
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thân thể có vai trò quan trọng trong đời sống của con người, chính vì
thế, thân thể cũng trở thành đối tượng tác động của nhiều lĩnh vực trong đời sống,
đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, từ khoa học tự nhiên đến khoa
học xã hội nhân văn. Đến nay, nghiên cứu về thân thể trong lĩnh vực khoa học xã
hội nhân văn đã có những đột phá quan trọng, đặc biệt là triết học. Những kết quả
nghiên cứu đó mang lại một cách nhìn mới về thân thể trong văn học.
1.2. “Văn học là nhân học” (M.Gorki), đối tượng của văn học là con
người. Văn học từ cổ chí kim, khi quan tâm đến con người, không chỉ quan tâm
đến đời sống tinh thần, mà còn quan tâm đến cả ngoại hình, cử chỉ, điệu bộ, đến
nhu cầu của thân thể, đến những gì mà thân thể phải chịu đựng… Có nghĩa là
thân thể từ lâu đã trở thành đối tượng của văn học. Tuy nhiên, khi xuất hiện
trong tác phẩm văn học, thân thể không chỉ là đối tượng thể hiện, mà còn trở
thành phương tiện để thể hiện tư tưởng nghệ thuật, xây dựng thế giới nghệ
thuật… Thân thể trở thành một loại ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù trong tác phẩm
văn học, hay nói cách khác, thân thể trở thành một loại kí hiệu thẩm mĩ đặc thù
trong tác phẩm văn học. Loại kí hiệu thẩm mĩ này là sản phẩm sáng tạo của nhà
văn, chịu sự chi phối bởi cá tính sáng tạo, quan niệm nghệ thuật về con người,
chịu sự chi phối của bối cảnh thời đại… Chính vì thế, trong sáng tác của mỗi
nhà văn, ở từng giai đoạn văn học nhất định, thân thể cũng hiện lên với những
đặc điểm khác nhau.
1.3. Thơ trữ tình Việt Nam sau 1986, dưới sự tác động của hoàn cảnh lịch
sử và xu hướng của xã hội hiện đại đã có những cách tân đáng kể, không chỉ về
mặt hình thức kĩ thuật thuần túy mà là sự đổi mới ở chiều sâu quan niệm của
chủ thể sáng tạo về thế giới, về nghệ thuật và về con người. Vì thế, thân thể
trong thơ sau 1986 có nguyên tắc kiến tạo riêng, hình thành những kiểu loại
riêng, và biểu đạt ý nghĩa riêng.
Nghiên cứu thân thể trong thơ sau 1986, luận án muốn tiếp cận thân thể
trong thơ ca như một loại ngôn ngữ nghệ thuật, một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ
đặc thù. Mặc dù đến nay, số lượng công trình nghiên cứu về thơ Việt Nam sau