
Huyện đảo Phú Quý và những tập tục lạ kỳ
Chàng rể ban ngày làm việc bên gia đình mình, tối về ngủ với cô dâu. Nếu hai bên
gia đình có công việc, hoặc giỗ kỵ, dựng nhà mới…thì sang “mượn” cô dâu, hoặc
chú rễ về nhà giúp vài hôm tùy theo công việc...
Huyện đảo Phú Quý, Bình Thuận có lẽ là huyện duy nhất trên đất nước ta không
có đám cưới. Cụ Hai Dương (xã Đông Hải) cho biết: Hơn 80 tuổi mà tui chưa ăn
đám cưới ai trên đảo bao giờ… Có lẽ tập tục này bắt nguồn từ thuở xa xưa khi
những cư dân đầu tiên phát hiện ra đảo và định cư tại đây.
Đảo Phú Qúy rộng 16,4 km2, gồm 10 hòn đảo lớn nhỏ, nằm cách TP Phan Thiết
56 hải lý về phía Đông. Nhìn từ phía Bắc, đảo có hình thù như một con cá thu nổi
lên giữa biển nên từ xa xưa có tên là cù lao Thu.

Đảo Ngọc Phú Quý
Huyện đảo có ba xã Ngũ Phụng, Tam Thanh và Đông Hải bao quanh còn có nhiều
hòn nổi lớn, nhiều bãi biển, gành đá, vịnh hoang sơ rất đẹp. Phú Qúy là đảo tiền
tiêu trên biển Đông của Bình Thuận và là trạm trung gian cận Quần đảo Trường
Sa, Hoàng Sa của Tổ quốc thân yêu.
Tương truyền ngày xưa có một chiếc ghe ngư dân từ đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
đánh cá trên biển, không may gặp luồng cá chuồn bơi ngược. Thế là hàng vạn,
hàng triệu con cá lao lên sàn làm chìm ghe. Những ngư dân trôi dạt vào bờ rồi từ
đó định cư các vùng Đông Hải, Tam Thanh.

Riêng xã Ngũ Phụng có truyền thuyết liên quan đến công chúa Chế Bàn Tranh của
Chiêm Thành bị đày ra đây, ngày nay còn nhiều di tích tại Ngũ Phụng.
Những năm trước đây, khi ghe thuyền ra đảo mỗi tuần một chuyến, đảo gần như
biệt lập với đất liền. Dân trong Phan Thiết, Phan Rí gọi người ngoài đảo là dân
Hòn. Tiếng nói, âm điệu rất khó nghe. Chưa nói đến vốn từ vựng sử dụng rất nhiều
phương ngữ và từ cổ.
Ví dụ như: ông Trời thì đọc là “ông Blời”, ông Trăng đọc là “ông Klăng”. Các âm
“a” biến thành “e” như người dân miệt Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên. Nhiều
từ địa phương nghe lần đầu không những không hiểu gì mà con giật thót người
như: Mời thầy cô giáo đến nhà ăn giỗ. Học sinh trên đảo sẽ nói : Nhà em có kỵ, ba

mẹ em mời cô (thầy) đến “ăn chực”. Hoặc như: cô giáo có khuôn mặt rất hiền
lành, phúc hậu…Học sinh trên đảo sẽ mô tả như sau: “Em rất thương cô giáo vì cô
có khuôn mặt rất…dữ” (dữ = hiền lành).
Có thể do cuộc sống biệt lập, thường xuyên đối mặt với thiên tai, khắc nghiệt và
cực khổ mưu sinh trên biển nên các tập tục truyền thống không được chú trọng và
không lưu truyền. Các thế hệ cư dân từ thế kỷ 19 đến nay, đã làm đơn giản hóa các
nghi lễ truyền thống và làm mai một dần một số tín ngưỡng, tập tục của người
Việt.
Tục cưới hỏi trên đảo Phú Quý rất đơn giản gần như không ai để ý đến. Trước đây
trên đảo không có đường nhựa, không có xe ô tô, gắn máy nên khái niệm “lên xe

hoa” càng không thể có. Ngư dân chỉ biết thuyền ghe, thúng và bạn ghe - những
người làm thuê. Buổi chiều, tất cả đàn ông, trẻ con trên 10 tuổi đều ra biển đánh
bắt cá, câu mực. Trên bờ chỉ còn lại đàn bà, người già và trẻ nhỏ. Khái niệm về
ngày tốt, ngày xấu cũng không có. Biển không bị động, đánh bắt nhiều cá mực, an
toàn thì đó là ngày tốt.
Những chàng trai ngư dân khỏe mạnh khi đến tuổi trưởng thành, sẽ được các cô
gái quan tâm đến với những thành tích như: lặn sâu, lâu nhất, đánh cá giỏi, câu
mực nhiều, hoặc giả bị bão tố vẫn sống trên biển nhiều ngày…thành tích nổi trội
này là tâm điểm để các cô gái biển quan tâm hơn là con ông chủ ghe, hay một gia
đình giàu có sẵn. Vì một lẽ, nghề biển là nghề bạc, của cải trời đất và biển cả hào
phóng ban tặng rất nhiều, vô số kể. Nhưng chỉ một cơn thịnh nộ, giận dữ cuồng
phong, biển sẽ lấy lại của con người tất cả, kể cả sinh mạng. Câu nói “ dân ba đời
ghe” hàm ý về sự khắc nghiệt, luật nhân quả của biển khơi, của trời đất là vậy.

