
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Đồng Nhân Dân Tệ: Sự lựa chọn giữa tỷ giá
hối đoái cố định và tỷ giá hối đoái thả nổi.
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Thực hiện: Nhóm 9, lớp NH Đêm 5 - K18.
Nguyễn Châu Hà
Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nguyễn Hoàng Lan Hương
Lê Thị Thanh Loan
Đoàn Viết Bửu Phương
Ngô Thị Phượng
Ôn Ngọc Minh Trí
TPHCM, thá ng 1 năm 2010

MỤC LỤC
Dẫn nhập...................................................................................................................................1
1 Sự cần thiết của hai công cụ chính sách: tỉ giá hối đoái và chi tiêu. ...................4
2 Lộ trình cân bằng cán cân thương m ại .....................................................................6
2.1. Lộ trình cân bằng bên trong ...................................................................................8
2.2. Mục tiêu cho cán cân thanh toán tổng thể. .........................................................10
2.3. Tiến trình cân bằng cán cân thanh toán ..............................................................12
2.4. Sự hạn chế...............................................................................................................12
2.5. Tránh khủng hoảng tiền tệ ....................................................................................13
3 Mối liên hệ với hiệu ứng Balassa-Samuelson .........................................................15
3.1. Ước lượng cho năm 1990 .....................................................................................16
3.2. Ước lượng cho năm 2000 .....................................................................................18
3.3. Dùng phép hồi quy để tìm ra giá trị trung bình..................................................18
4 Kết luận ..........................................................................................................................22
4.1. Bản thông báo vào tháng 7 năm 2005 .................................................................22
4.2. Kết luận tóm tắt......................................................................................................23
5 Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam ..................................................................................25
Tài liệu tham khảo..................................................................................................................25
Phụ lục .....................................................................................................................................29

Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa t ỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 1
Đồng nhân dân tệ: Sự lựa chọn giữa tỷ giá hối đoái
cố định và tỷ giá hối đoái thả nổi.
Dẫn nhập
Tỷ giá hối đoái cố định hay thả nổi đều có những lợi ích riêng, và mỗi quốc gia có
quyền lựa chọn cơ chế nào phù hợp với hoàn cảnh của quốc gia đó. Tuy nhiên, một số
tranh luận được đưa ra nhằm bàn về quan điểm cho rằng việc neo đồng tiền hiện nay
có thể mang lại lợi ích đối với Trung Quốc như sau:
M ặc dù dự trữ ngoại hối là một tấm chắn bảo vệ hữu ích đối với khủng hoảng
tiền tệ, hiện nay mức dự trữ của T rung Quốc hầu như đã khá đầy đủ, và tín
phiếu kho bạc Mỹ không mang lại thu nhập cao.
Ngày càng khó khăn để hạn chế dòng tiền vào theo thời gian.
Cân bằng bên ngoài có thể đạt được bằng cách cắt giảm chi tiêu, tăng lãi suất,
duy trì chính sách hai mục tiêu (cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài), và
điều này thường đòi hỏi sử dụng hai công cụ tài chính độc lập (tỷ giá hối đoái
thực và lãi suất).
M ột nền kinh tế lớn như Trung Quốc có thể điều chỉnh tỷ giá hối đoái thực
thông qua tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái danh nghĩa bằng việc thả nổi giá cả.
Kinh nghiệm của các thị trường mới nổi khác chỉ ra hướng để thoát khỏi việc
neo đồng tiền vào thời điểm thuận lợi và đồng tiền đang mạnh, hơn là chờ đến
khi thời điểm xấu và đồng tiền đang bị tấn công.
Trong viễn cảnh dài hạn, giá cả hàng hoá và dịch vụ của Trung Quốc thấp –
không chỉ là thấp so với Mỹ (0.23), mà còn thấp theo tiêu chuẩn mà hiệu ứng
Samuelson-Balassa đã đo lường qua nhiều quốc gia (ước khoảng 0.36). Trong
trường hợp cụ thể này, vào năm 2000 đồng Yuan đã được đánh giá thấp hơn
35%, và hiện nay thì ở mức thấp nhất có thể. N ghiên cứu cho thấy rằng, sự cách
biệt này đã được điều chỉnh nhưng không triệt để qua các thập kỷ sau đó.
Sáu lập luận trên đây đối với tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái không hàm ý một sự thả
nổi tự do. Trung Quốc là một ví dụ điển hình về việc ngăn cấm “lý thuyết góc” nổi
tiếng đối với cơ chế tỷ giá hối đoái trung gian. Tuy nhiên, vào tháng 7/2005 Trung

Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa t ỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 2
Quốc đã ban hành chính sách mới nhưng vẫn chưa dẫn đến kết quả cuối cùng trong
việc hủy bỏ cơ chế đồng tiền neo đô la.
Đồng Nhân dân tệ
“Tôi đã nghe cả hai phía của cuộc tranh luận này. Tôi cho rằng: Những người ủng
hộ tỷ giá hối đoái cố định thì đúng trong ngắn hạn. Và những ai đồng thuận tỷ giá hối
đoái thả nổi thì đúng trong dài hạn. Bạn sẽ hỏi ngắn hạn là bao lâu? Bạn cần biết
Trung Quốc đã 8000 năm tuổi. Do đó khi tôi nói ngắn hạn thì nó cũng có thể là 100
năm.” – Li Ruogu, phó thống đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa, D alian, tháng
5/2004, đã phát biểu.
“Dĩ nhiên chúng ta không muốn… tình trạng nước Mỹ thâm hụt thương mại 6%
GDP” - Li Ruogu, phó thống đốc N gân hàng Nhân dân Trung Hoa phát biểu trên tạp
chí Finacial Times, trang 1, với tiêu đề “China Tells U S to Put its House in Order”.
M ột tỷ giá hối đoái cố định phi chính thức đã phù hợp với Trung Quốc suốt 8 năm
qua. Tuy nhiên, bài viết này cho rằng đã đến thời điểm đồng Nhân dân tệ nên được
định giá cao. Nhận định này được đưa ra bởi bốn nguyên nhân chính. Thứ nhất, các
phép toán dựa trên hiệu ứng Balassa – Samuelson cho rằng giá trị thực của đồng Nhân
dân tệ được đánh giá thấp trong một thời gian – không chỉ thấp khi so sánh với đồng
đô la Mỹ hoặc những nước giàu khác, mà còn thấp hơn giá trị cân bằng đối với một
quốc gia đạt mức phát triển như Trung Quốc. Thứ hai, mặc dù lịch sử đã cho thấy dự
trữ ngoại hối là một tấm chắn hữu ích chống lại khủng hoảng tiền tệ, mức độ cán cân
thanh toán của Trung Quốc luôn thặng dư và lượng dự trữ hiện nay đã rất cao trong
nhiều năm, để quốc gia có thể bỏ ra mua ngay lập tức t ín phiếu kho bạc Mỹ bằng số
tiền mang lại từ đầu tư nội địa. Thứ ba, vào năm 2002 trong khi các nhà chức trách
thành công một cách đáng chú ý khi ngăn chặn dòng tiền vào, và sự de doạ của t ình
trạng quá nóng tồn tại vào năm 2004 dường như biến mất vào năm 2006, người ta nghi
ngờ rằng họ hoàn toàn có thể duy trì sự ngăn chặn trên quy mô này vô thời hạn. M ột
chiến lược tiếp tục loại trừ sự định giá cao ra khỏi chính sách phản hồi tổng hợp ngày
càng trở nên khó khăn. Thứ tư, kinh nghiệm của các thị trường mới nổi cho thấy rằng
thoát ra khỏi việc neo đồng tiền khi thời điểm thuận lợi và lúc đồng tiền mạnh thì tốt
hơn là chờ đợi cho đến khi thời điểm xấu đi và đồng tiền đang bị tấn công. Một quốc

Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa t ỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 3
gia lớn như Trung Quốc có thể đòi hỏi một cơ chế tỷ giá hối đoái với một vài tính linh
hoạt, đây là thời điểm tốt để bắt đầu đi theo hướng đó.
Điều này không có nghĩa là một sự chuyển biến sang thả nổi hoàn toàn. Một cơ chế
trung gian chẳng hạn như khu vực mục tiêu (target zone) có thể là thích hợp hơn trong
thời điểm này. Quả t hực là trường hợp của Trung Quốc minh hoạ tốt cho sự giới hạn
của “Lý thuy ết góc” nổi tiếng.
Lời khuyến nghị đối với việc định giá cao của tác giả trùng khớp với sự thôi thúc của
các chính khách Mỹ là hoàn toàn trùng hợp ngẫu nhiên. Những sự thôi thúc này
thường là sự phản ứng mang tính chính trị đến sự thiếu hiểu biết trong nước (ill-
informed domestic) (mặc dù có thể hiểu được) về nguyên nhân thâm hụt thương mại
và thất nghiệp tại Mỹ. Bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể tự do lựa chọn neo đồng
tiền nếu họ muốn. Do đó, luận điệu “lôi kéo tỷ giá hối đoái bất hợp pháp” là không
thích hợp. Điều này thậm chí không đúng khi đánh giá cao đồng Nhân dân tệ so với
đồng Đô la sẽ tạo ra một tác động đáng chú ý ngay tức thời đến thâm hụt tài chính và
thất nghiệp toàn nước Mỹ, mặc dù t ác động lên cán cân thương mại Mỹ rốt cuộc chỉ ở
mức độ vừa phải nếu những nước châu Á khác cũng đáp trả bằng sự định giá cao đồng
tiền của họ so với đồng Đô la M ỹ. Nhưng trong mọi trường hợp, luật lệ thương mại
đầu tiên của Trung Quốc sẽ được đặt ra để xác định chính sách nào phù hợp với lãi
suất của họ. Dựa trên những nền tảng đó, bài viết này ủng hộ gia tăng tính linh hoạt
của tỷ giá đối đoái.
Ở đây không phải cho rằng các quốc gia thặng dư không có quyền lợi gì trong hệ
thống tiền t ệ quốc t ế, hoặc là không một quốc gia nào được yêu cầu tính vào lãi suất
của quốc gia khác, như một bộ phận của hệ thống tương hỗ mang lại lợi ích cho tất cả.
Nhưng trong quan điểm của tác giả, không thích hợp để sử dụng ngôn ngữ của sự vi
phạm WTO cho câu hỏi cân bằng giữa những ý kiến thuận và chống về tỷ giá hối đoái
cố định, cái mà vốn đã không rõ ràng bằng câu hỏi cân bằng giữa thuận và chống về tự
do thương mại.
Nên thừa nhận ngay từ đầu rằng một cơ chế tỷ giá hối đoái cố định có một số lợi thế.
Có lẽ hai lợi thế của việc cố định tỷ giá trong trường hợp một đồng tiền lớn cụ thể như
Đô la Mỹ là rất quan trọng. Đầu tiên là sự cung cấp một đồng neo danh nghĩa để ngăn
chặn các chính sách tiền tệ có thể gây ra lạm phát sau đó. Nhưng cũng có những ứng

