
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phi công quân sự (PCQS) là đối tượng lao động đặc biệt. Trong
thực hành bay, PCQS chịu tác động của nhiều yếu tố bất lợi: thiếu
oxy do giảm phân áp, gia tốc, quá tải, rung xóc và tiếng ồn... Hệ tim
mạch có những đáp ứng nhằm thích nghi với các biến đổi về môi
trường cũng như tác động của yếu tố bất lợi trong hoạt động bay [1].
Tăng độ cứng động mạch (arterial stiffness) được coi là yếu tố
nguy cơ tim mạch mới, là kết quả của quá trình biến đổi về chức năng
và cấu trúc của lưới động mạch. Hiện nay, sự phát triển các công cụ
đo cung cấp các tham số đa dạng như chỉ số độ cứng, chỉ số gia tăng,
chỉ số phản xạ, để đánh giá độ cứng động mạch ở phạm vi hệ thống,
theo vùng hoặc cục bộ, cho cái nhìn sâu sắc hơn về chức năng và đáp
ứng của hệ động mạch với các tác nhân bệnh lý [4].
Osteoprotegerin (OPG) và Osteopontin (OPN) là các cytokine
liên quan trực tiếp đến chu chuyển xương, tuy nhiên tác động sinh
học của chúng đến các tế bào thành động mạch, như tế bào nội mạc
và tế bào cơ trơn, có liên quan đến tình trạng calci hóa thành mạch,
các khâu của quá trình viêm và biến đổi cấu trúc, chức năng mạch
máu đã được chứng minh. Nồng độ OPG và OPN liên quan đến chỉ
số độ cứng động mạch, mức độ nặng bệnh, nguy cơ, nguy cơ tử vong
và tần suất biến cố tim mạch trong tương lai [5], [6], [7].
Phi công (PC) và PCQS tồn tại các yếu tố nguy cơ tim mạch,
tần suất mắc tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim và máu não, rối loạn
nhịp, đột tử… tăng theo tuổi [10]. Bệnh lý và các rối loạn về tim mạch
đứng hàng đầu, chiếm tới 50% các lý do y tế đình chỉ năng lực bay
của PC nói chung. Những yếu tố bất lợi trong môi trường bay đã

2
chứng minh làm biến đổi sinh lý tim mạch, thiếu oxy làm tăng nhịp
tim và thay đổi chức năng nội mạc mạch máu, quá tải gia tốc tác động
trực tiếp lên thành mạch và làm thay đổi trở kháng mạch máu ngoại
vi, tiếng ổn làm tăng độ cứng động mạch và rung xóc tác động lên
cân bằng hệ thực vật trong vận mạch[12],[13],[14]. Nhu cầu khảo sát
nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố nghề nghiệp và yếu tố nguy
cơ lên chức năng hệ tim mạch ở đối tượng PCQS là thực sự cần thiết.
Tuy nhiên, hiện nay ở đối tượng PCQS Việt Nam chưa có
nghiên cứu nào về nồng độ OPG, OPN, các chỉ số độ cứng động mạch
trong mối quan hệ với các yếu tố nguy cơ tim mạch, yếu tố nghề
nghiệp. Vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu nồng độ osteoprotegerin,
osteopontin huyết tương và chỉ số độ cứng động mạch ở phi công
quân sự Việt Nam” được thực hiện với mục tiêu:
1. Khảo sát nồng độ osteoprotegerin, osteopontin huyết tương; chỉ
số độ cứng động mạch đo bằng máy AngioScan-01 trong điều kiện
tĩnh tại và thiếu oxy mô phỏng độ cao 5000m ở phi công quân sự Việt
Nam.
2. Phân tích mối liên quan nồng độ osteoprotegerin, osteopontin
huyết tương, chỉ số độ cứng động mạch với một số đặc điểm lâm
sàng, cận lâm sàng, yếu tố nguy cơ tim mạch và yếu tố nghề nghiệp
ở phi công quân sự Việt nam.

3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Ảnh hưởng hoạt động bay tới sinh lý tim mạch, yếu tố nguy
cơ và bệnh lý tim mạch ở phi công quân sự
1.1.1. Một số yếu tố ảnh hưởng sinh lý tim mạch trong hoạt động
bay của phi công quân sự
Trong các chuyến bay quân sự, nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức
khỏe của PCQS, nhưng chủ yếu là thiếu oxy, gia tốc- quá tải, rung
xóc và tiếng ồn, tác động trong suốt chuyến bay, nhiều khi ở giới hạn
cao, vượt ngưỡng sinh lý. Thiếu oxy làm tăng nhịp tim và thay đổi
chức năng nội mạc mạch máu, quá tải gia tốc tác động thay đổi trở
kháng mạch máu ngoại vi, tiếng ổn làm tăng độ cứng động mạch và
rung xóc tác động lên cân bằng hệ thực vật trong vận mạch [8], [15]
1.1.2. Nguy cơ tim mạch ở phi công và phi công quân sự
Xem xét quan hệ phi công – máy bay – môi trường bay và nhu
cầu đảm bảo an toàn bay cũng như các bằng chứng y học về bệnh tật,
chấp nhận nguy cơ về mặt sức khỏe của PC là thấp hơn 1%. Quy tắc
1% là công cụ lượng giá nguy cơ về mặt Y học Hàng không đối với
các vần đề về sức khỏe PC, bao gồm các vấn đề về tim mạch [8].
Quản lý nguy cơ tim mạch ở PC và PCQS thực hiện theo ma
trận ba bình diện: Biến cố y tế được phân loại. Xác suất xuất hiện
biến cố y tế. Yếu tố vị trí nghề nghiệp [25].
1.1.3. Bệnh tim mạch ở phi công và phi công quân sự
Bệnh tim mạch ở PC và PCQS thường gặp bao gồm bệnh mạch
vành, tăng huyết áp và các rối loạn nhịp tim. Tổn thương ĐMV có
liên quan đến tuổi, căng thẳng trong lao động tình trạng HA, tình
trạng XVĐM và rối loạn chuyển hóa cũng như sự tồn tại các yếu tố

4
nguy cơ tim mạch ở các nhóm đối tượng PCQS. Tăng huyết áp có
liên quan căng thẳng tâm lý, nồng độ cetacholamin trong máu cao,
hoặc các nhân tố gây stress. Rối loạn nhịp được cho là biểu hiện của
các bất thường về cấu trúc của tim, rối loạn thần kinh thể dịch, các
yếu tố nội tiết hoặc các nguyên nhân từ các cơ quan khác trong cơ
thể. Điều trị các bệnh tim mạch ở PC và PCQS theo các khuyến cao
chuyên ngành và mang tính đặc thù về thực hành YHHK [30],[36].
1.2. Độ cứng động mạch
1.2.1. Định nghĩa độ cứng động mạch
Độ cứng động mạch (arterial stiffness) là thuật ngữ chỉ năng lực
giãn ra và co lại của thành động mạch theo chu kỳ co bóp tống máu
của tim [38].
1.2.2. Các chỉ số độ cứng động mạch
Các chỉ số độ cứng động mạch được nghiên cứu là rất đa dạng,
nhằm đánh giá độ cứng động mạch ở một đoạn mạch, theo vùng hoặc
toàn thể hệ thống. Một số chỉ số tiêu biểu gồm: Áp lực mạch đập (PP),
dung suất động mạch, khả năng co giãn, mô đun đàn hồi, vận tốc sóng
mạch (PWV) và chỉ số gia tăng…., được hình thành theo các phương
pháp và phương tiện đo khác nhau [42],[43]
1.2.3. Đánh giá độ cứng động mạch thông qua phương pháp đo
biến thiên thể tích mạch đầu ngón tay (Digital volume pulse – DVP)
Xuất phát từ phương pháp đo quang thể tích, phương pháp đo
DVP sử dụng nguồn ánh sáng cận hồng ngoại, đánh giá sự thay đổi
thể tích máu trong lòng mạch, đầu đo kẹp đầu ngón tay, ghi lại đường
viền sóng mạch theo thời gian thực của chu chuyển tim và tính toán

5
các chỉ số độ cứng động mạch. Thiết bị AngioScan 01 (LB Nga) sử
dụng trong nghiên cứu này áp dụng phương pháp đo DVP [44],[57].
Các tham số đo được trên máy AngioScan để đánh giá độ cứng
động mạch bao gồm: Chỉ số độ cứng (Stiffness Index – SI, m/s) biểu
thị vận tốc sóng mạch đoạn đầu động mạch chủ; Chỉ số gia tăng AIp
(Augmentation Index peripheral, %), chỉ số gia tăng bình thường hóa
ở tần số tim 75 chu kỳ/phút đánh giá ảnh hưởng của áp lực sóng thứ
hai thì tâm thu lên tim, chỉ số phản xạ (Reflection Index – RI, %)
đánh giá chênh lệch biên độ giữa sóng thứ nhất và sóng thứ hai thì
tâm thu trong chu chuyển tim [57]. Các chỉ số này tăng lên khi độ
cứng động mạch tăng lên.
1.3. Osteoprotegerin và Osteopontin
1.3.1. Osteoprotegerin (OPG)
Là thành viên của siêu họ các thụ thể của chất hoại tử khối u
(TNF) và hoạt động như một thụ thể mồi của phối tử thụ thể hoạt hóa
NF-κB (RANK-L) và phối tử gây chết tế bào theo chương trình có
liên quan đến TNF (TRAIL). OPG được coi là chất tiền viêm, có liên
quan đến tính ổn định của mảng xơ vữa, calci hóa thành mạch, rối
loạn chức năng nội mạc mạch máu; có vai trò tiên lượng tình trạng
bệnh tim mạch và tử vong do tim mạch, tiến triển và mức độ nặng
của BMV và bệnh mạch máu não [58], [70], [71].
1.3.2. Osteopontin (OPN)
Là một sialoprotein đặc hiệu cho mô xương Chức năng của
OPN phụ thuộc 2 đặc điểm chính: Sự phân biệt các đồng phân và sự
thay đổi sau chuyển dạng phân tử OPN, gồm các quá trình phosphoryl
hóa, sulphat hóa, glycosyl hóa, chia cắt bởi enzyme và liên kết chéo

