121
TẠP CHÍ KHOA HỌC
Khoa học Xã hội
ThS. Khổng Quỳnh Hương (2023)
(31): 121-128
TĂNG CƯỜNG TÍNH TÍCH CỰC VÀ CHỦ ĐỘNG CỦA SINH VIÊN
KHÔNG CHUYÊN TIẾNG ANH NĂM THỨ NHẤT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM
TRONG CÁC GIỜ HỌC TIẾNG ANH
ThS. Khng Quỳnh Hương
Trường Đại hc Tây Bc
Tóm tắt: Bằng phương pháp nghiên cứu định tính phương pháp nghiên cứu định, nghiên cứu này tìm
hiểu thái độ của người học, phong cách làm việc nhóm tác dụng của các hoạt động nhóm trong giờ học
Tiếng Anh đối với sinh viên năm thứ nhất, trường Đại học Tây Bắc. Ngoài ra, nghiên cứu còn ớng tới
mục tiêu tìm ra những khó khăn giảng viên sinh viên thường gặp trong tổ chức, thực hiện các hoạt
động nhóm.
Từ khóa: làm việc nhóm, tính chủ động, tính tích cực, sinh viên không chuyên năm nhất
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong dy học, người ging viên va
người hướng dẫn, người định hướng, c vn
cho sinh viên đồng thi phải người nghiên
cu, m tòi phát hin cái mi, m rng làm
phong phú sâu sắc hơn những tri thc khoa hc
do mình ging dy để không ngng tiến b (Lo
and Hyland 2007:106). Quá trình đó không chỉ
hp khía cnh ch lu kiến thc, tìm tòi
kiến thc mi rộng hơn cả v phương
pháp ging dy. Mun tạo được mt môi
trường hc tập năng động hp dn cn s
phi hp tích cc gia thy và trò.
Tại trường Đại hc Tây Bc, hu hết các
ging viên b môn Ngoi ng được đào tạo
theo phương pháp dạy hc mới: theo đường
hướng giao tiếp. Chúng tôi đu hiểu được tm
quan trng ca vic s dng th thut hc
nhóm đ làm tăng tính chủ động ca sinh viên
năm thứ nht trong các gi hc Tiếng Anh.
Tuy nhiên hin nay, s th động trong sinh
viên mt hiện tượng ph biến trong các
trường Đại hc, tại trường Đại hc Tây Bc
cũng xut hin hiện tượng này. Các sinh viên,
đặc biệt sinh viên năm nhất được to thói
quen đọc chép t ph thông, bước vào môi
trường Đại hc hc, đứng trước phương pháp
dy hc hoàn toàn khác, nhiu sinh viên
không theo kp bài, hoang mang, và buông lng
chuyn học. Đối với sinh viên năm thứ nht,
thi gian biu còn khá trng, các em thay t
hc hay nghiên cu c vấn đề được thy
hướng dn thì li dùng khong thời gian đó cho
nhng hoạt động vui chơi giải trí, thư giãn.
Ngoài ra các em cũng chưa hiu hế được mc
đích và tầm quan trng ca môn học, đặc bit là
nhng môn chung, ch học để đối phó. Chính
những điều trên, sau cùng làm cho sinh viên th
động trong hc tp, s th động các môn
chung, bc l rõ rệt hơn so vi các môn chuyên
ngành.
Tình huống trên đặt ra yêu cu cp thiết cn
phi nghiên cu v hiu qu ca vic áp dng
th thut hoạt động nhóm trong gi hc Tiếng
Anh; các qui trình t chc các hoạt động nhóm
trong gi hc Tiếng Anh; t đó thể nâng cao
tính tích cc, ch động ca sinh viên không
chuyên trong các gi hc Tiếng Anh.
2. CƠ SỞ LÝ LUN
2.1. Tình hình nghn cu vn đ ti
Vit Nam
Vit Nam, hin ti, mt s nghiên cu
v làm việc nhóm đã được thc hin trong các
lp EFL tại các trường đại hc Vit Nam (Le,
Janssen, and Wubbels 2018; L.T.N. and N.B.
2017; McDonough 2004; Nguyen 2013;
Thuong and Huong 2017) mt vài nghiên
cu chính thc v vic trin khai hc tp thông
qua làm vic nhóm Vit Nam, mt s nghiên
cu (ví d: (Bắc, Hạnh, and Hương 2019) đã
ch ra rng giáo viên sinh viên Vit Nam
122
mun áp dng các hoạt động nhóm trong lp
học hơn tham gia vào những hoạt động
nhân để ci thin k năng hợp tác ca sinh viên.
ng hot động nhóm đã tr thành mt phn
không th thiếu trongc lp hc tiếng Anh. Tuy
nhiên, u hi v vic đến sinh viên các lp
không chuyên tiếng Anh ti trường Đại hc Tây
Bc, nơi đa phần sinh viên người dân tc
thiu s, s có thái độ học như thế o vn chưa
đưc gii đáp. Do đó, nghiên cứu này đã xemt
vic qun công vic ca ging vn trong các
lp Tiếng Anh không chuyên của Trường Đại
hc Tây Bc, khu vc Tây Bc trong bi cnh
dy hc hin nay ti Vit Nam.
2.2. Phương php dy hc theo đưng
hưng giao tip
Việc dạy học theo đường hướng giao tiếp
(tên tiếng Anh Communicative Language
Teaching, viết tắt CLT) đã xuất hiện từ cuối
những năm 1960 đánh dấu sự khởi đầu của
công cuộc đổi mới trong việc dạy ngoại ngữ với
những nguyên tắc mà hầu hết mọi người đều
chấp nhận. Theo Hymes (1972), phương pháp
này hiện giờ được coi một xu hướng nhằm
mục đích tạo ra hiệu quả cho việc dạy ngoại
ngữ phát triển quá trình dạy bốn k năng để
liên kết ngoại ngữ với giao tiếp. Việc dạy ngôn
ngữ theo đường hướng giao tiếp đã tận dụng
những tình huống thật lại cần thiết cho
việc liên hệ và giao tiếp. Vì thế, tầm quan trọng
của CLT cung cấp cho sinh viên những
hội sử dụng ngôn ngữ vào những mục đích giao
tiếp của họ.
2.3. Tnh tch cc vchđng ca sinh vin
Theo Mc Donough, K (2004), nh ch cực,
chủ động của sinh viên thể được nhận định
theo 3 hình thức giao tiếp: giao tiếp giữa sinh
viên giáo viên, sinh viên sinh viên, cuối
cng sinh viên môi trường. Cuốn sách đã
được dịch sang Tiếng Việt tên “Tiến tới một
phương pháp phạm tương tác” (Denomme,
J. M., & Roy, M. 2000) đcập vcấu trúc
hoạt động dạy học được quy gộp trong một “bộ
ba” gồm người học – người dạy – môi trường.
Việc giao tiếp giữa sinh viên giáo viên bao
gồm sự quan tâm, sự giao tiếp, sự hợp tác giữa
hai đối tượng này trên lớp. Những sinh viên
sự giao tiếp tốt với giáo viên trên lớp thường
tham gia rất nhiệt tình những buổi thảo luận
trên lớp, luôn luôn đáp ứng đầy đủ những yêu
cầu của giáo viên. Chính thế họ sẽ trở thành
trung tâm của lớp học.
Chính thế, tính tích cực của sinh viên liên
quan đến sự năng động của họ, sự thành công
của họ trong việc hoàn thành các hoạt động
sự chú đến những đang xảy ra trong lớp
học của chính họ.
2.4. Tổ chc lp hc theo hnh thc nhm
Theo Doff (1995), hình thức làm việc theo
nhóm một hình thức trong đó “giáo viên chia
lớp thành những nhóm nhỏ để làm việc cng
nhau (thường bốn hoặc năm sinh viên trong
một nhóm, tất cả các nhóm sẽ làm việc cng
một thời điểm).
Vic s dng hoạt động nhóm thúc đẩy vic
thu nhn thông tin mt s thuc nh mong
mun khác, chng hạn như k năng giao tiếp,
tình đồng nghip, rèn luyện duy, giải quyết
vấn đề, suy ngh khách quan về trách nhim
hc tp, phân b thông tin tôn trọng người
khác. Làm vic nhóm thc s to ra mt môi
trường nơi sinh viên "dạy" và giải thích tưởng
cho nhau.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hai phương pháp nghiên cứu được vận dụng
trong nghiên cứu này, đó phương pháp
nghiên cứu định tính (thu thập số liệu từ phỏng
vấn quan sát lớp học) phương pháp
nghiên cứu định lượng (thu thập số liệu từ
phiếu điều tra).
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu liên quan
đến hiệu quả của việc sử dụng phương pháp
làm việc nhóm, tác giả tiến hành một nghiên
cứu nhỏ. Trong học kỳ thứ 2 (15 tuần), giảng
viên thiết kế các hoạt động giúp cho sinh viên
hội tương tác trong nhóm nhỏ chia sẻ tài
liệu giữa các thành viên, thực hiện các hoạt
động học tập tương tác. Các phiếu điều tra cũng
được phát cho 02 giảng viên 90 sinh viên
năm thứ nhất vào đầu học k 2 năm học 2021
2022. Bảng câu hỏi khảo sát một u hỏi
thang điểm Likert năm điểm. Bảng câu hỏi
tổng cộng 41 câu hỏi với bốn phần chính: (1)
thông tin nhân; (2) tần suất sử dụng hoạt
động nhóm trong lớp; (3) thái độ của sinh viên
đối với làm việc nhóm trong các bài học; và (4)
123
câu hỏi chung về kinh nghiệm của sinh viên.
Bằng cách này, phản hồi của những người tham
gia được đo lường bằng các lựa chọn từ (1)
hoàn toàn không đồng , (2) không đồng , (3)
trung lập, (4) đồng , (5) hoàn toàn đồng . Sau
khi hoàn thành khảo sát, dữ liệu từ bảng câu hỏi
được tính toán và phân tích bằng Excel.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Dựa vào kết quả phân tích phiếu điều tra
quan sát ghi chép, tác giả sẽ trình bày một phần
kết quả thu nhận được như sau:
3.1. Thi độ tích cực của ngưi hc trong
làm việc nhm
Bảng 1 cho thấy quan điểm tích cực về trải
nghiệm của sinh viên trong tham gia hoạt động
nhóm. Một nửa số người tham gia phản ánh
tích cực khi làm việc theo nhóm. Cụ thể, 54,4%
số sinh viên cng quan điểm rằng các em
thể làm bài tốt hơn nếu có sự trao đổi cng với
người khác. Sinh viên học được nhiều hơn hoặc
được thụ hưởng điều khác biệt khi làm việc
theo nhóm so với khi làm việc một mình. Điều
đó ngha các em cần sự phối hợp chặt
chẽ đoàn kết với các bạn trong việc giải
quyết các câu hỏi của giảng viên hướng dẫn.
“Em học được nhiều hơn khi làm việc theo
nhóm so với làm việc nhân. Em nhận được
nhiều hơn thông qua ơng tác với c thành
viên khác trong nhóm. (Sinh viên A, Trích
đoạn phỏng vấn 6) hay “Sau khi hoàn thành
các dự án nhóm, em thấy mình hợp tác hơn
trong cách tiếp cận tự tin với mọi người sau
khi làm việc nhóm.”(Sinh viên G, Trích đoạn
phỏng vấn 5)
Liên quan đếnch điều phốiơng tác của
những sinh viên học lực tốt hơn trongc cuộc
thảo luận, kết qu cho thấy sinh viên có học lực
yếu hơn sẽ tích cực n khi c em được tôn
trọng kiến, và không bị các thành viên khác chế
giễu hay coi thường về trình độ của mình. Tuy
nhn, sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm
ca được bền chặt n mong muốn.
Đối với câu 19, sinh viên giỏi người biết
tôn trọng cởi mở trong việc tiếp thu kiến
của người khác, dữ liệu cho thấy 52,2% người
tham gia đánh giá các trưởng nhóm nếu
năng lực Tiếng Anh tốt người biết lắng nghe
lắng nghe một cách cẩn thận những kiến
của các thành viên trong nhóm. Trong quá trình
thảo luận không tránh khỏi việc những bất
đồng về quan điểm, tuy nhiên không nhiều
những xung đột đáng kể giữa các nhóm sinh
viên mức độ tôn trọng của sinh viên đối với
các sinh viên khác chấp nhận được. Nhận
thức của sinh viên không chuyên tiếng Anh về
trải nghiệm của bản thân khi làm việc nhóm
cho thấy các em thích làm việc nhóm hơn, khả
năng tiếng Anh của các em được cải thiện, với
67,8% cho câu hỏi 22. Em cảm thấy tự tin hơn
và có trách nhiệm hơn với chính mình học tập.”
(Sinh viên B, Trích đoạn phỏng vấn 11).
88,9 % sinh viên tham gia khảo sát cho biết
nhiều nhiệm vụ được giao bởi giảng vn rất k
tự xử l. c em mong muốn thầy các
thành viên những người biết lắng nghe
th trợ giúp hữu ích cho các em. “Những bạn
kc giải thích cho em, chúng em giúp đỡ lẫn
nhau.(Sinh viên C, Trích đoạn phỏng vấn 7).
N đã chra u hỏi 21, 83,3% sinh viên
tr lời rằng làm việc nhóm giúp các em tương c
thể hiện tưởng tốt n. Người học nhn ra
tầm quan trọng của nhóm đối với việc giảng dạy
học tập trong lớp học và phản ứng ch cực về
việc thiết lập nhóm. “Các dự án làm việc nhóm
cho phép em vận dụng các kỹ năng nếu như
hoạt động cá nn em sẽ không làm được. (Sinh
viên D, Trích đoạn phỏng vấn 3).
Bảng 1: Thi độ tích cực của ngưi hc
vi hot động nhm
Câu hỏi
Số
SV
Giá
trị
TB
Độ
lệch
chuẩn
%*
Q8. Em làm bài tập
của mình tốt hơn
khi được làm việc
trong các nhóm.
49
3.58
0.887
54.4
Q16. Em luôn lắng
nghe tất cả các 
kiến của các thành
viên để có thể hiểu
và quyết định xem
câu trả lời của bạn
là đúng hay sai.
80
4.20
0.837
88.9
Q19. Trưởng nhóm
và các thành viên
khác đều chú 
lắng nghe khi em
nêu  kiến.
47
3.51
0.838
52.2
124
Q20. Các thành
viên khác thực sự
đồng tình với 
kiến của em.
34
3.61
3.207
37,8
Q21. Làm việc
nhóm giúp em
tương tác với giảng
viên và những
người khác để bày
tỏ  tưởng và quan
điểm của mình mà
không do dự.
75
4.03
0.756
83.3
Q22. Em thích làm
việc nhóm hơn,
giúp em cải thiện
được tiếng Anh.
61
3.70
0.771
67.8
*%: “đồng ý” and “hoàn toàn đồng ý”.
Bảng câu hỏi trên, cng với sự quan sát
phỏng vấn của tác giả, chứng minh rằng các
sinh viên bày tỏ quan điểm tích cực đối với việc
đưa làm việc nhóm vào lớp học tiếng Anh từ
hoạt động nhóm đến sự hợp tác giữa các thành
viên các em được cung cấp một môi trường
học tập thoải mái, một lớp học không sự
phán xét với một bầu không khí hài a, thân
thiện. Các em được tự do y tỏ quan điểm
nhân, chính vậy mức độ tương tác giữa sinh
viên sinh viên giảng viên sinh viên tăng
lên rõ rệt.
ràng, khi học tập hay hợp tác nhóm, các
thành viên của nhóm cần nhận thức rằng họ
cng trong một nhóm họ sự phụ thuộc
tích cực lẫn nhau. Cả nhóm phải cng hoàn
thành một nhiệm vụ chung, chính vậy, mỗi
thành viên cần phải cố gắng hết sức mình,
không phải chỉ thành tích cá nhân, còn vì
thành công kết quả cuối cng của cả nhóm,
cái được tạo nên từ sự cố gắng của từng người
trở thành niềm vui chung của tất cả
(Feichtner and Davis 1984). Họ gắn kết với
nhau theo phương thức: mỗi người cũng như
toàn nhóm không thể thành công nếu mỗi thành
viên không cố gắng hoàn thành trách nhiệm của
mình. Làm thế nào để các thành viên trong
nhóm phải phụ thuộc ch cực vào nhau vấn
đề mỗi thành viên, đặc biệt người trưởng
nhóm đều cần phải chuẩn bị trước khi thiết kế
nhiệm vụ giao cho nhóm.
3.2. Phong cách lm việc nhóm ca
ni hc
Trong nghiên cứu y, giảng viên đã cho
sinh viên hội thành lập nhóm của riêng họ.
Tình bạn tiêu chí phổ biến nhất để thành lập
nhóm cho sinh viên. Như Garrett and Shortall
2002a cho biết, tình bạn giúp nhóm hoạt động
tốt hơn khi các thành viên trong nhóm mối
quan hệ tốt với nhau, không ngại chỉ trích
thảo luận, và rất tôn trọng tất cả các thành viên.
Khi nh bạn không phải một lựa chọn, lựa
chọn thứ hai dường như là điểm số. Những sinh
viên đạt điểm cao tự nhóm lại với nhau. Các
nhóm này giữ tiêu chuẩn cao trong suốt c kỳ
thi cho thấy sự tiến bộ vào cuối học kỳ.
Thành phần dân tộc không ảnh hưởng đến kết
quả của các k thi; tuy nhiên, nó ảnh hưởng đến
quá trình hình thành nhóm.
Tác giả quan sát sinh viên khi thiết lập các
nhóm nhận thấy rằng 70% người tham gia
ủng hộ nhận định rằng bước đầu tiên khi lập
nhóm chọn đối tác hoặc các thành viên khác.
Đầu tiên, khi các sinh viên xu hướng thành
lập nhóm làm việc với những người bạn
thân. Do đó, một số nhóm chỉ bao gồm hai hay
ba sinh viên. Một số sinh viên sẽ chọn làm việc
với những sinh viên năng lực tốt hơn mình.
Các sinh viên khác dường như không bận tâm,
họ thể tham gia vào bất k nhóm nào.
Những sinh viên làm việc với những sinh viên
năng lực những người có điểm cao các
nhóm này lượt tương tác nhiều nhất rất
nhiệt tình với các hoạt động trong giờ học.
Theo biểu đồ 1, việc t chọn bạn học
cng chun ngành được coi ưu tiên hàng
đầu khi sinh viên bắt đầu thành lập nhóm. Các
em thể khám phá một vấn đề sâu sắc hơn từ
một góc độ và động lực của sinh viên thể
tăng lên bằng cách kích thích sự lựa chọn.
125
Một khía cạnh quan trọng của kinh nghiệm
làm việc theo nhóm khả năng đóng góp
không đồng đều vào công việc nhóm.
Bảng 2: Phong cch làm việc nhm
của ngưi hc
Số
SV
Giá
trị
TB
Độ
lệch
chuẩn
%*
63
3.61
0.944
70.0
63
3.70
0.893
70.0
65
3.61
0.870 72.3
31
3.03
1.022
34.5
22
2.63
1.106
24.4
61
3.70
0.771
67.8
54
3.50
0.877
60.0
44
3.21
0.977
48.9
*%: “đồng ý” and “hoàn toàn đồng ý”.
Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn những
người được hỏi trong cuộc khảo sát này (70%)
đồng khi được hỏi kinh nghiệm của họ câu
hỏi 9 “chỉ một số sinh viên làm được tất c
công việc”. thể hiểu rằng trong một số
nhiệm vụ, tất cả các thành viên trong nhóm
không sự phân chia đồng đều về việc xây
dựng, đóng góp cho nhóm.
Mặc d thc tế là hu hết các sinh viên tự chia
nhóm, tuy nhiên, các em đến từc nhóm dân tộc
khác nhau ngi tiếng phổ thông tiếng Việt
thì đa phần đều ngôn ngữ riêng của n tộc
nh, tuy vậy trong lớp học, tất cả các thành viên
đều phải sử dụng tiếng Anh. Trong q trình làm
việc nhóm, giảng viên u mục đích của hot
động, quan t, can thiệp nếu cần thiết và có th
yêu cầu c thành viên hợp c nhiều n. Đáng
tiếc 60% sinh viên rất thụ đng, hầu n không
tham gia mặc d giảng viên liên tục yêu cu các
em tham gia thảo luận (Câu hỏi 26). Điều này gây
khó khăn cho công c đánh g của giảng viên
ớng dẫn.
Số liu u 18 cho thấy 75,6% người tham
gia không im lặng khi có người không đồng tình
với kiến của mình. Điều đó ngha nhiều
sinh vn không chuyên tiếng Anh tích cực tham
gia thảo luận không đồng nh với kiến của
những sinh viên giỏi hơn (68 sinh viên).
Như đã đề cập trên, trong khi một phần ba
số người tham gia cảm thấy lúng túng trong học
kỳ đầu tiên của họ, thì hai phần ba số còn lại
phản ứng tích cực với làm việc nhóm, như
thể thấy trong câu hỏi 22, đây thể được coi
kết quả của việc thường xuyên thực hành các
kỹ năng làm việc nhóm.
3.3. Hiệu quả của hot động nhm đối vi
sinh viên
ràng rằng, hoạt động nhóm có ảnh hưởng
rất lớn đến việc học của sinh viên. Các giảng
viên khi được hỏi đều đồng rằng hoạt động
nhóm thể giúp sinh viên luyện tập nói Tiếng
Anh nhiều hơn nhiều hội trao đổi