VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN TOÁN HỌC
TRƯƠNG THỊ HIỀN
LŨY THỪA HÌNH THỨC
CỦA C IĐÊAN ĐƠN THỨC
Chuyên ngành: Đại số và thuyết số
số: 9 46 01 04
TÓM TT LUẬN ÁN TIẾN TOÁN HỌC
NỘI - 2023
Mở đầu
Cho R=k[x1, . . . , xr] vành đa thức của rbiến x1, . . . , xrtrên trường
kvà I iđêan thuần nhất của R. Đối tượng nghiên cứu trong luận án
của chúng tôi chỉ số chính quy Castelnouvo-Mumford (gọi tắt chỉ số
chính quy) của iđêan, hiệu reg(I). Đối với lũy thừa thường của iđêan
I, hàm reg(In)không tuân theo một quy luật nào khi nnhỏ. Tuy nhiên,
dựa trên tính chất phân bậc chuẩn của đại số Rees của Ithì Cutkosky,
Herzog, N. V. Trung [9] độc lập với Kodiyalam [33] đã chứng minh rằng
reg(In) một hàm tuyến tính khi nđủ lớn. Điều y nghĩa là, tồn tại
các số nguyên không âm d, b và n0sao cho
reg(In) = dn +bvới mọi n>n0.
Trong khi hệ số dđã được tả một cách ràng (xem [33], [46]), thì
các thông tin v bvà n0còn rất ít. Hơn nữa, hai câu hỏi rất tự nhiên được
đặt ra (xem [9], [33], [14]):
1. Đặc trưng của số b?
2. Tìm chặn tốt cho n0?
Khi chuyển sang lũy thừa hình thức của iđêan thì dáng điệu của hàm
chỉ số chính quy trở nên phức tạp hơn. Nhắc lại rằng, lũy thừa hình thức
thứ ncủa Iđược định nghĩa
I(n)=\
pMin(R/I)
InRpR.
1
2
Nói cách khác, lũy thừa hình thức thứ ncủa I giao của các thành phần
nguyên của Inliên kết với các iđêan nguyên tố tối tiểu của I.
do cho sự phức tạp đó đại số Rees hình thức, được định nghĩa bởi
Rs(I) = RI(1) I(2) · · · ,
không đại số hữu hạn sinh trên trường ktrong trường hợp tổng quát.
Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn chưa một dụ nào v
một iđêan thuần nhất Itrong vành đa thức limn→∞ reg I(n)/n không
tồn tại. Từ đó một câu hỏi rất tự nhiên được đặt ra liệu giới hạn
limn→∞ reg I(n)/n tồn tại với mọi iđêan thuần nhất Itrên một vành đa
thức (Herzog, L. T. Hoa, N. V. Trung [25, Câu hỏi 2])?
Đối với trường hợp I iđêan đơn thức, theo kết quả của Herzog, Hibi
và N. V. Trung [23] thì đại số Rees hình thức hữu hạn sinh nhưng không
nhất thiết phân bậc chuẩn, do đó hàm chỉ số chính quy của lũy thừa
hình thức của iđêan đơn thức I một hàm tựa tuyến tính khi nđủ lớn.
Nhắc lại, một hàm f:NQ∪{−∞} được gọi tựa tuyến tính nếu
tồn tại một số nguyên dương Nvà các số aiQ∪{−∞},biQ, với
i= 0, . . . , N 1, sao cho
f(n) = ain+bi,với mọi nN, n i(mod N).
Số Nnhỏ nhất thỏa mãn các điều kiện trên được gọi chu của hàm f.
Ta thấy rằng, mặc hàm chỉ số chính quy reg I(n)của iđêan đơn thức
I một hàm tựa tuyến tính khi nđủ lớn, nhưng các hệ số đầu aikhông
nhất thiết bằng nhau. Hay nói cách khác, giới hạn limn→∞ reg I(n)/n chưa
hẳn đã tồn tại. Do đó, chúng tôi nghiên cứu bài toán thứ nhất của luận
án như sau.
Bài toán 1. Cho I một iđêan đơn thức trên R. Tồn tại hay không
giới hạn lim
n→∞
reg(I(n))
n?
Trong trường hợp I iđêan đơn thức không chứa bình phương, các tác
giả L. T. Hoa, T. N. Trung [30, Định 4.9], đã chứng minh được sự tồn
3
tại của giới hạn limn→∞ reg(I(n))/n. Kết quả chính đầu tiên của luận án
chúng tôi đã mở rộng điều y đối với trường hợp I một iđêan đơn thức
bất kì.
Công cụ để chúng tôi giải quyết bài toán thứ nhất xuất phát từ
thuyết của đa diện lồi. Giả sử I phân tích nguyên thu gọn
I=Q1 · · · QsQs+1 · · · Qt,
trong đó Q1, . . . , Qs các iđêan nguyên liên kết với các iđêan nguyên
tố tối tiểu của I(tức là, Qs+1, . . . , Qt các thành phần nguyên nhúng).
Ta định nghĩa đa diện lồi liên kết với Inhư sau:
SP(I) = NP (Q1) · · · NP (Qs)Rr,
trong đó NP (Qi) các đa diện Newton của Qi. Khi đó, SP(I) một đa
diện lồi trong Rr. Với vectơ v= (v1, . . . , vr)Rr, hiệu |v|=v1+· · ·+vr.
Đặt
δ(I) = max{|v| | v một đỉnh của SP(I)}.
Từ đó, chúng tôi thu được kết quả sau (xem Định 2.5, Định 2.7):
Với mọi iđêan đơn thức I,
lim
n→∞
d(I(n))
n= lim
n→∞
reg(I(n))
n=δ(I).
Với kết quả thu được, câu hỏi đặt ra tiếp theo liệu reg I(n) phải
một hàm tuyến tính hay không? Tuy nhiên điều y không đúng ngay
cả trong trường hợp I iđêan đơn thức không chứa bình phương (Ví dụ
2.16).
Như vy chúng ta thấy rằng, nhìn chung reg I(n)không một hàm
tuyến tính đối với iđêan đơn thức I. Do đó, bài toán tiếp theo chúng tôi
nghiên cứu như sau.
Bài toán 2. Cho I một iđêan đơn thức. Tìm một chặn tốt cho
reg(I(n))theo n.
4
Trong trường hợp I iđêan đơn thức không chứa bình phương, theo các
tác giả L. T. Hoa và T. N. Trung (xem [30, Định 4.9]), ta reg(I(n))<
δ(I)n+ dim(R/I) + 1 với mọi n>1. Gần đây, bài toán trên đã nhiều
kết quả khi nghiên cứu đối với một loại iđêan đặc biệt hơn, iđêan cạnh
của đồ thị G, hiệu I(G). Một số kết quả thể k đến như: Gu, Hà,
O’Rourke và Skelton [19] xét trong trường hợp iđêan cạnh của một chu
trình lẻ I=I(C2s+1)thì reg(I(n)) = reg(In)với mọi n>1, và reg(I(n)) =
2n+2s+1
31; theo Fakhari [17], ta reg(I(G)(n+1))6max{reg(I(G)) +
2n, reg(I(G)(n+1) +I(G)n)}và trong trường hợp G đồ thị không
chu trình lẻ nào độ dài bé hơn hoặc bằng 2k1thì reg(I(G)(n))6
2n+ reg(I(G)) 2với mọi n6k+ 1.
Nghiên cứu v bài toán trên, chúng tôi sử dụng công thức Takayama
để tính các đun đối đồng điều địa phương của lũy thừa hình thức của
các iđêan đơn thức. Từ đó chúng tôi chuyển v việc nghiên cứu các điểm
nguyên của một đa diện lồi trong Rrtheo thuyết đa diện lồi. Kết quả
chúng tôi thu được một chặn trên tốt cho hàm reg(I(n))theo ntrong
trường hợp iđêan đơn thức không chứa bình phương theo các dữ liệu tổ
hợp từ phức đơn hình và siêu đồ thị liên kết với iđêan (Định 3.7và Định
3.12). Hơn nữa, chặn y thể đạt được dấu bằng đối với nhiều lớp
iđêan (Ví dụ 3.13).
Cuối cùng, chúng tôi nghiên cứu bài toán sau.
Bài toán 3. Cho I iđêan đơn thức. Tìm chặn trên cho bvà reg-stab(I).
Chú ý rằng, reg-stab(I) chỉ số ổn định của hàm chỉ số chính quy của
iđêan Ivà được định nghĩa như sau:
reg-stab(I) = min{n0|reg In=dn +b, với mọi n>n0}.
Khi I một iđêan đơn thức bất kỳ, theo L. T. Hoa [29, Định 2.8],
trong trường hợp xấu nhất thì các hệ số bvà reg-stab(I)bị chặn dưới bởi
một hàm mũ của bậc sinh của iđêan với số mũ khoảng số biến. Đây
cũng chính một trong những do tại sao việc nghiên cứu v hệ số b