TIỂU LUẬN:
Vai trò của ISO 9000 đối với sự
phát triển của các DNCN Việt Nam
phần I : lời Mở Đầu
Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá về kinh tế, cạnh tranh trên thị trường
ngày càng trở nên quyết liệt, chất lượng sản phẩm, shợp về giá cả dịch vụ
thuận tiện... sẽ là những yếu tố quyết địnhđến sự thành bại của các doanh nghiệp, các
công ty cũng như của các quốc gia trên thị trường quốc tế.
vậy, vấn đề chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngày nay không chỉ được đặt ra
cấp độ công ty, mà còn một trong những mục tiêu tầm chiến lược quan trọng
trong các chính sách, kế hoạch chương trình phát triển kinh tế của nhiều quốc gia
và khu vực.
Trong những năm qua Việt nam, cùng với sự phát triển vượt bậc vkinh tế nhờ
những chính sách phù hợp, trong sản xuất Công nghiệp, Thương mại, Dịch vụ...
chúng ta đã nhiều sản phẩm chất lượng cao chiếm nh được thị trường trong
nước, một số mặt hàng đã thị trường xuất khẩu ổn định, tạo được nguồn thu đáng
kể cho ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, so với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước cũng
như xuất khẩu, chất lượng sản phẩm Việt nam i chung vẫn còn thấp chưa ổn
định .Do đó, để thể cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, chúng ta cần phải nâng
cao hơn nữa chất lượng vthế cạnh tranh của các sản phẩm Việt nam. Điều đó lại
càng trở nên quan trọng hơn khi chúng ta là thành viên chính thức của ASEAN, trong
tương lai sẽ trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO). Như vậy,
công cuộc đổi mới hội nhập kinh tế đang đặt ra trước mắt các nhà xản suất Việt
nam những nhiệm vụ thách thức nặng nề. Để thể hoàn thành tốt sứ mạng quan
trọng này, đòi hỏi các doanh nghiệp, các quản trị gia phải có những kiến thức và kinh
nghiệm nhất định trong việc quản lý các hoạt động xản suất kinh doanh.
Bằng nhận thức tham khảo tìm đọc các tài liệu, em viết bài: Vai trò của ISO
9000 đối với sự phát triển của các DNCN Việt Nam nhằm góp phần nhỏ của
mình vào xu thế chung của đất nước, bằng kiến thức của mình để nêu được các
vấn đề cần đề cập đến trong bài viết này.
phần II : Nội Dung
CHƯƠNG I : Tổng quan về chất lượng Và hệ thống quản lý chất lượng
1. Tổng quan về chất lượng.
1.1- Một số quan điểm về chất lượng:
1.1.1- Quan điểm về chất lượng ca chuyên gia W.Edward.Deming (Mỹ):
Theo ông : “Chất lượng là một mức độ dự báo được vđộ đồng đều độ tin cậy
với chi phí thấp và phù hợp với thị trường”.
Và ông đã nhìn nhận về chất lượng như sau:
Chất lượng hiệu suất tăng thì độ biến động giảm. Sử dụng kiểm soát bằng
thống sẽ mang lại được khả năng kiểm soát các biến động khả năng dbáo
về giới hạn của các biến động đó.
Chất lượng đạt được cần thiết phải sự tham gia của toàn thể nhân viên-Nhưng
lãnh đạo chịu trách nhiệm 90% các vấn đề về chất lượng. Deming đã đề ra 14
điểm cần thiết cho lãnh đạo để nâng cao chất lượng.
1.1.2- Quan điểm về chất lượng ca chuyên gia Kaoru Ishikawa(Nhật):
Chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu với chi phí thấp nhất:
Trách nhiệm về chất lượng phụ thuộc 80-85% vào ban lãnh đạo.
Chất lượng phải dựa trên căn bản là Đào tạo-Huấn luyện-Giáo dục thường xuyên.
Tóm lại, qua các quan điểm nghiên cứu trên, ta thấy chất lượng vai trò quan
trọng, nó vấn đề mà mọi nhà kinh doanh phải nghiên cứu tìm hiểu, để từ đó có giải
pháp tối ưu phù hợp với hệ thống môi trường mà mình đang tồn tại và quản lý.
1.2- Định nghĩa về chất lượng (Quality).
Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 8402 thì : Chất lượng là tập hợp các đặc nh của
một thực thể, đi tượng, tạo cho thực thể, đi tượng đó có khảng năng thoả mãn
nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềmn .
Từ những quan niệm trên thể thấy rằng Chất lượngkhông chỉ việc thoả
mãn một quy cách kỹ thuật hay một yêu cầu cụ thể nào đó, mà có nghĩa rộng hơn rất
nhiều- đó là sự thoả mãn những mong muốn của khách hàng.
1.3- Tầm quan trọng của chất lượng đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Những m gần đây Việt Nam, trong bước đầu tiếp cận với nền kinh tế thị
trường, có squản của Nhà nước, chúng ta ngày càng nhận tầm quan trọng của
những vấn đề liên quan đến chất lượng. Nhất sau khi chúng ta trở thành thành viên
chính thức của ASEAN.Gia nhập ASEAN chúng ta phải chấp nhận luật chơi của kinh
tế thị trường AFTA CEPT, từng bước đến năm 2003 chỉ được đánh thuế 0% đến
5%đối với các mặt hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN. Điều này thể nói một
thách thức lớn đối với mặt hàng Việt nam, bởi lẽ khi đó hàng hoá các nước ASEAN
sẽ dễ dàng m nhập thị trường Việt nam, hàng hoá Việt nam sphải cạnh tranh rất
mạnh mngay trên thị trường trong nước với một mặt bằng giá và chất lượng như
hiện nay, liệu các sản phẩm Việt nam đủ sức cạnh tranh vươn ra thị trường
quốc tế hay không?
Nhưng ngược lại, mở cửa thị trường với ASEAN chúng ta thêm sức mua của
400 triệu dân, chúng ta điều kiện để học hỏi, trao đổi hợp tác kinh tế, văn hoá th
thao, công nghệ, thu hút đầu tư trong nhiều nh vực, từ đó mở ra một chương trình
mới để Việt nam thể nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giơí. Điều đó sẽ
động lực thúc đẩy Việt nam phải cố gắng và nlực hơn nữa để rút ngắn khoảng cách
kinh tế, bằng nhịp độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bằng sự học hỏi kinh
nghiệm quản lý, thành thạo, thích nghi đáp ứng tốt nhất các tín hiệu của thị
trường.
Chất lượng đã trở thành Quốc sách của chúng ta trên con đường phát triển hội
nhập vào nền kinh tế thế giới. Chất lượng yếu tố quan trọng, song để thể làm
chủ được lại một vấn đề không đơn giản, đòi hỏi một cách nhìn nhận, một
sự quan tâm mới, không phải chỉ của những nời “làm chất lượng”, của các cơ quan
quản lý, các công ty mà còn là một vấn đề liên quan tới tất cả mọi người trong xã hội.
Tuy nhiên, trách nhiệm đó trước hết thuộc vcác nhà sản xuất, các nhà quản lý.
Do đó, để xây dựng được một mô hình quản lý chất lượng hữu hiệu, các nhà quản trị
cần phải biết những yêu cầu của thị trường ngày nay đối với công tác quản chất
lượng.
2- Một s yêu cầu thực tiễn đi với một hệ thống quản lý chất lượng
Để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần thiết phải xây
dựng được một hệ thống chất lượng phù hợp. Đây một nhu cầu tất yếu xuất
phát từ một số yêu cầu thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh như sau:
2.1- Yêu cầu của một hệ thống quản lý kinh tế thống nhất trong doanh nghiệp
Quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô cũng như vi mô thực chất là một quá trình quản v
mặt ợng, mặt chất con người nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là: Khai thác mọi
tiềm năng, sử dụng hợp lý, hiệu quả tiết kiệm nhất các nguồn lực để nâng cao
năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, dịch vụ thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội
với chi phí thấp nhất.
Quản chất lượng quản mặt chất của hệ thống, liên quan đến mọi bộ
phận, mọi người và mọi công việc trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
vậy, để đạt được mức chất lượng cao nhưng ít tốn kém nhất, cần phải quản lý chặt
chẽ kiểm soát được mọi yếu tố của quy trình. Đó chính mục tiêu lớn nhất của
công tác Quản lý chất lượng trong doanh nghiệp ở bất kể quy mô nào.
2.2- Đòi hỏi của quá trình cạnh tranh
Khi đánh giá khả năng cạnh tranh của một sản phẩm, một doanh nghiệp, người ta
thường xem xét đến 3 tiêu chuẩn hàng đầu là: chất lượng sản phẩm, gía cả và những
điều kiện giao hàng (Quality,Price,Delivery) đối với sản phẩm đó.
Chính vậy, việc liên tục hạ gthành sản phẩm, dịch vụ và không ngừng cải
tiến hoàn thiện chất lượng đã trở thành mục tiêu quan trọng trong các hoạt động của
nhiều công ty trên thế giới. Tuy nhiên, đây không phải một vấn đề đơn giản,
kết quả tổng hợp của toàn bộ các nỗ lực trong suốt quá trình hoạt động của đơn vị, nó
phụ thuộc vào tất cả nhân viên cán bộ quản lý... đặc biệt trong đó hiệu quả
của một hệ thống quản lý chất lượng đồng bộ.
Quan tâm đến chất lượng, thiết lập được một hệ thống chất lượng hữu hiệu là một
trong những phương thức tiếp cận tìm ch đạt được những thắng lợi trong sự
cạnh tranh gay gắt trên thương trường, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doang
nghiệp.