóng kín.
- Không bao giờ được đặt các chất lỏng dễ cháy và các bình khí nén cùng một chỗ.
- Phải sử dụng bộ phận điều chỉnh (các van) đúng với loại khí được sử dụng. Không
được tuỷ tiện thử điều chỉnh hoặc đóng, mở khí nén bằng bộ phận điều chỉnh khi không
sử dụng khí đó.
- Không được tháo bỏ nắp bảo vệ của bình khí nén khi chưa sử dụng bình khí.
- Không được để đóng băng hoặc gắn chặt van binh khí.
- Phải sử dụng xe đầy để vận chuyển các bình khí lớn.
- Phải luôn kiểm tra tình trạng an toàn của bình khí và phải định kỳ phải xem có
sự rõ rỉ khí hay không.
- Phủ kiểm tra nhân mắc binh khí để biết về loại khí chứa trong bình.
- Hình hết khi phải được ghi chữ “bình rỗng” trên vỏ bình.
7. Các trang thiết bị bảo vệ các nhân
Các phần cơ thể hay bị tổn thương khi làm việc trong phòng thí nghiệm là mắt, da,
đường hô hấp và tiêu hoa. Vì vậy, việc sử dụng các trang thiết bị bảo vệ cá nhân là rất
cần thiết. Cần trang thiết bị gồm các vật dụng sau:
- Kính mắt, kính bảo hộ, tấm che mặt hoặc tạp dề là những trang thiết bị giúp bảo
vệ mất và mặt người làm thí nghiệm khỏi các chất hoá học bản ra. Kính áp tròng không
có tác dụng bảo vệ mắt nên không nên đeo khi làm việc ở phòng thí nghiệm. Bất kỳ một
dung dịch nào bắn vào mắt đều phải rửa mặt ngay.
- Găng tay và ống tay bằng cao su cần được sử dụng khi thao tác với các hoá chất
ăn da. Các găng tay nhựa latex cần được sử dụng hàng ngày trong phòng thí nghiệm.
Tuy nhiên, các găng tay bằng polyvinyl có thể được sử dụng thay thế đổi với những
người dị ứng với nhựa latex.
- Áo choàng trong phòng thí nghiệm (áo choàng labo) phải có đủ độ dài, đủ khuy và
được chế tạo từ các vật liệu không thấm chất lỏng.
- Khẩu trang được sử dụng trong một số quá trình làm việc trong phòng thí nghiệm.
Khi sử dụng các chất độc sinh học, hoá học, hoặc các chất độc đặc biệt phải sử dụng
khẩu trang đặc chủng phủ hợp. Phải sử dụng khẩu trang phòng độc có bộ lọc khí đặc
biệt khi làm việc trực tiếp với các bệnh nhân lao hoặc khi thực hiện các thao tác có phơi

