intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 849_1568189308.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 15:08:43
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tiểu luận: Xã hội hóa dịch vụ y tế tại TPHCM - Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Trần Nam | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:37

0
78
lượt xem
21
download

Tiểu luận: Xã hội hóa dịch vụ y tế tại TPHCM - Thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài tiểu luận với đề tài “Xã hội hóa dịch vụ y tế – thực trạng và giải pháp” được tác giả thực hiện nhằm tìm hiểu và đưa ra những nhận xét đúng đắn hơn, một cách nhìn sâu rộng hơn. Nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung, chính sách phát triển y tế nói riêng và cụ thể hơn nữa là chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Và nhất là góp phần vào mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng một tổ quốc xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh - một xã hội mà mọi người sống trong ấm no, hạnh phúc, đời sống được nâng cao nhất là trong việc chăm sóc sức khỏe.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Xã hội hóa dịch vụ y tế tại TPHCM - Thực trạng và giải pháp

  1. Trang 1
  2. LỜI NÓI ĐẦU Trong tất cả các chính sách phát triển đất nước thì chính sách xã hội hóa dịch vụ  công cộng được xem chính sách mang tầm quan trọng chiến lược hành đầu của Đảng   và Nhà nước ta. Trong chính sách xã hội hóa dịch vụ  công nói chung thì chính sách xã   hội hóa y tế là chính sách được đưa vào một trong ba chính sách đi đầu của đất nước  đó là giáo dục, y tế, văn hóa. Vì đây là chính sách phát triển đất nước trong thời kỳ mới   – thời kỳ hội nhập nâng cao đời sống nhân dân cải thiện dịch vụ công cộng xã hội. Thực trạng xã hội hóa dịch vụ  y tế  hiện nay đang còn nhiều bất cập, cần có  những phương hướng giải pháp đưa ra để  nâng cao chất lượng của ngành mà chính   sách của Đảng và Nhà nước là phương hướng giải quyết hàng đầu cho những tồ  tại   này. Tuy nhiên, những chính sách của Đảng và Nhà nước đưa ra đã phù hợp và sát với   thực tiễn hay chưa? Có mang lại hiệu quả hay không? Có được người dân và toàn thể  xã hội  ủng hộ  hay không?... đó lại là một chuyện, một vấn đề  khác. Chính vì lẽ  đó,  chúng tôi xin viết về  đề  tài  “Xã hội hóa dịch vụ  y tế  – thực trạng và giải pháp”   nhằm tìm hiểu và đưa ra những nhận xét đúng đắn hơn, một cách nhìn sâu rộng hơn.   Nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung, chính sách phát  triển y tế nói riêng và cụ thể hơn nữa là chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế trên địa bàn  thành phố  Hồ  Chí Minh. Và nhất là góp phần vào mục tiêu phát triển đất nước, xây  dựng một tổ quốc xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn   minh – một xã hội mà mọi người sống trong  ấm no, hạnh phúc, đời sống được nâng   cao nhất là trong việc chăm sóc sức khỏe. Đây không phải là một đề tài mới mẻ, tuy nhiên có nhiều vấn đề khó khăn trong  lúc giải quyết, bên cạnh đó xã hội luôn luôn vận động và phát triển nên chính sách  cũng như  ngành y tế luôn thay đổi vì vậy khi phân tích không thể  bỏ qua sai sót, kính  mong quý giảng viên và bạn đọc có những đóng góp để cho bài viết được hoàn thiện   hơn. Xin chân thành cảm ơn! Trang 2
  3. NỘI DUNG CHÍNH Trải qua các giai đoạn lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội chủ  nghĩa, thống nhất đất nước và phát triển kinh tế xã hội, ngành Y tế đã có những đóng  góp to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.  Từ sau thời kỳ "Đổi mới", hệ thống y tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi: nhiều  cơ sở điều trị thiếu kinh phí, quy định thu một phần viện phí, xoá bỏ bao cấp ở tuyến   xã, hệ thống cung ứng chăm sóc y tế được đa dạng hóa với thành phần cung ứng thuốc   và dịch vụ  y tế tư  nhân... “Pháp lệnh hành nghề  Y Dược tư  nhân” đã được ban hành  năm 1993. Nhà nước cũng đã đưa ra các quy định về miễn giảm phí cho các đối tượng  chính sách: người nghèo, người có công với nước, bà mẹ  Việt Nam anh hùng... Ngày   21/8/1997 Chính phủ  đã có “Nghị  quyết 90/CP về  phương hướng, chủ  trương xã hội  hoá các hoạt động văn hoá, giáo dục và y tế; Nghị  định số  73/1999/NĐ­CP về  chính   sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn  hoá thể thao”. Ngày 22 tháng 1 năm 2002, Ban Chấp hành trung ương Đảng đã ra chỉ thị  số 06­CT/TW về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở. Trong đó chỉ thị  có nêu  rõ trách nhiệm của các ngành, đoàn thể trong việc huy động xã hội tham gia xây dựng,  củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở.  Thực tiễn thực hiện chủ  trương xã hội hoá sự  nghiệp chính sách bảo vệ  sức   khỏe nhân dân trong nhiều năm qua đã thu được nhiều kết quả  nhất định. Đó là huy  động các nguồn lực tài chính cho y tế, là đa dạng hoá các loại hình dịch vụ  chăm sóc  sức khoẻ, đặc biệt là phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương, các ngành,  các đoàn thể  xã hội và toàn thể  nhân dân tham gia vào nhiệm vụ  chăm lo sức khoẻ.   Yếu tố con người là then chốt đã được đưa lên hàng đầu. Trang 3
  4. Tuy nhiên, hoạt động của y tế cơ sở ở nhiều nơi, nhiều lúc còn chưa được như  mong muốn. Nhu cầu và yêu cầu của người dân chưa được đáp ứng, đặc biệt đối với  người nghèo và người dân  ở  các vùng sâu và vùng xa. Sự  phân hoá giầu nghèo nhanh  chóng đã giảm khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế của người nghèo. Ngoài nguyên  nhân về  đầu tư  kinh phí cho hạ  tầng và trang thiết bị, có lúc, có nơi nhận thức chưa  đúng, chưa đầy đủ  bản chất và nội dung của xã hội hoá trong công tác chỉ  đạo, điều   hành chăm sóc sức khoẻ  cho nhân dân. Vẫn còn một bộ  phận nhân dân và lãnh đạo  hiểu xã hội hóa y tế đơn giản chỉ là sự huy động đóng góp của nhân dân thông qua các  chính sách về thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế. Không ít nơi hiểu xã hội hoá là  thu tiền sử dụng máy móc, thiết bị y tế đắt tiền, máy đặc trị  ("máy xã hội hoá"), là thu  tiền giường bệnh ("giường bệnh xã hội hoá"), là tư nhân hoá các dịch vụ y tế...  Việc nghiên cứu thực trạng và xây dựng mô hình huy động xã hội cho y tế  nhằm đảm bảo công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe là điều cần thiết. I. NHẬN BIẾT VẤN ĐỀ Từ khi giải phóng đất nước năm 1975 đến nay, đất nước ta đang gặp nhiều khó   khăn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế ­ xã hội, an ninh quốc phòng. Trong đó có vấn đề  về y tế, đặc biệt là chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế trong toàn lãnh thổ. Nhận biết vấn đề  và phản  ứng kịp thời là một trong những phẩm chất quan  trọng hàng đầu của mọi quốc gia, mọi tổ  chức và mọi cơ  thể  sống trong cuộc đấu   tranh để sinh tồn và phát triển. Thế nhưng, trên thực tế, không phải chủ  thể nào cũng  có được phẩm chất quan trọng đó. Vẫn thường xẩy ra những trường hợp sau đây: ­ Không nhận biết vấn đề đang phát sinh; ­ Nhận biết vấn đề quá chậm; ­ Hiểu sai vấn đề. Trường hợp thứ nhất là không phát hiện ra con bệnh; trường hợp thứ hai là phát   hiện ra con bệnh quá muộn; trường hợp thứ ba là chẩn đoán sai bệnh. Hậu quả của các  trường hợp này, có lẽ, đã rõ và ai cũng biết. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những cách phản ứng  của Nhà nước đối với những vấn đề  đặt ra trong cuộc sống. "Làm luật phần nào đó   Trang 4
  5. cũng giống như bốc thuốc, phải hiểu đúng bệnh mới bốc đúng thuốc" (Vũ Mão –Tạp   chí Cộng sản số 8­1995., 5­6.) Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa có được một cơ chế và một hệ thống các  tiêu chí tương đối phát triển và khoa học để nhận biết các vấn đề đang phát sinh trong   cuộc sống. Hiện nay, chúng ta nhận biết các vấn đề  chủ  yếu thông qua các số  liệu   thống kê (bỏ qua sự băn khoăn về mức độ chính xác của các số liệu này), báo cáo tổng  kết của các cơ quan chức năng, báo cáo giám sát thanh tra bộ giáo y tế và ý kiến cử tri,   dư luận xã hội, thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, khiếu nại và tố  cáo của công dân, cũng như  của phản ánh của bệnh nhân v.v... Liên quan đến vấn đề  này, chúng tôi cho rằng các buổi thảo luận của bộ  y tế  tại Hội trường về  tình hình  thực hiện nhiệm vụ năm trước và phương hướng, nhiệm vụ năm sau của đất nước mà   cụ thể là thực hiện nhiệm vụ xã hội hóa dịch vụ y tế là diễn đàn quan trọng hàng đầu  để nhận biết các vấn đề đang được đặt ra đối với chúng ta. Tuy nhiên, cách thảo luận   hiện nay vẫn còn tương đối dàn trải. Có lẽ, cần thảo luận tập trung hơn để làm rõ các  vấn đề của đất nước.  Sau khi đã làm rõ các vấn đề cũng cần có những công đoạn xử lý tiếp theo nữa  mới biến được việc thảo luận của Bộ  Y tế  tại Hội trường thành một mắt xích có   nghĩa trong quy trình ban hành các quyết định, chính sách của Nhà nước ta trong vấn đề  y tế. Trong bước đầu tiên của công đoạn phân tích chính sách, khả  năng phân biệt   giữa hiện tượng và vấn đề  là rất quan trọng. Trên thực tế, điều dễ  thấy là các hiện   tượng ­ các biểu hiện bề ngoài của vấn đề, chứ không phải vấn đề. Ví dụ, nhiều bệnh  viện mở  ra sao lại không có bệnh nhân mà có một số  trường lại có quá nhiều người   bệnh đến khám, đó chỉ là hiện tượng của vấn đề còn cụ thể là chất lượng khám chữa   bệnh cũng như  cơ  sở vật chất trang thiết bị của các bệnh viện mới là vấn đề  chính.  Một ví dụ  nữa là tôm, cá chết hàng loạt trên các sông, hồ  chỉ  là hiện tượng, còn ô   nhiễm nước, có thể, mới là vấn đề. Tương tự, đầu tư trong nước rất thấp chỉ là hiện   tượng. Vấn đề chính ở đây, theo chúng tôi, có thể, là vấn đề về lòng tin (sự lo lắng khi  khám bệnh tại các bệnh viện không có uy tín hay mới mở, sợ phải đóng viện phí cao  Trang 5
  6. mà được khám, chữa bệnh đã đúng chuẩn chưa?). Ngoài ra, cũng có thể còn có một số  vấn đề  khác như  nền kinh tế  nước ta phát triển còn chậm, nhân dân còn nghèo, thị  trường vốn không phát triển; kỹ  năng đào tạo còn hạn chế; hệ thống thông tin không   phát triển... Nếu giải pháp chúng ta đưa ra không nhằm vào việc giải quyết vấn đề nói  trên, thì khó lòng thúc đẩy được sự phát triển của ngành Y tế. Xây dựng một chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế hướng trọng tâm vào việc giải   quyết các vấn đề đang đặt ra đối với đất nước nói chung và ngành Y tế nói riêng trong   quá trình phát triển là cách làm thiết thực và hiệu quả. II. PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ Trong kinh tế ­ chính trị học, xã hội hoá được hiểu là chuyển cái riêng thành cái  chung, cái cá thể  thành cái xã hội; xã hội hoá (ruộng đất) là quá trình chuyển tư  hữu  thành công hữu; xã hội hoá (lao động) là quá trình từ hợp tác giản đơn lên trình độ hợp   tác có phân công, chuyên môn hoá trên phạm vi toàn xã hội. Trong xã hội học và tâm lý,  giáo dục học, xã hội hoá là quá trình con người cá thể  tiếp nhận các tri thức, chuẩn  mực và giá trị để trở thành một thành viên đầy đủ  của xã hội, tức là quá trình chuyển   hoá hệ  thống tự  nhiên ­ sinh vật thành hệ  thống xã hội ­ văn hoá để  trở  thành con  người xã hội. Xã hội hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn   xã hội vào hoạt động cung cấp dịch vụ  công nhằm từng bước nâng cao mức hưởng  thụ về dịch vụ của nhân dân. Xã hội hóa dịch vụ  y tế là tổ chức vận động sự  tham gia của các tổ  chức đoàn   thể trong xã hội cũng như các nhà đầu tư vào việc cung cấp dịch vụ y tế dẻ từng bước   nâng cao dịch vụ này góp phần phục vụ  mức hưởng thụ dịc vụ và nâng cao sức khỏe  cho nhân dân. 1. Cơ sở pháp lý cho việc xã hội hóa ngành y tế Một số văn bản chủ yếu liên quan đến chủ trương xã hội hóa y tế: Trang 6
  7. ­ Đối với y tế ngoài công lập, ngoài các lĩnh vực thuế, đăng ký kinh doanh, các   quy chế  chuyên môn y, dược… việc quản lý nhà nước về  y tế  tư  nhân có pháp lệnh   hành nghề y dược tư nhân và các văn bản hướng dẫn thực hiện. ­ Xã hội hóa y tế  thực hiện theo Nghị  quyết 90/NĐ­CP năm 1997, Nghị  quyết  05/NQ­CP   năm   2005,   Nghị   định   53/2006/NĐ­CP   năm   2006   (thay   thế   Nghị   định  73/1999/NĐ­CP năm 1999) ­ Quyền tự chủ, chịu trách nhiệm theo Nghị định 43/2006­NĐ­CP năm 2006. ­ Chỉ thị 06/CT­TW của Ban Bí thư TW về tăng cường mạng lưới y tế cơ sở ­ Các văn bản chuyên biệt được nêu theo từng vấn đề. 2. Thực trạng y tế Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nỗ  lực to  lớn của toàn dân tộc, nước ta đã phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó  có ngành y tế. Sau nhiều năm thực hiện Chiến lược phát triển ngành y tế, y tế nước ta  đã từng buớc phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình khám chữa bệnh cũng  như các bệnh viện mọc lên rất nhiều, nhất là bệnh viện tư nhân và các phòng khám tư  phát triển rất mạnh mẽ. các bệnh viện không những càng nhiều về chủng loại và các   loại hình khám chữa bệnh cũng được chú ý đến nhất là chất lượng ngày càng nâng cao.   Đội ngũ y, bác sĩ ngày càng nhiều và có trình độ cao, chuyên môn sâu. Nhờ có khoa học  công nghệ  mà dụng cụ  khám, chữa bệnh hiện đại góp phần nâng cao trong công tác  của ngành y tế và cũng nhờ vậy mà ngành y tế đã đật được những thành tựu rất to lớn   trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, chiến lược xã hội hóa dịch vụ  y tế  cũng bộc lộ  nhiều hạn chế  và  yếu kém: chất lượng khám chữa bệnh nhìn chung còn thấp, chưa theo kịp đòi hỏi nhu   cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như những đòi hỏi của người dân; cơ  chế quản lý của Nhà nước đối với hệ thống y tế và sự quản lý của các bệnh viện còn   nhiều bất hợp lý kéo dài, chưa tạo ra động lực đủ mạnh để phát huy năng lực sáng tạo   và sự  tự  chịu trách nhiệm của đội ngũ y, bác sĩ. Các bệnh viện mọc lên rất nhiều   nhưng chất lượng quá kém so với nhu cầu, khoa học công nghệ  không được đầu tư,   đội ngũ y, bác sĩ tay nghề chưa cao, phòng bệnh quá chật hẹp, cơ sở vật chất quá tồi   Trang 7
  8. tàn, mà trong khi đó lượng người có nhu cầu khám chữa bệnh và  ở  lại bệnh viện để  điều trị  lại quá đông. Khi nhu cầu của người dân tăng cũng là lúc mà các dịch vụ  ăn  theo như  các phòng khám tư  nhân, các hiệu thuốc ngày càng nhiều nhưng chất lượng   thì rất kém, chưa kể đến nhân dân phải dùng thuốc kém chất lượng, thuốc giả,… mà   cụ thể rất rõ ngay tại thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, việc xã hội hóa dịch vụ  y tế  là một vấn đề  cần phải quan tâm  theo sát, quản lý, kiểm tra giám sát chặt chẽ để ngành y tế cả nước nói chung và thành  phố Hồ Chí Minh nói riêng để có một bước phát triển đầy bền vững và chất lượng. Hiện nay, ngành y tế đang có nhiều chuyển đổi để đáp ứng được yêu cầu bảo   vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong nền kinh tế thị trường định hướng   xã hội chủ  nghĩa. Từ  cơ  chế  quản lý y tế  mang nặng dấu  ấn của thời bao cấp đang  được chuyển sang cơ chế tự chủ cung  ứng dịch vụ công ích, có đủ  quyền tự  chủ, tự  chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế  và tài chính. Đẩy   mạnh chủ  trương xã hội hóa nhằm huy động mọi nguồn lực để  đầu tư  cho y tế, tạo   điều kiện cho ngành y tế phát triển nhanh hơn và chất lượng cao hơn. Gia nhập WTO   vừa là thách thức cũng vừa là cơ hội cho ngành y tế, vừa phát triển và vừa hội nhập.   Do đó đã có những hạn chế trong lĩnh vực quản lý, chính sách, chất lượng khám chứa   bệnh, bảo hiểm y tế, thủ tục hành chính về đầu tư, cơ chế chuyển đổi từ  cơ sở công  lập thành cơ  sở  ngoài công lập… và đòi hỏi ngành y tế  và những ngành có liên quan   phải nổ lực nhiều hơn, cùng phối hợp thật nhịp nhàng mới theo kịp sự phát triển. Nội dung giám sát được sắp xếp thành ba nhóm vấn đề: Y tế  công lập, Y tế  ngoài công lập và cuối cùng là những khó khăn, vướng mắc. 2.1. Y tế công lập Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh các bệnh viện công lập cũng như  dân lập phát triển rất mạnh, nhưng đáng chú ý đầu tiên là các bệnh viện công lập. trên   thực tế  ta thấy, bệnh viện công là những bệnh viện lớn và rất được mọi người tin   tưởng và timg đến. không chỉ  được khám và chữa trị  chuẩn mà sự  phục vụ  cũng rất  tận tình và chu đáo. Cũng vì những ưu điểm này mà bệnh viện công đã thu hút rất đông  bệnh nhân đến đây, điều đó đã làm cho sự ùn tắc tại các bệnh viện, số bệnh nhân thì  Trang 8
  9. đông mà không đủ  phương tiện, cơ  sở vật chất đáp ứng cho nhu cầu của bệnh nhân.  Tình trang hai bệnh nhân phải nằm trên một giường bệnh là chuyện bình thường, chưa   kể đến ngoài hành lang cũng phải trải chiếu để ở lại điều trị. Cũng do số lượng đông   đúc mà xẩy ra tình trạng “thiếu thầy”, một bác sĩ phải điều trị chăm sóc cho rất nhiều   bệnh nhân nên đã kéo theo tình trạng kém chất lượng trong các bệnh viện công. Cũng vì những điều này đã đưa ra những câu hỏi là làm sao để đáp ứng tốt hơn   cho dịch vụ y tế, làm sao cho người dân khỏi chụi cảnh mệt nhọc khi vào bệnh viện,  có cần phải xã hội hóa y tế công hay không? Đó cũng là những câu hỏi mà đang có rất   nhiều dư luận khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đã xã hội hóa một phần dịch vụ  y tế  công. Một số  bệnh viện đã cổ  phần hóa cho tư  nhân đầu tư  vào, cho các cán bộ  công nhân viên chức góp vốn để đầu tư. * Mô hình dịch vụ y tế trong Bệnh viện công:  Từ năm 1989 trở về trước, ngân sách nhà nước cung cấp gần như toàn bộ nguồn   tài chính cho hoạt động của các cơ  sở  y tế  công lập, người bệnh được khám, chữa  bệnh không phải trả  tiền. Nhưng do nguồn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, không  đảm bảo được nhu cầu chi tối thiểu của ngành y tế, cơ  sở vật chất xuống cấp, trang   thiết bị  chuyên môn lạc hậu, chất lượng khám, chữa bệnh giảm sút, đời sống cán bộ  công chức còn nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Ủy ban nhân dân Thành phố có công  văn số  6212/UB­NCVX ngày 29 tháng 12 năm 1994 về  việc giải quyết khó khăn đời   sống cho nhân viên y tế và Liên sở Y tế ­ Tài chính – Lao động Thương binh và Xã hội  có công văn số  1077/LS ngày 10 tháng 7 năm 1995 hướng dẫn việc tổ  chức các hoạt   động dịch vụ y tế trong các cơ sở khám chữa bệnh của ngành y tế Thành phố. Các đơn   vị trực thuộc của ngành Y tế thành phố đã triển khai thực hiện nhiều loại hình dịch vụ  y tế có hiệu quả như sau: ­  Mô hình Phòng khám, chữa bệnh ngoài giờ: Tất cả  các cơ  sở  y tế  từ  tuyến   Thành phố  đến Quận/Huyện đều tổ  chức các hoạt động dịch vụ  y tế  ngoài giờ  hành   chính, nhằm đáp  ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân đồng thời giải   quyết khó khăn đời sống cho cán bộ viên chức y tế. Trước khi tổ chức đơn vị phải xây  dựng phương án hoạt động gởi Sở Y tế; các hoạt động dịch vụ  y tế không được ảnh   Trang 9
  10. hưởng đến việc hoàn thành các nhiệm vụ  chính trị  được giao; các hoạt động dịch vụ  phải đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng, kỹ thuật theo tiêu chuẩn chung của ngành  y tế. ­ Mô hình giường dịch vụ: Được thực hiện ở nhiều bệnh viện, bệnh nhân được  chăm sóc, điều trị về chuyên môn theo giá viện phí qui định của nhà nước, nhưng nếu  có sử dụng dịch vụ giường bệnh theo yêu cầu phải chi trả cho bệnh viện theo giá thỏa  thuận. Toàn bộ  số tiền thu được của các giường bệnh theo thỏa thuận này đều được   nộp vào nguồn thu một phần viện phí chung của bệnh viện và sử  dụng theo qui định   của nhà nước. Số  giường bệnh theo giá thỏa thuận không được chiếm quá 30% số  giường bệnh trong chỉ tiêu kế hoạch được giao. Cũng chính vì vậy mà giường dịch vụ  cho người dân không đáp  ứng đầy đủ  khiến cho những người muốn mình được phục   vụ tốt hơn cũng không được thực hiện. ­ Mô hình dịch vụ sinh, phẫu thuật theo yêu cầu: Bệnh nhân chọn Bác sĩ theo ý  muốn để được hưởng sự chăm sóc của các Bác sĩ giỏi chuyên môn và không phải chờ  đợi lâu, tiền dịch vụ  thu của bệnh nhân được trích 1 phần để  bồi dưỡng cho bác sĩ  được chọn hoặc cho ê kíp phẫu thuật. ­ Mô hình huy động vốn nội bộ  để  mua máy móc, trang thiết bị: Vay vốn của  cán bộ  công chức, quỹ  phúc lợi tập thể  của đơn vị  mua sắm máy móc, trang thiết bị  chuyên môn kỹ thuật hiện đại được thực hiện ở nhiều Bệnh viện của thành phố và tại   các Trung tâm Y tế Quận/Huyện trước khi thực hiện, đơn vị phải lập dự án gởi Sở Y   tế trình Ủy ban Nhân dân Thành phố phê duyệt và tùy theo giá trị mua sắm đơn vị phải  đảm bảo thực hiện đúng thủ tục qui trình treo qui định. * Một số nguyên tắc chung: ­ Giá thu dịch vụ y tế do Giám đốc đơn vị tự quyết định trên cơ sở đảm bảo đầy   đủ các chi phí và có tích lũy. ­ Tổng số  nguồn thu của các mô hình nêu trên (trừ  giường thỏa thuận) được   phân bố như sau: + Chi phí tiền thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, nguyên vật liệu… + Chi phí sửa chữa, bảo trì máy móc, trang thiết bị. Trang 10
  11. + Chi phí cho hoạt động dịch vụ như: trả công người lao động, chi phí quản lý,  văn phòng phẩm, điện, nước… + Trích khấu hao tài sản để hoàn vốn (hoặc lập quỹ phát triển sự nghiệp). + Trả lãi suất theo tỷ lệ vốn góp. + Nộp đầy đủ các khoản thuế theo qui định hiện hành. + Phần thu nhập còn lại: Đối với đơn vị  đã thực hiện Nghị  định 10/CP thì trích  100% bổ sung vào kinh phí hoạt động. Đối với đơn vị chưa thực hiện Nghị định 10/CP   thì trích 35% bổ sung kinh phí hoạt động và trích 65% bổ sung quỹ khen thưởng, phúc   lợi. ­ Về  quản lý tài chính: đơn vị  phải mở  đầy đủ  sổ  sách kế  toán để  theo dõi   khoản thu này; hạch toán và báo cáo theo qui định; lập đầy đủ  chứng từ  để  kiểm tra,   đối chiếu khi cần; nộp đầy đủ các khoản thuế theo qui định. * Công tác tài chính trong bệnh viện công: Nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động chi thường xuyên sự nghiệp y tế gồm: ­ Nguồn ngân sách nhà nước cấp (trong đó kể cả nguồn viện trợ không hoàn lại)   cho chi thường xuyên. ­ Nguồn thu sự nghiệp y tế gồm thu một phần viện phí (kể cả  thu Bảo hiểm y   tế), thu phí và lệ  phí (y tế  dự  phòng, vệ  sinh môi trường, kiểm nghiệm dược phẩn),   học phí của Trung tâm Đào tạo & Bồi dưỡng Cán bộ Y tế. ­ Nguồn thu khác gồm: Thu tiền nhượng máu của Bệnh viện Truyền máu và  Huyết học, nguồn thu tài trợ của tổ chức, cá nhân, nguồn thu sản xuất, cung ứng dịch  vụ bổ sung cho hoạt động của đơn vị. Tuy nhiên những nguồn thu này chưa đáp  ứng được chi trả  lương cho cán bộ,  nhân viên trong bệnh viện và tu sửa cở sở vật chất. nó chỉ mới một phần nào góp phần   vào trong công cuộc cải thiện bệnh viện, như vậy thì chưa đáp ứng đầy đủ  cho dịch   vụ y tế mà cần phải xã hội hóa hơn nữa để có được dịch vụ tốt hơn cho y tế. ­ Đối với Nguồn ngân sách nhà nước cấp: Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các cơ  sở y tế  phục vụ  cho công tác khám  chữa bệnh, phòng bệnh. Nguồn ngân sách nhà nước cấp (không kể  kinh phí mua thẻ  Trang 11
  12. bảo hiểm y tế cho người nghèo) cho ngành y tế ngày càng tăng (năm 2004: 518 tỉ; năm  2005: 651 tỉ, kế  hoạch năm 2006: 720 tỉ); Ngân sách nhà nước cấp cho ngành y tế  chiếm khoảng 25% ­ 30% tổng chi cho công tác khám chữa bệnh Ngân sách nhà nước chi cho y tế bình quân từ  năm 2004 đến năm 2006 khoảng  90.000đ/đầu dân/năm đến 115.000đ/đầu dân/năm (tính trên 6.062.933 dân số  theo số  liệu của Cục Thống kê TP) so với năm 1999 – 2000 là 61.000đ/đầu dân/năm. Về định mức giường bệnh nội trú và phòng bệnh được Ủy ban nhân dân thành  phố  giao cho ngành y tế  năm 2006 như  sau: Tuyến Thành phố: 30 triệu/giường/năm;   tuyến Quận/Huyện: 23,7 triệu/giường/năm. Định mức chi cho phòng bệnh bình quân   13.000 đồng/đầu dân/năm. ­ Đối với Nguồn thu sự nghiệp: Nguồn thu một phần viện phí (kể cả Bảo hiểm y tế): vẫn chiếm tỉ trọng lớn và  là nguồn thu chủ  yếu của đơn vị, bình quân cả  giai đoạn từ  năm 2001 – 2005 chiếm   khoảng 60% ­ 65% trên tổng chi thường xuyên và có xu hướng ngày càng tăng.  Chính sách thu một phần viện phí theo Nghị  định 95/CP ngày 27 tháng 8 năm   1994 của Chính phủ  đã góp phần quan trọng trong việc bổ sung nguồn kinh phí hoạt   động cho các bệnh viện (năm 2004 thu được 1.114 tỉ đồng; năm 2005 thu được 1.300 tỉ  đồng và kế hoạch năm 2006 là 1.350 tỉ đồng), giúp các Bệnh viện chủ động nguồn tài  chính, giảm bớt phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Giá thu viện phí theo qui định của Thông tư  số  14/TTLB ngày 30 tháng 9 năm   1995 của Liên bộ  ban hành từ  năm 1995 đến nay đã quá lạc hậu, không còn phù hợp  với thực tế, lại được lấy làm căn cứ  để  cơ  quan bảo hiểm xã hội thanh toán chi phí  khám chữa bệnh cho người có thẻ  BHYT dẫn đến tình trạng các cơ  sở  y tế  bội chi  ngày càng tăng và đã ảnh hưởng đến nguồn tài chính của đơn vị. Ngày 26 tháng 1 năm 2006 Liên bộ Y tế ­ Tài chính – Lao động Thương binh và   Xã hội ban hành tạm thời khoảng 1.000 biểu giá kèm theo Thông tư số 03/2006/TTLT  bổ  sung cho Thông tư  liên bộ  số 14/TTLB. Sở Y tế  đã phối hợp với các Sở  ngành có   liên quan trình  Ủy ban nhân dân Thành phố  chấp thuận theo khung giá trần tối đa và   Trang 12
  13. đang tổ chức xét duyệt biểu giá thu 1 phần viện phí cho từng đơn vị trực thuộc theo qui  định phân tuyến chuyên môn kỹ thuật. Tại Nghị  định số  03/CP; Nghị  định số  204/CP và Nghị  định 118/CP của Chính  phủ  qui định đối với ngành y tế  sử  dụng tối thiểu 35% số viện phí sau khi trừ  thuốc,  máu, dịch truyền, hóa chất để thực hiện lương tăng thêm và Thông tư số 02 của Bộ Tài  chính qui định sử dụng từ nguồn 35% số thu viện phí để chi cho phụ cấp ưu đãi ngành   là chưa hợp lý do giá thu viện phí chưa kết cấu các khoản chi này mà mới chỉ  thu 1   phần chi phí trực tiếp sử  dụng cho người bệnh. Do hiện nay chỉ  mới thu một phần   viện phí nên mức thu chưa được tính đủ và số thu chưa được bù đắp chi phí mà Bệnh   viện đã chi cho người bệnh, cụ  thể  mức thu chỉ  được tính 1 số  chi phí trực tiếp để  thực hiện dịch vụ  như  hóa chất, test, kít xét nghiệm, phim X quang, vật tư  tiêu hao,  điện, nước, chưa cho phép thu tiền lương, khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý…  Và số thu viện phí thực chất không phải tăng thu cho ngành y tế mà toàn bộ số thu này   được sử dụng trực tiếp lại cho người bệnh thông qua việc mua thuốc, máu, hóa chất,   dịch truyền, vật tư tiêu hao y tế, trả chi phí điện, nước, dụng cụ vệ sinh. Số  tiền viện phí thu được chủ  yếu là tiền thuốc, máu, dịch truyền, vật tư  tiêu   hao của người bệnh sử dụng, chiếm khoảng 60 – 70% tổng số thu viện phí, nếu phải   sử dụng 35% số thu để chi lương tăng thêm, mà khoản chi này ngày càng tăng (vì nhà   nước tăng lương tối thiểu hàng năm) thì Bệnh viện sẽ  không còn kinh phí để  chi trả  cho các hoạt động phục vụ  bệnh nhân, sẽ   ảnh hưởng đến chất lượng điều trị  người   bệnh và đơn vị sẽ tiếp tục xuống cấp, tụt hậu do không có ngân sách để hoạt động. Nguồn thu viện phí và lệ  phí, học phí chiếm khoảng 1% tổng số  chi thường   xuyên , ­ Đối với nguồn thu khác: Từ nguồn thu nhượng máu, nguồn thu sản xuất, cung  ứng dịch vụ bổ sung cho   kinh phí hoạt động chiếm khoảng 4% tổng chi thường xuyên. Trang 13
  14. * Việc khám, chữa bệnh cho người nghèo và Cơ chế huy động nguồn lực xã   hội tham gia chăm sóc sức khỏe, bảo trợ cho người nghèo. Từ năm 1999, Sở Y tế Thành phố đã tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố mua   thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo theo Thông tư 05/1999/TTLT hướng dẫn thực hiện   khám chữa bệnh miễn nộp 1 phần viện phí đối với người thuộc diện nghèo. Đến năm  2002,   thực   hiện  Quyết  định  số   139/2002/QĐ­TTg   ngày  15  tháng  10  năm  2002  của   Chính phủ  về  việc khám, chữa bệnh cho người nghèo, Sở  Y tế  đã tích cực phối hợp   với các Sở  ngành có liên quan  Ủy ban nhân dân Thành phố  ban hành Quyết định số  5313/QĐ­UB ngày 5 tháng 12 năm 2003 công nhân Ban Quản lý khám bệnh, chữa bệnh  cho người nghèo Thành phố  Hồ  Chí Minh. Việc tổ  chức triển khai khám chữa bệnh   cho người nghèo tại Thành phố  rất tốt, cơ  quan bảo hiểm xã hội đã chi trả  chi phí   khám chữa bệnh cho đối tượng này ngày càng tăng nhưng đồng thời hàng năm các cơ  sở y tế của Thành phố cũng phải chi từ  nguồn kinh phí hoạt động hạn hẹp của mình   cho việc miễn, giảm viện phí cho đối tượng người nghèo qua các năm như sau: Mức chi từ nguồn ngân sách để mua thẻ BHYT cho người nghèo hiện nay là quá   thấp, năm 2005 trở  về  trước là 50.000đ/người/năm; năm 2006 là 60.000đ/người/năm.  Mức chi này chỉ  phù hợp với các tỉnh miền núi vì chi phí khám, chữa bệnh còn thấp.   Riêng tại Thành phố  Hồ  Chí Minh thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho người  nghèo theo hình thức bảo hiểm y tế  luôn bị  bội chi do quyền lợi của người có thẻ  BHYT mở  rộng, trong đó có việc người nghèo được thanh toán một số  dịch vụ  kỹ  thuật cao, chi phí lớn. Mặt khác, các bệnh viện tuyến Quận/Huyện cũng được nâng   cấp về kỹ thuật chuyên môn, làm tăng chất lượng nên người nghèo được phục vụ  tốt  hơn. Năm Số thẻ  Số tiền mua  Chi phí KCB  Bội chi quỹ  Miễn giảm VP  Trang 14
  15. BHYT thẻ BHYT cho người  KCB.NN tại BV nghèo 2003 273.134 thẻ 13,656 tỉ 32,515 tỉ 18.859 tỉ 32,681 tỉ 2004 232.371 thẻ 11,618 tỉ 56,200 tỉ 44,582 tỉ 36 tỉ 2005 269.477 thẻ 13,473 tỉ 63,159 tỉ 49,686 tỉ 39,6 tỉ 2006 270.991 thẻ 16,259 tỉ 27,3 tỉ (6 tháng  đầu năm) 2.2. Y tế ngoài công lập * Số lượng: Trên địa bàn thành phố các cơ sở hành nghề y dược tư nhân có số lượng quy mô,  hình thức các loại hình hành nghề ngày càng đa dạng và phong phú. Đối với các cơ sở  quy mô lớn, các bệnh viện tư nhân trong thời gian gần đây phát triển nhanh. Các đơn vị  tư nhân được vay vốn từ nguồn Quỹ Đầu tư thành phố, để đầu tư phát triển cơ sở vật   chất và trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc chẩn đoán và điều trị  bệnh. Cho đến   hiện nay, có năm nhà đầu tư  nước ngoài tham gia xây dựng thành lập Bệnh viện tại   thành phố. Tuy nhiên, hình thức và quy mô chưa nổi bật, chưa thể hiện sự vượt trội so  với các đơn vị tư nhân trong nước. * Nhân sự: Các bệnh viện ngoài công lập đăng ký tại Sở  Y tế  gồm thành viên của Ban  Giám đốc và các trưởng khoa, là những người đã nghỉ việc nhà nước, nghỉ hưu. Các lao   động khác, Bệnh viện tư  nhân tự  lập danh sách, đăng ký với phòng Lao động Quận   Huyện và xuất trình khi có đoàn kiểm tra, có thể làm toàn thời gian hoặc bán thời gian,   hoặc hợp tác chuyên môn khoa học kỹ  thuật. Các bác sĩ là cán bộ, công chức, muốn   tham gia hoạt động chuyên môn y tế tại các cơ sở y tế tư nhân, phải được sự  đồng ý   của thủ trưởng cơ quan. Nhân lực ngành y tế, nhất là những chuyên gia y tế  giỏi, lực   lượng điều dưỡng hiện nay chưa đáp ứng đủ so với yêu cầu. * Chất lượng khám chữa bệnh của cơ sở y tế ngoài công lập: Trang 15
  16. Các cơ sở y tế ngoài công lập đã đầu tư nhiều thiết bị hiện đại: cộng hưởng từ.  Chụp CT, siêu âm 4D, thực hiện các kỹ  thuật cao: thụ  tinh trong  ống nghiệm… nâng   cao trình độ chẩn đoán và điều trị bệnh. Các bác sĩ bệnh viện công lập mở phòng khám   ngoài giờ  đã cung cấp cho người dân dịch vụ  y tế  tại chỗ, giá cả  phù hợp, góp phần  giảm tải cho các cơ  sở  y tế  công lập, tăng thu nhập cho thầy thuốc, tạo tiền đề  cho  phát triển y tế gia đình. Tuy nhiên, một số thầy thuốc đã lợi dụng tình trạng này chạy theo lợi nhuận và  không hoàn thành tốt nhiệm vụ  được giao. Để  khắc phục tình trạng “chân ngoài dài   hơn chân trong”, các cơ sở khám chữa bệnh công lập, ngoài công lập phải có quy chế  hoạt động cơ quan và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Mọi biểu hiện sai  trái phải được xử lý nghiêm khắc và đủ sức răn đe. Nhìn lại những buổi tổng kết những đợt kiểm tra cơ  sở  y tế   ở  thành phố  Hồ  Chí Minh thì chúng ta thấy thực trạng xã hội hóa y tế  đang còn nhiều bất cập xẩy ra  nhát là y tế tư nhân. Tại buổi tổng kết công tác thanh tra năm 2010 của Sở Y tế TPHCM vào ngày 28  tháng 3 đã ghi nhận với gần 14.000 cơ  sở, TPHCM được xếp là địa phương có số  lượng hành nghề  y dược tư  nhân cao nhất nước. Tuy nhiên, công tác quản lý, thanh   kiểm tra còn nhiều bất cập khiến tình trạng vi phạm ngày càng tăng, ảnh hưởng lớn   đến sức khỏe người dân.  Là một trong những địa bàn tập trung nhiều cơ  sở  hành nghề  y dược của TP   nhưng cả năm 2010, Phòng Y tế quận 1 chỉ thanh kiểm tra được 204 cơ sở, trong đó có   109 cơ sở khám chữa bệnh. Điều đáng nói, quận 1 có không ít cơ sở hành nghề y học   cổ  truyền nhưng số  lượng được kiểm tra cũng chỉ  5 cơ  sở  và không có cơ  sở  nào bị  phát hiện vi phạm!  Tương tự, ở các quận 2, 7, 11, Thủ Đức..., số lượng cơ sở hành nghề y dược tư  nhân được thanh kiểm tra trong năm 2010 cũng rất ít và số cơ sở bị phát hiện sai phạm   cũng... đếm trên đầu ngón tay.  Nhiều ý kiến thắc mắc, liệu thanh tra phòng y tế các quận huyện có nghiêm túc   trong thực thi nhiệm vụ? Theo đại diện Phòng Y tế quận Thủ Đức, số lượng kiểm tra  Trang 16
  17. và xử phạt ít do phải cân nhắc chỉ ra được những sai phạm để  cơ sở “tâm phục khẩu   phục”. Hơn nữa còn nhiều lĩnh vực khác mà UBND quận yêu cầu phải tham gia nên   chưa thể toàn tâm cho công tác kiểm tra hành nghề y dược tư nhân. Dược sĩ Trần Thị  Thanh Loan, Phó Chánh thanh tra Sở  Y tế  TPHCM, cho biết   trong năm qua đã kiểm tra được 7.786/13.969 cơ sở (thấp hơn năm 2009 tới 258 cơ sở).   Trong đó riêng hành nghề y, vốn dĩ rất nhức nhối trong việc xảy ra nhiều trường hợp   tai biến dẫn đến tử  vong, nhưng số lượng cơ sở được thanh tra cũng giảm tới 4% so   với năm 2009.  Ghi nhận cho thấy, đã có không ít trường hợp rủi ro đáng tiếc trong hành nghề  tại các cơ  sở  y tế  tư  nhân xảy ra gần đây như  vụ  cắt nhầm buồng trứng của bệnh   nhân Phạm Thị Xuân tại Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ (quận Tân Phú), hay vụ mổ mắt  gây mù khiến bệnh nhân là Việt kiều Huỳnh Hữu Thông đã đâm đơn kiện Bệnh viện  Mắt Sài Gòn (quận 1), vụ mổ ruột thừa gây tử vong tại BV Đa khoa Hoàn Mỹ...  Hầu như tháng nào, Sở Y tế TPHCM cũng nhận được đơn khiếu nại của người  bệnh hoặc thân nhân của họ liên quan đến những rủi ro khám chữa bệnh tại các cơ sở  hành nghề y tư nhân.  Tuy nhiên, đến khi sự việc xảy ra mới có sự “vào cuộc” của lực lượng thanh tra   chuyên ngành. Tuy rằng số cơ sở bị thanh kiểm tra cả năm mới chỉ  đạt 55,7% nhưng   đáng báo động là số vi phạm tăng lên thấy rõ. Cụ thể trong số 2.920 cơ sở hành nghề y   bị thanh tra, phát hiện 688 cơ sở sai phạm (tăng 157 cơ sở so với năm 2009). Hay như  thanh tra 4.236 cơ sở hành nghề dược, phát hiện 715 cơ sở sai phạm, tăng 83 cơ sở so   với năm 2009.  Đặc biệt lo ngại là phần lớn mỹ phẩm hiện chưa được quản lý chặt chẽ trong   quá trình sản xuất kinh doanh khiến mỹ phẩm giả, không rõ xuất xứ  và độc hại tràn  lan. Trong số 18 cơ sở mà Sở Y tế TPHCM thanh tra trong năm qua thì 100% vi phạm.  Dược sĩ Trần Thị  Thanh Loan cho biết ngoài những vi phạm thường bắt gặp   như  không đảm bảo điều kiện vệ  sinh, không có bằng cấp chuyên môn, thuốc không  có đăng ký... thì nay “lộ  diện” thêm những yếu tố  đáng lo lắng như  quảng cáo hành  Trang 17
  18. nghề   ngoài  khả  năng chuyên  môn,  cho người nước  ngoài  “mượn”   chứng  chỉ   hành  nghề, bác sĩ hoạt động chui. Theo Phòng Y tế quận 10, mặc dù công tác thanh tra hành nghề y dược tư nhân  đã cơ bản toàn diện nhưng hiện vẫn còn một số lĩnh vực chưa được quy định rõ ràng.  Chẳng hạn như  lĩnh vực chăm sóc da mặt, sản xuất ­ kinh doanh trang thiết bị  y tế  chưa biết thuộc quyền quản lý của ai.  Thực tế ghi nhận cho thấy hiện rất nhiều cơ sở chăm sóc da mọc lên như nấm,   hoặc công khai hoặc núp bóng dưới các hình thức mát­xa, y học cổ truyền. Đi kèm với   săn sóc da là sử dụng các loại thuốc, mỹ phẩm, sử dụng máy lazer... nhưng lâu nay cơ  quan thanh tra y tế chưa hề “đụng tới”, trong khi những lĩnh vực này ảnh hưởng không  nhỏ đến sức khỏe người dân.  Không chỉ  vậy, chiều ngày 11 tháng 4 năm 2011, thanh tra Sở Y tế  TP.HCM đã  sơ kết thanh tra các cơ sở hành nghề y dược tư nhân trên địa bàn TP. Đã có 952 cơ sở  hành nghề y dược tư nhân được các đoàn thanh kiểm tra, phát hiện 101 cơ sở vi phạm   qui chế hành nghề. Riêng Q.2 và huyện Hóc Môn không phát hiện cơ sở nào vi phạm! Những vi phạm chủ yếu về hành nghề dược là đa số nhà thuốc vắng mặt dược   sĩ; còn bán thuốc quá hạn sử dụng, thuốc không có số đăng ký lưu hành của Bộ Y tế;   nhà thuốc hoạt động không phép. Vi phạm hành nghề y, chủ yếu là vi phạm vừa khám  bệnh vừa bán thuốc; còn thuốc quá hạn sử dụng; quảng cáo hành nghề quá chức năng  cho phép, vệ sinh vô trùng chưa tốt; phòng nha khoa chỉ có bác sĩ đứng tên, còn người  làm là y sĩ hoặc bác sĩ mới ra trường chưa có giấy phép hành nghề...  Điều đó cho thấy là tình trạng y tế  tư  nhân tại sao có ít bệnh nhân tìm đến và   cũng là một bài toán khó cho việc xã hội hóa dịch vụ y tế. 2.3. Thực trạng mạng lưới y tế cơ sở Thực hiện Chỉ thị 06/CT­TW của Ban Bí thư TW về tăng cường mạng lưới y tế  cơ  sở, ngành y tế  thành phố  đã xây dựng và củng cố  Trung tâm Y tế  Quận/Huyện,   Trạm Y tế Phường/Xã về mọi mặt, trong đó đặc biệt chú ý đến việc đầu tư trang thiết  bị và nhân sự. Theo  ước tính, khoảng 80% trường hợp đau ốm sẽ được giải quyết có  Trang 18
  19. hiệu quả  ngay tại tuyến cơ sở (quận, huyện, phường, xã, thôn), như  vậy giảm được   sự quá tải của tuyến trên, là cơ sở để phát triển dịch vụ y tế gia đình. Nhiều Trung tâm y tế quận, huyện đã được trang bị  các máy móc kỹ  thuật cao   từ  các nguồn vốn khác nhau: ngân sách, vay vốn kích cầu, hợp tác đầu tư. Tuy nhiên  vẫn thu hút chưa nhiều và chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Ngành Y tế thành phố dũng đang mua sắm trang thiết bị cho trạm y tế phường,   xã theo danh mục của Bộ Y tế ban hành để đến năm 2010 đạt chuẩn quốc gia về trang   thiết bị tại trạm y tế phường, xã. Hiện nay 100% các trạm y tế phường ­ xã đã có ít nhất 1 bác sĩ, tuy nhiên việc   tuyển nhân sự cho tuyến y tế cơ sở rất khó khăn vì lương thấp và chưa có chế độ  đãi  ngộ tương xứng. 2.4. Tình hình thực hiện Bảo hiểm y tế tại các bệnh viện Bảo hiểm y tế là một chiến lược an sinh xã hội vì mục tiêu cao nhất của Bảo  hiểm y tế  là mọi người khi bị  bệnh đều phải được điều trị. Người đăng ký tham gia   bảo hiểm y tế ngày càng gia tăng, các cơ sở y tế đã nỗ lực đáp ứng yêu cầu nhằm góp   phần thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong tương lai. Tuy nhiên vẫn còn một số các   vướng mắc: ­ Các quy định ban hành không đồng bộ, thay đổi thường xuyên; chi phí dịch vụ  y tế  thực hiện theo thông tư  14 quá thấp dẫn đến chất lượng phục vụ  người bệnh  chưa cao; Hệ  thống bảo hiểm y tế không bố  trí nhân sự  giải quyết khâu hành chính,  nhân viên y tế  phải kiêm nhiệm; vì vậy người dân ngại khám chữa bệnh bằng bảo   hiểm y tế. ­ Số  lượng thẻ  đăng ký bảo hiểm y tế  ngày càng tăng nhất là việc thực hiện   bảo hiểm tự nguyện, cộng với tình trạng thiếu hụt nhân sự y tế đã dẫn đến sự quá tải  ở hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh. ­ Phương thức thanh toán giữa cơ  quan bảo hiểm xã hộ  và cơ  sở  khám chữa   bệnh còn chậm, nhiều rủi ro cho bệnh viện, chưa khuyến khích bệnh viện tiết kiệm  chỉ tiêu và người bệnh sử dụng hợp lý các dịch vụ y tế. 3. Chính sách xã hội hóa y tế Trang 19
  20. Thực trạng của ngành y tế từ trước tơi nay, và chiến lược phát triển y tế là một  chiến lược phát triển đất nước nên Đảng và Nhà nước ta đã được ra các biện pháp  chính sách nhằm xây dựng và phát triển một nền y tế tiên tiến và hiện đại hơn.  Năm 1996, Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Các vấn đề  chính sách xã hội  đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà nước giữ  vai trò nòng cốt đồng thời   động viên mọi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ  chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề  xã hội”. Mặc dù đây là lần   đầu tiên thuật ngữ “xã hội hoá” được ghi trong văn kiện của Đảng, nhưng ngay từ năm  1986, cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, việc thực hiện xã hội hoá trong  lĩnh vực y tế và các lĩnh vực văn hoá, xã hội khác đã trở thành một định hướng lớn để  đổi mới trong các lĩnh vực này. Đại hội VI của Đảng đã nêu phương châm “Nhà nước   và nhân dân cùng làm” và khẳng định vấn đề  chăm sóc, bảo vệ  sức khoẻ  là trách   nhiệm và lợi ích thiết thân của mỗi công dân. Tiếp theo là các chủ  trương “Phát triển   các hoạt động y tế  bằng khả  năng của Nhà nước và của nhân dân” (1991); “đa dạng  hoá các hình thức tổ  chức chăm sóc sức khoẻ, trong đó y tế  nhà nước là chủ  đạo”  (1993). Để chỉ đạo thực hiện chủ trương xã hội hoá, Chính phủ  đã ban hành nhiều văn   bản quan trong, khẳng định hai mục tiêu lớn của xã hội hoá là huy động các nguồn lực   của xã hội, đồng thời tạo điều kiện để  toàn xã hội được thụ  hưởng thành quả  giáo  dục, y tế, văn hoá, thể  dục thể  thao  ở  mức độ  ngày càng cao. Theo Nghị  quyết số  05/2005/NQ­CP, xã hội hóa trong lĩnh vực y tế bao gồm những nội dung chủ yếu như  sau:  Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư  cho y tế, trong đó bảo đảm ngân sách cho y tế  công cộng, chăm sóc sức khoẻ  cơ  bản cho các đối tượng chính sách, người nghèo và  trẻ em dưới 6 tuổi. Ưu tiên đầu tư cho hệ thống y tế dự phòng, y tế cơ sở, đặc biệt là  ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, các bệnh viện nhi, khoa nhi, các chuyên khoa ít có  khả năng thu hút đầu tư. Triển khai đề án đào tạo bác sĩ, dược sĩ đại học cho vùng núi   phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Ưu tiên đầu tư phát  triển nguồn nguyên liệu dược và sản xuất thuốc trong nước. Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản