ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
MỘT SỐ THUẬT TOÁN HỮU HIỆU
GIẢI BÀI TOÁN TRONG HÌNH HỌC TÍNH TOÁN
DỰA TRÊN PHƯƠNG PHÁP ĐƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
TÓM TT LUẬN ÁN TIẾN
Thái Nguyên, năm 2025
Mở đầu
Hình học tính toán, một nhánh của thiết kế và phân tích thuật toán, đã phát triển từ cuối
những năm 1970 với trọng tâm nghiên cứu các thuật toán giải quyết các vấn đề hình học trên y
tính. Lĩnh vực y ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như điều khiển rô-bốt, hệ thống thông
tin địa (GIS), nhận dạng mẫu, đồ họa y tính, và nhiều ngành khác. Một trong những bài
toán bản trong hình học tính toán y dựng lưới tam giác Delaunay, được Boris Delaunay
giới thiệu vào năm 1934. Lưới tam giác Delaunay và biểu đồ Voronoi, một đồ thị đối ngẫu, đã
ứng dụng quan trọng trong các lĩnh vực như hình hóa địa hình, đồ họa máy tính, nhận dạng
mẫu, và phân tích phần tử hữu hạn. Tuy nhiên, các thuật toán tuần tự hiện có, hiệu quả, vẫn
yêu cầu thời gian tính toán lớn, đặc biệt với dữ liệu lớn. vy, việc phát triển các thuật toán
song song để y dựng lưới tam giác Delaunay trở nên quan trọng.
Một bài toán khác được nghiên cứu rộng rãi trong hình học tính toán tìm đường đi ngắn
nhất trên b mặt đa diện. Các thuật toán tuần tự như của Sharir, Schorr và Mount, hay Chen và
Han đã cải thiện độ phức tạp, nhưng vẫn gặp hạn chế trong xử dữ liệu lớn. Các kỹ thuật hiện
đại, như lật phẳng chuỗi tam giác, đã cung cấp giải pháp nhưng gặp vấn đề khi các tam giác đè
lên nhau. Điều y dẫn đến nhu cầu tìm kiếm giải pháp mới, không dựa vào lật phẳng.
Phương pháp đường định hướng (Method of Orienting Curves), được Phú giới thiệu vào năm
1987, đã chứng minh hiệu quả trong giải quyết bài toán điều khiển tối ưu và gần đây được áp
dụng vào hình học tính toán. Các nghiên cứu của An và cộng sự đã mở rộng phương pháp y
để giải quyết bài toán lưới tam giác Delaunay và đường đi ngắn nhất, đồng thời phát triển các
thuật toán song song hiệu quả.
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận án được trình
y trong 3 chương.
Chương 1 trình y tổng quan v các vấn đề nghiên cứu liên quan đến bài toán y dựng lưới
tam giác Delaunay và bài toán tính chính xác các đường đi ngắn nhất từ một điểm nguồn cố định
đến tất cả các đỉnh trên một b mặt đa diện. Chương 1 cũng hệ thống lại một số kiến thức nền
tảng làm sở cho việc trình y các kết quả chính trong các chương tiếp theo. Nội dung bao
gồm các khái niệm như lưới tam giác Delaunay, khối đa diện, đường đi, đường đi ngắn nhất, phễu
1
2
và y phễu trên b mặt đa diện. Ngoài ra, phương pháp đường định hướng trong hình học tính
toán, một phương pháp quan trọng được sử dụng trong luận án y, cũng được trình y chi tiết.
Cuối chương đề cập đến một số kiến thức liên quan đến tính toán song song.
Chương 2 trình y v thuật toán OF C-DELAUNAYTRIANGULATION, một thuật toán
hiệu quả để ghép nối hai lưới tam giác Delaunay liền k sử dụng phương pháp đường tròn định
hướng. Một lược đồ song song hóa để ghép nối hai lưới tam giác Delaunay cũng được đưa ra.
Phần cuối chương trình y một số kết quả thực nghiệm nhằm minh họa hiệu quả của thuật toán
OF C-DELAUNAYTRIANGULATION được đề xuất.
Chương 3 trình y một phương pháp để tìm đường đi ngắn nhất trên bề mặt đa diện bằng
cách song song hóa thuật toán y phễu được giới thiệu bởi An và cộng sự và kết hợp với phương
pháp đường định hướng (Method of Orienting Curves). Một lược đồ song song hóa tìm đường đi
ngắn nhất trên b mặt đa diện được đưa ra. Phần cuối chương trình y các kết quả thực nghiệm
của hai thuật toán song song. Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng các thuật toán song song
đạt được sự tăng tốc đáng k so với thuật toán tuần tự tương ứng được giới thiệu bởi An và cộng
sự, khi so sánh với các công trình trước đây.
Chương 1
Tổng quan v vấn đề nghiên cứu
1.1. Tổng quan v bài toán y dựng lưới tam giác Delaunay
Bài toán y dựng lưới tam giác Delaunay một trong các bài toán bản trong hình học
tính toán. được giới thiệu năm 1934 bởi nhà toán học người Nga Boris Nikolaevich Delone,
hay còn gọi Delaunay. Như được trình y trong phần mở đầu, lưới tam giác Delaunay đã được
sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Một lưới tam giác Delaunay kết nối các làng
giếng gần nhất trong một vùng lân cận, do đó thể được sử dụng để hình hóa bài toán
phát hiện và chấm. Cấu trúc lưới tam giác Delaunay hiệu quả do mỗi điểm trong lưới đại diện
cho một đối tượng và sau đó được kiểm tra dựa vào các đối tượng lân cận để duy trì cấu trúc
Delaunay và kết nối giữa các cạnh.
Như được trình y trong phần mở đầu, lưới tam giác Delaunay rất nhiều ứng dụng thực
tiễn, chẳng hạn như trong hệ thống thông tin địa (GIS), hình hóa địa hình, đồ họa y
tính, nhận dạng mẫu, phân tích hữu hạn, sinh học, thị giác y tính, v.v. Chính vy việc
phát triển các thuật toán nhanh và hiệu quả để y dựng lưới tam giác Delaunay ngày càng trở
nên quan trọng. rất nhiều thuật toán tuần tự đã được cài đặt để xây dựng lưới tam giác
Delaunay. Với các thuật toán tuần tự trên tập hợp điểm đã sẵn, tuy nhiên, các thuật toán này
thường yêu cầu thời gian tính toán lớn. Do vy, việc xây dựng các thuật toán song song nhằm
mang lại hiệu quả cao hơn trở nên rất quan trọng để giảm thời gian tính toán. Phần lớn các thuật
toán hiệu quả để y dựng lưới tam giác Delaunay, cả tuần tự và song song, dựa trên chiến lược
chia để trị. Những thuật toán y được đặc trưng bởi chi phí tính toán của các giai đoạn phân
chia và ghép nối. Thuật toán của Lee và Schachter một thuật toán tuần tự quan trọng được sử
dụng để y dựng lưới tam giác Delaunay, thời gian thực thi của tối ưu (độ phức tạp thời
gian O(nlog n)). Guibas và Stolfi đã đưa ra một thuật toán xây dựng lưới tam giác Delaunay
độ phức tạp O(nlog n). Thuật toán y phù hợp với hình chia để trị tiêu chuẩn trong
việc giải quyết một bài toán bằng cách chia đệ quy thành các bài toán con nhỏ hơn và sau đó
3
4
kết hợp các kết quả của các bài toán con để giải bài toán ban đầu. Dwyer đã đưa ra một sự thay
đổi cài đặt tới thuật toán y để y dựng lưới tam giác Delaunay cho n3điểm trong mặt
phẳng. Sự thay đổi y làm giảm độ phức tạp xuống O(nlog log n), tuy nhiên sự thay đổi y
chỉ hoạt động tốt khi n216.
1.2. Tổng quan v bài toán tính chính xác các đường đi
ngắn nhất trên b mặt đa diện
Bài toán tìm đường đi ngắn nhất từ một điểm nguồn cố định đến tất cả các điểm trên một bề
mặt đa diện một bài toán được nghiên cứu rộng rãi trong hình học tính toán. Để tính chính
xác đường đi ngắn nhất, Sharir và Schorr lần đầu tiên trình bày một thuật toán O(n2log n)chạy
trên một mặt đa diện lồi, trong đó n số đỉnh của đa diện. Thuật toán y sau đó đã được
Mount cải tiến thành O(n2log n).
Mitchell, Mount và Papadimitriou đề xuất một thuật toán độ phức tạp O(n2log n)kế thừa
hình thuật toán Dijkstra. Surazhsky và cộng sự triển khai thuật toán đường đi ngắn nhất trên
đa diện lồi với một số cải tiến vào năm 2005. Chen và Han vào năm 1996 đã đưa ra một thuật
toán độ phức tạp O(n2), dựa trên quan sát "one angle one split", giúp xác định đường đi ngắn
nhất từ một điểm nguồn đến bất kỳ điểm nào trên mặt đa diện. Thuật toán của Chen và Han
được Kaneva và O’Rourke mở rộng vào năm 2000. Xin và Wang tiếp tục phát triển thuật toán
của Chen và Han để tối ưu hóa tốc độ hội tụ nhanh hơn. Họ cũng mở rộng thuật toán sang bài
toán nhiều nguồn một đích (multiple sources, any destination).
Một số nghiên cứu đã xem xét bài toán tìm đường đi ngắn nhất giữa hai điểm trên
một y mặt tam giác liền kề, đặc biệt trên các bề mặt đa diện. Kỹ thuật lật phẳng y
mặt tam giác liền kề, với tính chất bảo toàn c và khoảng cách, thường được sử dụng để giải
quyết bài toán y. Cụ thể, Pham-Trong và cộng sự trong đã đưa ra một thuật toán để tính toán
đường đi ngắn nhất giữa hai điểm bên trong một y các tam giác. Năm 2007, Xin và Wang đã
giới thiệu một quá trình lật phẳng y các tam giác và một thuật toán để tính toán đường đi
ngắn nhất giữa hai điểm bên trong y các tam giác. Độ phức tạp tính toán của thuật toán này
O(n2), trong đó n số cạnh k của y mặt tam giác liền kề.
Tóm lại, hầu hết các kết quả nghiên cứu trên đều một điểm chung đó sử dụng kỹ thuật
lật phẳng để đưa bài toán tìm đường đi ngắn nhất giữa hai điểm trên y mặt tam giác liền kề
trong 3D v bài toán tìm đường đi ngắn nhất giữa hai điểm trên dãy tam giác liền k trong 2D.
Tuy nhiên trong thực tế, ảnh của y mặt tam giác liền kề sau khi thực hiện kỹ thuật lật phẳng
thể xảy ra trường hợp các mặt tam giác đè lên nhau. Cả Pham-Trong và cộng sự cũng như