T
P CHÍ KHOA HC
T
NG ĐI HC SƯ PHM TP H CHÍ MINH
Tp 21, S 11 (2024): 1991-2002
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION
JOURNAL OF SCIENCE
Vol. 21, No. 11 (2024): 1991-2002
ISSN:
2734-9918
Websit
e: https://journal.hcmue.edu.vn https://doi.org/10.54607/hcmue.js.21.11.4527(2024)
1991
Bài báo nghiên cứu1
THƠ NỮ ĐƯƠNG ĐẠI VIT NAM NHÌN T LÍ THUYT LIÊN KÍ HIU
Nguyn Võ Trang Trang, Trn Th Phương Lý*
Trưng Đi hc Sài Gòn, Vit Nam
*Tác giả liên hệ: Trn Th Phương Lý Email: ttply@sgu.edu.vn
Ngày nhận bài: 22-8-2024; ngày nhận bài sửa: 20-9-2024; ngày duyệt đăng: 27-9-2024
TÓM TT
Bài viết vn dng lí thuyết kí hiu và liên kí hiu đ gii mã ngôn ng văn chương đang được
quan tâm và tr thành mt trong những xu hướng chính ca nghiên cứu văn học hin nay. Trên
s phi hợp phương pháp định tính và định ng, bài viết vn dng lí thuyết liên kí hiệu để phân
tích ý nghĩa của các kí hiu ngôn t được s dng trong 483 bài thơ của by n thi sĩ Vit Nam
đương đại. Kết qu nghiên cu cho thy có ba kí hiu xut hin vi tn s cao nht là đt”, “nưc”,
“đêm”, và trên 20 biến th ca mi kí hiệu. Khi so sánh ý nghĩa các biến th ca ba kí hiu “đt”,
“nước” “đêm” thông qua các chung, các hiệu cho thy có cùng s ơng liên về mt ý
nghĩa. Từ đó cho thy vic áp dng lí thuyết kí hiu và liên kí hiệu trong đọc tác phẩm văn học s
giúp người đc khám phá các tầng ý nghĩa tiềm n ca các kí hiu trong mt văn bn và mi quan
h qua li giữa ý nghĩa của chúng trong các văn bản khác nhau.
T khóa: đương đi; liên kí hiu; kí hiu; Vit Nam; nhà thơ nữ
1. Đặt vấn đề
Kí hiu là các thc th, s kin, hiện tượng hay hành vi con người tn tại như một vt
mang ý nghĩa đ thông báo nội dung nào đó. Charles S. Peirce (1839-1914) đã nhận định
mt vt ch có th được xem là kí hiu nếu nó được din giải như là kí hiệu (Peirce, 1894
MS). T khái nim v kí hiu, có th thy kí hiu tn ti trong mi quan h mt thiết vi văn
hóa, xã hi, không mt kí hiu nào có th tn ti và t tạo nghĩa như một thc th độc lp
tuyt đi. S gn kết, ơng hỗ gia các kí hiu (có tính lp li), làm nên “kí hiu quyn”
ca văn bn ngh thut. Tính lp li các kí hiu này có kh năng tạo nghĩa và các lớp nghĩa
phái sinh. Nói liên kí hiu thc chti đến kh năng tạo nghĩa của kí hiệu trên cơ sở các
quan h tương tác (Lotman, 2007). thuyết v liên kí hiu hiện nay đã trở nên ph biến
trong lĩnh vực nghiên cu ngôn ng nói chung và văn học nói riêng, được vn dụng như một
trong các phương cách để tìm hiu, gii mã các văn bn ngh thut, thông qua vic lí gii v
Cite this article as: Nguyen Vo Trang Trang, & Tran Thi Phuong Ly (2024). Poems by contemporary Vietnamese
women poets from an intersign theory perspective. Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science,
21(11), 1991-2002.
.
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Nguyễn Võ Trang Trang và tgk
1992
s tương liên giữa các kí hiu đ khám phá các tầng sâu hơn nữa v mặt ý nghĩa ngôn t ca
mt tác phẩm văn học.
Sau năm 1975, nhiều cây bút n ra đi, th sc mình trên c hai th loại văn xuôi
t vi nhng sc thái, giá tr riêng, khuy động đời sống văn học n vi nhng tên tui như
Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Bình Nguyên Trang, Vũ Thị Huyn, Dư Th
Hoàn, Phm Th Ngc Liên, Tuyết Nga, D Thảo Phương…
Là nhng cây bút tr thuc thế h 7X, 8X, chu nh hưởng ca nhiu luồng văn học
trên thế gii, có nhng nét phá cách và có nhiu th nghim mi m, bên cnh s t do th
hin nhng cm xúc thm kín nht của người ph n trong ni dung tng sáng tác, thì cá
tính độc đáo ca mi tác gi còn được bc l qua cách biến tu ngôn t tiếng Vit thành
nhng kí hiu hàm cha nhiu cách gii thích, mang kh năng khai phóng trong tư duy cách
tân. Qua nhng kí hiu này, có th thy đưc s liên hệ, tương quan lẫn nhau v duy sáng
to giữa các nhà thơ và sự độc đáo, mới l riêng ca tng cây bút.
Bài viết này, da trên nn tng lí thuyết kí hiu và đc bit liên kí hiệu, hướng ti vic
tìm hiu, phân tích và lí gii các kí hiu và nhng biến th ca chúng trong tác phm thơ ca
các nhà t n đương đại Vit Nam, xây dng h thng các kí hiu đưc s dng vi tn s
ni bt; xem xét, lí gii các liên kết gia chúng vi nhau và giá tr mà nhng liên kí hiệu đó
mang li trong vic đnh hình phong cách tác gi và những đóng góp của các nhà thơ đi vi
s phát trin của văn học đương đại Vit Nam.
2. Ni dung nghiên cu
2.1. Gii thiu mt s nét v lí thuyết liên kí hiu
Theo Pierce, mt kí hiu luôn là “s đại din” cho mt đi tưng “bng một cái gì đó
trong quan h hoc kh năng nào đó” thứ để xác đnh mt th khác đ ám ch đến
mt đi ợng được quy vào (Peirce, 1894). Trong các din gii ca Ferdinand de
Saussure (1867-1913), kí hiệu được xem là mt mô hình nh phân hai mt gm: cái biu đt
và cái đưc biểu đạt, cái được biểu đạt được hiểu như một h thng du hiu khác bit giúp
nhn biết kí hiu (Saussure, 2005). Nhà ngôn ng hc Roman Jakobson (1896-1982) cũng
đã đ xut mt cách tiếp cn đi vi toàn b h thng kí hiu này bt đu bng vic cân nhc
tới điểm bao quát căn bản ca kí hiu khi cho rng mi loại thông tin đều được to bi các
kí hiu (Jakobson, 1959).
Mi kí hiệu đều được bao quanh bi mt môi trưng tng hòa các mi quan h văn
hóa, trong quá trình hình thành, tn ti, tri qua các biến đi khác nhau nhìn theo góc độ
đồng đại ln lch đi, không mt kí hiu nào nm ngoài cộng đồng, các lp tri thc, kinh
nghiệm, văn hóa… sản sinh và bi đp nên nó. Vi ch trương lấy văn bản làm trung tâm,
Iu. M. Lotman khẳng định văn bản mi bao gi cũng gắn vi các văn bản cũ bằng nhng
quan h đối thoi, nó bo tn các văn bn y trong kí c ca mình và các kí hiu to thành
văn bản, các văn bn tạo thành văn hóa, các văn bản to thành kí hiu quyn (Lotman, 2007).
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 21, S11 (2024): 1991-2002
1993
Khái nim v “liên kí hiệu” được nhc đến ln đu tiên vi tên tui ca Roman
Jakobson. Trong phn cui của chương bàn về các khía cnh ca ngôn ng trong văn bn
dịch (On linguistic aspects of translation), ông đã nhắc đến s chuyn dch v nghĩa giữa các
kí hiu t mô hình này sang mô hình khác ví d t ngh thut ngôn ng (thơ, tiểu thuyết)
sang âm nhạc, khiêu vũ, điện nh, hi ha… Georges Molinié, trong tác phm
Semiostylistics, the effect of art (1998), đã đưa ra sự khác bit cơ bn gia ngh thut ngôn
t và phi ngôn t. Vi các loi hình ngh thut s dng ngôn t, sn phm ca chúng luôn
mang một ý nghĩa nhất đnh. Vi các loi hình ngh thut phi ngôn t, giá tr của chúng được
th hin ngay c khi chúng không cần mượn mt t ng nào để diễn đạt. Ông đưa ra định
nghĩa liên hiệu là mt khoa hc nghiên cu các kí hiu hc ngh thut trong mi tương
quan vi các kí hiu hc ngh thuật khác. Trong lĩnh vực văn chương, tác phẩm văn học
được xem như một h thng kí hiu. Kí hiệu văn chương tồn ti và được gii mã không ch
bi t thân nó mà còn trong mối tương quan với các kí hiu khác (cùng hoc khác văn
bn), với người tiếp nhn…, nên kí hiệu văn chương càng được nhìn nhn là mt liên kí hiu
và vic din gii các kí hiệu văn chương cũng không nằm ngoài quy lut trên.
Kí hiệu được hình thành trong quá trình con người ý thc và khám phá thế gii xung
quanh nên cơ chế liên các kí hiu vi nhau là nn tng ca mi tn ti ln kh năng tri nhận
của con người. Theo các nhà nghiên cu, có 7 cp đ ca liên kí hiu, gm: Vô thc ca kí
hiu, C mu ca kí hiệu, Đối thoi ca kí hiu, Tính trì bit ca kí hiu, Sáng to, n d,
chế đọc. Da vào các cp đ ca liên kí hiu, Lê Huy Bắc (2019) đề ra mt s cách thc
đọc văn chương theo li liên kí hiu, gm: a) Quy chiếu nghĩa của kí hiu vào kí hiu gc,
b) So sánh các kí hiu vi nhau trong mối tương quan về nghĩa của chúng trong cùng mt
văn bản hoc gia các văn bn vi nhau, c) Liên kí hiu vi chính phong cách sáng to ca
tng tác gi để giải nghĩa hiệu, d) Đối sánh nghĩa của các kí hiu trong các nn văn
hóa, thời đại khác nhau, góp phn tạo sinh nghĩa mới cho kí hiu.
Trên cơ s lí thuyết này, bài viết hướng trng tâm nghiên cu vào mối tương quan về
nghĩa giữa các kí hiu trong tác phm ca mt s nhà thơ nữ đương đại Vit Nam.
2.2. Ngun ng liu khảo sát và phương pháp nghiên cu
Bài viết này khảo sát 478 bài thơ tiêu biểu ca các tác gi: Vi Thùy Linh, Phan Huyn
Thư, Dư Th Hoàn, Bình Nguyên Trang, Tuyết Nga, Phm Th Ngc Liên và Ly Hoàng Ly.
T đó, xác lập được 3 kí hiu “đt”, “nưc”, “đêm” là nhng kí hiệu thường xut hiện hơn
c và 235 biến th ca chúng. Nghiên cu s dng kết hp các th pháp thng kê, phân loi
để x lí s liu t ng liệu đã thu thập đượcphương pháp phân tích diễn ngôn nhm xem
xét, phân tích, mô t yếu t liên kí hiệu trong thơ của các nhà thơ n đương đại Vit Nam
mt cách toàn din trong các ng cnh giao tiếp c th. Bên cạnh đó, bài viết cũng sử dng
phương pháp miêu tả, phân tích thông qua các bng biu, biểu đồ nhm làm ni bt các đc
điểm ca liên kí hiu trong tác phm của các nhà thơ nữ đương đại Vit Nam.
2.3. Kết qu nghiên cutho lun
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Nguyễn Võ Trang Trang và tgk
1994
2.3.1. Kết qu kho sát
Khi kho sát các tập thơ của 7 tác gi n tiêu biu, kết qu cho thy các kí hiệu như
sóng, biển, nước, đất, cỏ, đêm, trăng, bóng tối, cây, mưa… xuất hin nhiu và tp trung vào
ba nhóm kí hiu Đất, Nước, Đêm. i đây là thng kê tng s các kí hiu và biến th ca
chúng xut hiện trong thơ của các n nhà thơ (xem Biểu đồ 1).
Biểu đồ 1. Thng kê tn s xut hin ca các kí hiệu Đất, Nước, Đêm
trong thơ của các nhà thơ nữ đương đại Vit Nam
Trong ba nhóm kí hiu thì nhóm kí hiu c và các biến th ca chúng (48%) và
nhóm kí hiu Đêm và các biến th ca chúng (29%) chiếm t l ni bt. Đây cơ s chng
minh cho mĩ cảm của nhà văn luôn hướng v nhng thiên tính của người ph n.
Biểu đồ 2. Thng kê tng s các kí hiệu Đất, Nước, Đêm xuất hiện trong thơ
của các nhà thơ nữ đương đại Vit Nam
Trong nhóm kí hiu c và các biến th ca chúng, xut hin nhiu nhất trong thơ
ca Vi Thùy Linh (23,21%) và Phm Th Ngc Liên (22,32%), tiếp đến là trong thơ của
Bình Nguyên Trang (16,96%) và Ly Hoàng Ly (16,07%), trong thơ Tuyết Nga (8,93%), thơ
Phan Huyền Thư (8,04%) và Dư Thị Hoàn (4,46%).
Trong nhóm kí hiu Đêm và các biến th ca chúng, xut hin nhiu nhất trong thơ Ly
Hoàng Ly (30,88%), tiếp đến là trong thơ Vi Thùy Linh (19,12%), thơ Phan Thị Ngc Liên
(14,71%), thơ Bình Nguyên Trang (10,29%), thơ Phan Huyền Thư (8,82%) Tuyết Nga
(8,82%), cuối cùng là trong thơ Dư Thị Hoàn (7,35%).
Kí hiệu Đất
và các biến
thể
15%
Kí hiệu Nước và
các biến thể
46%
Kí hiệu
Đêm và
các biến
thể
39%
Kí hiệu Đất và các biến thể
Kí hiệu Nước và các biến thể
Kí hiệu Đêm các biến thể
0
5
10
15
20
25
30
Phạm Thị Ngọc
Liên
Vi Thùy Linh Ly Hoàng Ly Tuyết Nga Phan Huyền Thư Bình Nguyên
Trang
hiệu Đất
các biến
thể
hiệu
Nước các
biến thể
hiệu Đêm
các biến
thể
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 21, S11 (2024): 1991-2002
1995
Trong nhóm kí hiu Đất và các biến th ca chúng, xut hin nhiu nhất trong thơ của
Phan Th Ngc Liên (27,27%), tiếp đến là thơ Bình Nguyên Trang (20%), thơ Vi Thùy Linh
(14,55%), thơ Dư Thị Hoàn (12,73%), thơ Phan Huyền Thư (9,09%), thơ Tuyết Nga (9,09%)
thơ Ly Hoàng Ly (7,27%).
2.3.2. Các quan h liên kí hiu
Quan h b sung
Quan h b sung gia các kí hiu vi các yếu t văn hóa khác đưc th hin ch yếu
thông qua mi quan h chính ph hoc ch v trên ng đoạn. Kiu quan h này mang tính
ph biến và có ảnh hưởng rõ rt ti s biến đổi ý nghĩa của các kí hiu đất, nước, đêm. S
phân hóa các hướng nghĩa biểu trưng mang tính phổ quát thành các nét nghĩa mang tính cụ
th hơn, tinh tế và sinh động hơn chủ yếu do quan h b sung ca các kí hiu to nên.
Các tác gi đã s dng rt nhiu các biến th để gi tên kí hiu đt tùy vào mc đích biu
th ca bn thân. Đ biu th s thăng hoa trong tình yêu, nhng khao khát bn năng, các nhà
thơ gi đt bng các biến th khu vưn, vưn, mnh vưn, vưn đa đàng, vưn đêm. Để biu
th s phôi pha ca tình cm, cô đơn, trng thái mi mòn trong ch đợi, kí hiu đt li đưc gi
tên bng các biến th khác là đá, vách đá, hang đá, hc đá, hòn cui, đá cng, mt đá… Có th
thy, kí hiu đt đưc phân hóa thành các nét nghĩa c th nhưng đu b sung cho nét nghĩa
biu trưng cho khát vng yêu và đưc yêu trong tâm hn ca mi ngưi ph n.
Trong nhóm kí hiu nước, ta thấy nước tn ti nhiu biến th t vựng như bin, sóng,
bin v, đại dương, sông, suối, giọt sương, mưa, máu, sữa, nước mắt, nước khiết, nước sông
Hằng, rượu, h, mạch nước ngầm, nước iđể c th hóa ý nghĩa biu trưng cho các ch
đề được nhc đến khi nói v tình yêu hay v chính bản thân người ph n. Bin trong t
ca các nhà tn như một biểu tượng đa nghĩa về sc mnh và s bí mt ca thân th
tâm hồn người ph n, tiếng sóng bin là tiếng lòng khi bình yên khi li d di, bo lit ca
người ph n trong tình yêu. Gi bin bin v li th hin cho nỗi đau khôn cùng khi tình
yêu tan v hay ni niềm hoài nghi trước s mt mùng của con đường tình trc tr.
Trong thơ Tuyết Nga, c li xut hin vi mt biến th khác là dòng sông, gi lên ý
nim thi gian: “Mt trăm bến đò sông dài mt mi/ Mt nghìn mùa xuân đi ngàn cn ci”,
để biu đt s trôi chy ca dòng đi và nhng âu lo, d cm v nhng bến đ cuc đi. Cùng
là biến th dòng sông, nhưng trong thơ Vi Thùy Linh, khi xét khía cnh khát khao s thanh
khiết trong tình yêu, dòng sông li là biu trưng ca ngun nưc thánh, thiêng liêng mang chc
năng thanh ty, gt ra: c sông Hng, sông Nil,c ngc bích, nưc khiết…
Tương tự, kí hiu đêm tn ti nhiu biến th, và mi biến th trong các ng cnh
khác nhau li cùng mt lúc biểu trưng nhiều nét nghĩa khác nhau. Bên cạnh vic mang nét
nghĩa chỉ thi gian, các biến th đêm, khuya, nửa đêm, bóng tối còn biểu trưng cho cái chết,
s úa tàn: “Một ngày qua đời…/ Mt tri biến thế gian thành một cõi nhàm chán/ đơn điệu
đến ni/ mỗi người t tìm/ mt cách quyên sinh” (Thc dụng hư vô, Phan Huyền Thư). Đêm
cũng mang nét nghĩa là gic mơ, và đưc gi tên bng biến th khác là gic mơ, biểu trưng
c th hóa dòng ý thc của người ph n: “Ri h làm nên s bay bng linh diu khi ta lưt