B GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HC NGOẠI THƯƠNG
TÓM TT LUN ÁN TIẾN SĨ
ẢNH HƯỞNG CA VỐN TÂM LÝ NHÂN VIÊN ĐẾN NĂNG LỰC ĐI
MI SÁNG TO CA T CHC KINH DOANH TO TÁC ĐỘNG XÃ
HI VIT NAM: VAI TRÒ TRUNG GIAN CA S CAM KT VI T
CHC
Ngành: Qun tr kinh doanh
Mã ngành: 9340101
Hà Ni 2026
ii
Luận án được hoàn thành ti: Trường Đại hc Ngoại Thương, số 91 Chùa Láng, Đống
Đa, Hà Ni
Ngưi hưng dn khoa hc:
Phn bin 1:
Phn bin 2:
Phn bin 3:
Lun án s được bo v trưc Hi đng đánh giá lun án cấp trường
hp ti
Vào hi gi ngày tháng năm
Có th tham kho lun án tại Thư viện Quốc gia và thư viện trường Đại hc Ngoi
thương
1
PHN M ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa phát triển kinh tế nhanh, đổi mới sáng tạo được
xem động lực trung tâm thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao hiệu qusản xuất kinh
doanh và cải thiện chất lượng sống. Song song với đó, sự phát triển kinh tế cũng kéo
theo áp lực lớn về môi trường hội, đặt ra yêu cầu y dựng các hình phát
triển bền vững cân bằng giữa mục tiêu kinh tế và trách nhiệm xã hội (United Nations,
2022; Lim, 2023).
Các tổ chức kinh doanh tạo tác động xã hội (SIBs) hiện đóng góp tích cực vào
việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), đặc biệt trong giảm nghèo
và mở rộng cơ hội giáo dục tại nhiều quốc gia đang phát triển (UN, 2023). Tuy vậy,
để mở rộng quy mô và đảm bảo tính bền vững, cần làm rõ nền tảng lý thuyết và thực
tiễn về các nhân tố thúc đẩy năng lực đổi mới yếu tố sống còn của các SIBs. Các
nghiên cứu gần đây tiếp cận vấn đề này từ các khung lý thuyết về thể chế, giá trị chia
sẻ, hệ sinh thái đổi mới hội hình kinh doanh bền vững, thống nhất quan
điểm rằng ĐMST cốt lõi trong việc tạo ra giá trị kinh tế song hành với giá trị
hội (Bocken et al., 2014; Schaltegger et al., 2016).
Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy SIBs thường thiếu ổn định về tài chính
nhân lực, đối mặt với hạn chế trong quản trị tổ chức, khiến việc duy trì sáng tạo gặp
nhiều trở ngại (Moore et al., 2012). Tuy nhiên, nhiều trường hợp vẫn chứng minh khả
năng đổi mới linh hoạt và hiệu quả, cho thấy nội lực của tổ chức không chỉ phụ thuộc
vào nguồn lực vật chất mà còn dựa trên các yếu tố tâm ch cực của nhân viên. Vốn
tâm bao gồm niềm tin, lạc quan, hy vọng và khả năng phục hồi –thể trở thành
nguồn lực hình quan trọng, đặc biệt trong môi trường nơi con người bị thúc đẩy
bởi giá trị cộng đồng hơn là lợi ích vật chất (Iskandar et al., 2022). Dẫu vậy, vốn tâm
lý vẫn chưa được xem xét đầy đủ như một nhân tố chiến lược trong quản trị đổi mới
của SIBs.
2
Một câu hỏi trọng tâm đặt ra cách thức chuyển hóa PsyCap cấp độ nhân
thành năng lực đổi mới ở cấp tổ chức. Cam kết tổ chức thể giữ vai trò trung gian
quan trọng trong cơ chế y, khi sự tương thích giá trị thúc đẩy nhân viên gắn bó, chủ
động sáng tạo và đóng góp vào mục tiêu kép của tổ chức (Meyer & Allen, 1997).
Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu vẫn còn đáng kể. Dù có bằng chứng quốc
tế xác nhận mối quan hệ giữa vốn tâm lý và ĐMST trong các mô hình doanh nghiệp
truyền thống (Jafri, 2012; Luthans & Youssef-Morgan, 2017), số nghiên cứu chuyên
sâu về SIBs còn hạn chế, đặc biệt thiếu các mô hình kiểm định vai trò trung gian của
cam kết tổ chức. Điều này phản ánh sự thiếu hụt về cơ sở lý thuyết trong việc lý giải
cách các yếu tố m nhân được tổ chức hóa thành năng lực đổi mới cấp hệ
thống, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới trong phát triển mô hình ĐMST dành
cho khu vực tác động xã hội.
Tóm lại, nhằm: (1) m vai trò của vốn m nhân viên trong việc nâng
cao năng lực ĐMST của các SIBs, (2) Kiểm định ảnh hưởng của vốn tâm nhân
viên đến năng lực ĐMST trong bối cảnh SIBs tại Việt Nam, (3) Phân tích vai trò
trung gian của cam kết với tổ chức trong mối quan hệ giữa vốn m nhân viên
năng lực ĐMST, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của vốn tâm lý nhân
viên đến năng lực đổi mới sáng tạo của tổ chức kinh doanh tạo tác động hội
Việt Nam: Vai trò trung gian của sự cam kết với tổ chức” hoàn toàn cấp thiết,
đóng góp cả về luận (trong việc bổ sung cho thuyết tâm tích cực đổi
mới sáng tạo tổ chức), lẫn thực tiễn (trong việc nâng cao hiệu quả quản trị nhân sự và
đổi mới tại các SIBs Việt Nam).
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án hướng đến mục tiêu tổng quát là: Phân tích ảnh hưởng của vốn m
nhân viên đến năng lực ĐMST của các SIBs tại Việt Nam, đồng thời xem xét
xác thực vai trò trung gian của sự cam kết với tổ chức trong mối quan hệ này, từ đó
đưa ra giải pháp nâng cao năng lực ĐMST từ góc nhìn tâm lý tích cực.
2.2. Câu hỏi nghiên cứu
3
Câu hỏi 1: Vốn tâm lý nhân viên ảnh hưởng như thế nào đến năng lực ĐMST của
các SIBs tại Việt Nam?
Câu hỏi 2: Vai trò trung gian của sự cam kết với tổ chức như thế nào trong ảnh
hưởng của vốn tâm lý nhân viên đến năng lực ĐMST của tổ chức?
Câu hỏi 3: Những giải pháp nào thể khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu nhằm
nâng cao vốn tâm lý nhân viên và sự cam kết tổ chức để từ đó thúc đẩy năng lực
ĐMST tại các SIBs?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Lun án tập trung vào đối tượng nghiên cu ảnh ng ca vn m lý nhân
viên lên năng lực ĐMST của SIBs Vit Nam và vai trò trung gian ca s cam kết vi
t chc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
V ni dung, lun án tp trung nghiên cu ảnh hưởng ca vn tâm lý nhân viên
đến năng lực ĐMST của các SIBs ti Việt Nam, đồng thi kiểm định vai trò trung
gian ca s cam kết vi t chức. Năng lực ĐMST của t chức được tiếp cn da trên
khung thuyết ĐMST ca OECD Oslo Manual (2005), bao gm bn khía cnh
c thể: đổi mi sn phm, quy trình, marketing t chc. Vn m nhân viên
được đo lưng qua bn thành phn: s t tin (self-efficacy), lc quan (optimism), hy
vọng (hope), kiên ng (resilience) theo hình ca Luthans cùng đồng s
(2007). Lun án không ch kiểm định mi ảnhng trc tiếp gia vn tâm lý nhân
viên đến năng lực ĐMST, còn đi sâu o cơ chế trung gian thông qua cam kết vi
t chc (organizational commitment) nhm làm cách thc các yếu t tâm
nhân được t chc hóa và chuyển hóa thành năng lực ĐMST cp độ t chc.
Về không gian, nghiên cứu được triển khai trên phạm vi nhiều tỉnh, thành ph
hệ sinh thái SIBs phát triển, bao gồm Nội, TP. HCMinh, Đà Nẵng, Đắk
Lắk và một số địa phương khác. Từ cơ sở dữ liệu thu thập từ các tổ chức trung gian,
mạng lưới phát triển doanh nghiệp xã hội hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, NCS lựa
chọn 36 SIBs tham gia khảo sát theo các tiêu chí: (1) có mô hình tạo tác động xã hội
ràng hoạt động ổn định tối thiểu 3 năm; (2) đội ngũ nhân schuyên trách