
những con người chân chính trong điều kiện đời sống vật chất khó khăn. Lần đầu
tiên trong lịch sử dân tộc xiềng xích của chân lý cổ truyền, của nền sản xuất tiểu
nông với tư duy còn hạn chế, kinh nghiệm, phi khoa học trong con người thiếu văn
hoá do x• hội cũ để lại đ• được tri thức khoa học Mác xít phá tan. Một ý thức tiên
tiến ra đời. Các tín ngưỡng dần dần cũng phải nhường chỗ cho niềm tin khoa học.
Các yếu tố tư duy duy vật biện chứng hình thành trong đời sống thường ngày,
trong lao động, cũng như trong mọi hoạt động của x• hội. Thế giới quan khoa học
ngày càng ăn sâu ở những con người luôn phấn đấu cho thắng lợi của chủ nghĩa x•
hội nó nhìn thế giới, x• hội, con người trong sự vận động và phát triển trong tính
hiện thực và tiềm ẩn những khả năng, sự tồn tại khách quan là điều kiện sống và
sự phát triển con người.
Thế giới quan đó hàm chứa nhân sinh quan tiến bộ, khắc phục dần những quan
niệm sai lầm, phiến diện về con người của các hệ tư tưởng khác.
Sự chuyển đổi hệ tư tưởng dẫn đến chuyển đổi hệ giá trị của x• hội và giá trị con
người, con người từ chỗ phục tùng chuyển sang tự chủ, sáng tạo, từ chỗ dựa trên
tập quán chuyển sang lý trí, dân chủ, từ chí tìm cách hoà đồng chuyển sang tôn
trọng cả cá tính và bản lĩnh riêng. Các chuẩn mực mới của con người đòi hỏi
không chỉ phát triển từng mặt riêng lẻ mà phải là cá nhân phát triển hài hoà tính
cách mạng của học thuyết Mác xít khắc phục dần lối sống thụ động, hẹp hòi, làm
cơ sở cho lối sống tích cực, vì x• hội, phát triển ý thức luôn vươn lên làm chủ và
xây dựng cuộc sống mới xuất hiện những nhân cách mới.
Tuy nhiên sự phát triển con người ngày nay không chỉ là sản phẩm của hệ tư
tưởng Mác xít vì ngay khi chủ nghĩa Mác xít trở thành hệ tư tưởng chính thống ở
Việt Nam thì các tôn giáo, các hệ tư tưởng và văn hoá bản địa đ• có sức sống riêng
của nó. Chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập, nó như một hệ tư tưởng khoa học vượt
hẳn lên cái nền văn hoá bản địa, nhưng nó cũng chịu sự chi phối tác động đan xen
của các yếu tố sai - đúng, yếu - mạnh, mới - cũ, v.v.. Các yếu tố tích cực đ• thúc
đẩy, còn các yếu tố tiêu cực thì kìm h•m sự phát triển con người.

Sự văn minh, phát triển hoá con người Việt Nam của chủ nghĩa Mác - Lênin vừa
có lợi thế song cũng không tránh khỏi những sai lầm. Sai lầm là sự chống trả của
tư tưởng văn hoá bản địa đ• thành truyền thống. Lợi thế là văn hoá bản địa chưa có
một hệ tư tưởng khoa học định hình vững chắc, nó dường như đang thiếu một lý
thuyết khoa học. Nếu như không có chủ nghĩa Mác - Lênin x• hội Việt Nam phát
triển hơn, đó là tư tưởng của những người thiếu hiểu biết về một x• hội tiến bộ,
luôn coi cái trước mắt mình là những thứ vô giá trị mà chỉ chạy theo trào lưu, điều
đáng trách hơn là họ cần cho rằng văn hoá Việt Nam sẽ phong phú hơn, đặc sắc
hơn. Thực tế, từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác - Lênin x• hội Việt Nam như được
tiếp thêm sức mạnh, phát triển có khoa học hơn, ở khía cạnh nào đó trình độ dân
trí, trình độ năng lực, văn hoá, khoa học, nghệ thuật… Con người Việt Nam không
thua kém con người của các nước văn minh khác.
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người chỉ những cá thể, là sự thống nhất giữa
mặt sinh học và mặt x• hội của nó. Cái mà chủ nghĩa Mác - Lênin đ• làm được đó
là lý luận con người trong x• hội chứ không chỉ mặt sinh học như trước đây. Và
chính vậy mà nó đ• được áp dụng vào x• hội Việt Nam, trong cách mạng x• hội
chủ nghĩa con người là yếu tố quyết định vừa là điểm xuất phát vừa là mục tiêu
của mọi chính sách kinh tế - x• hội. Xây dựng chủ nghĩa x• hội là xây dựng được
một x• hội mà ở đó có đủ những điều kiện vật chất và tinh thần để thực hiện trong
thực tế nguyên tắc "Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát
triển tự do của tất cả mọi người" và ở một đất nước ta, một đất nước đang còn
nghèo nàn thì việc phát triển yếu tố con người là một vấn đề mà Đảng ta đ• xác
định đó là vấn đề then chốt cho sự phát triển kinh tế đất nước lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin là kim chỉ nam cho mọi hoạt động.
Chúng ta cũng đ• có những đổi mới rõ rệt, sự phát triển hàng hoá nhiều thành phần
theo cơ chế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo sự phân tầng x• hội, việc mở rộng
dân chủ đối thoại trong sinh hoạt chính trị của đất nước, việc mở cửa và phát triển
giao lưu quốc tế về các mặt kinh tế, văn hoá và chính trị, trên thế giớ. Sự biến đổi
nhanh chóng của tình hình chính trị quốc tế, sự phát triển vũ b•o của cuộc cách

mạng khoa học và công nghệ… Điều đó đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng chủ
nghĩa Mác một cách khoa học, hợp lý và sáng tạo để đáp ứng được những đòi hỏi
của x• hội mới nếu muốn tồn tại và vươn lên một tầm cao mới.
Chương II: Vấn đề con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
I. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển của các nước trên thế giới.
Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu "X• hội
công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh" công nghiệp hoá, hiện đại hoá không
chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi cách mạng sâu
sắc với lĩnh vực đời sống x• hội (kinh tế, chính trị, khoa học của con người…) làm
cho x• hội phát triển lên một trạng thái mới về chất. Sự thành công của quá tình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài mới trường chính trị ổn định, phải có
nguồn lực cần thiết như nguồn lực con người, vốn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở
vật chất kỹ thuật. Các nguồn lực này quan hệ chặt chẽ với nhau. Cùng tham gia
vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng mức độ tác động vào vai trò
của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá không giống
nhau, tỏng đó nguồn nhân lực phải đủ về số lượng mạnh về chất lượng. Nói cách
khác nguồn nhân lực phải trở thành động lực phát triển. Nguồn nhân lực phát triển
thì tất yếu công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải tién hành để đáp ứng nhu cầu đó.
Theo các nhà kinh điều của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người vừa là điểm khởi
đầu vừa là sự kết thúc, đồng thời lại vừa là trung tâm của sự biến đổi lịch sử, nói
cách khác con người là chủ thể chân chính của các quá trình x• hội. Trước đây
tỏng sách báo con người được xem xét trên phương diện "con người tập thể" "con
người giai cấp" con người x• hội.
ở đây tính tích cực của con người với tư cách là chủ thể được tập trung chú ý khai
thác và bồi dưỡng chủ yếu ở những phẩm chất cần cù, trung thành, nhiệt tình,
quyết tâm với cách mạng. Một quan niệm và một cách làm như vậy đ• góp phần
quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và khôi phục kinh tế sau chiến tranh.

Tuy nhiên quan niệm và cách làm này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định trong
điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện.
Trong x• hội con người không chỉ tạo ra các hệ thống và các quá trình khác nhau
của x• hội (giai cấp, đảng phía, nhà nước, sản xuất, văn hoá), mà họ còn làm
người, chính họ đ• in đậm dấu ấn của tiến trình lịch sử. Lịch sử (suy đến cùng)
cũng chính là lịch sử phát triển cá nhân của con người, dù họ có nhận thức được
điều đó hay không. Từ đây cho phép tách ra một bình diện đặc biệt trong việc xem
xét "con người chủ thể" bình diện " con người cá nhân" có nghĩa là nâng nhận
thứac lên một trình độ mới - quan niệm "cái cá nhân" là sự thể hiện (hiện thân)
một cách cụ thể sinh động của "cái x• hội" khi con người trở thành chủ thể của
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường con người không chỉ nhận được sự tích cực,
mà còn cả những tác động tiêu cực của nó trước con người không chỉ có những
thời cơ và những triển vọng tươi sáng mà còn chứa đựng những thách thức, nguy
cơ, thậm chí là cả những tai hoạ khủng khiếp. (Thất nghiệp, ô nhiễm môi trường,
bệnh tật và những tệ nạn x• hội). Vì vậy trong mỗi con người luôn có những
"giằng xé" bởi những cực "chủ tớ" giầu nghèo, thiện ác, … trong điều keịen này
cần xem xét con người chủ thể với những phẩm chất nghề nghiệp chuyên môn cụ
thể trong những hoàn cảnh cụ thể của họ.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi căn bản và sâu sắc toàn bộ đời
sống x• hội, nó đòi hỏi vật chất cao với người "chủ thể", ở đây chỉ cần sự cần cù,
trung thành, nhiệt tình quyết tâm cách mạng chưa đủ mà điều quan trọng hơn là trí
tuệ khoa học, ý chí chiến thắng cái nghèo nàn lạc hậu, tính năng động luôn thích
ứng với hoàn cảnh, ý thức kỷ luật, bản lĩnh l•nh đạo, nghệ thuật quản lý, kỹ thuật
kinh doanh…
Như vậy trong điều kiện mới cần xem xét đánh giá bồi dưỡng "con người chủ thể"
không chỉ trên bình diện "con người - x• hội" mà còn trên cả bình diện "con người
cá nhân".

Hơn nữa là "con người - chuyên môn nghề nghiệp" nhất định (như nhà l•nh đạo,
quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp công nhân…). Bởi vì ấn dấu đằng sau
những chủ thể cụ thể này là lợi ích tương ứng với chúng. Chỉ có quan niệm và
cách làm như vậy chúng ta mới biết tác động vào đâu và tác động như thế nào để
nâng cao tích cực của chủ thể hành động.
Nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến chủ thể tham gia vào quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên nó không phải là chủ thể biệ lập riêng rẽ, mà là chủ
thể được tổ chức thành lực lượng thống nhất về tư tưởng hành động. Nói cách
khác công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tổng hợp những chủ thể với những phẩm
chất nhất định tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhưng cần
phải hiểu rằng tổng hợp những chủ thể này không phải là tập hợp giản đơn số
lượng người mà nó là sức mạnh tổng hợp của chỉnh thể người trong hành động.
Sức mạnh này bắt nguồn trước hết là những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi
chủ thể và nó được nhân lên gấp đôi trong hoạt động thực tiễn. Động lực công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là những gì thúc đẩy quá trình vận động và phát triển. Vì
vậy khi nói "nguồn lực với tính cách là động lực của quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá" là chủ yếu nói đến những phẩm chất tích cực của tổng hợp những
chủ thể được bộc lộ trong quá trinfh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy quá
trình này vận động phát triển và thể hiện mặt tích cực, đồng thời hạn chế mặt tiêu
cực tối đa của mình.
Mặt khác để xem xét vai trò nguồn lực của con người, cần đặt nó trong quan hệ so
sánh với các nguồn lực khác và ở mức độ chi phối của nó đến sự thành bại của
công cuộc đổi mới đất nước. Khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công
nghiệp hiện đại phát triển mạnh mẽ, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng và trở
thành xu thế phổ biến của nhân loại. Khi công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại
hoá mà thực chất là hiện đại hoá lực lượng sản xuất với cách tiếp cận như vậy vai
trò quyết định nguồn lực của con người được biểu hiện ở những điểm như sau:
Trước hết các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó
chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng chỉ có tác dụng và có ý thức của con người.

