Tổng quan kinh tế 6 tháng đầu năm và dự
báo cả năm 2012
1. Tổng quan kinh tế 6 tháng đầu năm 2012
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2012 ước tính tăng
4,38% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó quý I tăng 4,00%; quý II tăng
4,66%. Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế 6 tháng đầu
năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản tăng 2,81%, đóng góp
0,48 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp xây dựng tăng 3,81%,
đóng góp 1,55 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,57%, đóng góp
2,35 điểm phần trăm. Mức tăng trưởng cả ba khu vực 6 tháng đầu năm
nay đều thấp hơn mức tăng của cùng kỳ m 2011 (tăng trưởng của ba
khu vực 6 tháng đầu năm 2011 lần lượt 3,89%, 5,78% 6,21%).
Trong tổng sản phẩm trong nước 6 tháng, khu vực nông, lâm nghiệp và
thủy sản chiếm 22,13%; khu vực công nghiệp xây dựng chiếm
40,26%; khu vực dịch vụ chiếm 37,61%.
Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm nay đạt mức thấp do nhiều ngành,
lĩnh vực gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm.
Sản xuất công nghiệp chiếm ttrọng lớn nhưng kết quả tăng thấp. Tuy
nhiên, từ quý II nền kinh tế đã những chuyển biến tích cực, đặc biệt
đối với khu vực công nghiệp và xây dựng: Giá trị tăng thêm của khu vực
này quý I năm nay chỉ tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước, sang quý II
đã tăng lên 4,52%, trong đó công nghiệp tăng từ 4,03% lên 5,40%.
Tổng thu ngân sách nhà nước từ đầu năm đến ngày 15 - 6 - 2012 ước
tính đạt 316,8 nghìn tỉ đồng, bằng 42,8% dự toán năm, trong đó thu nội
địa 203,2 nghìn tỉ đồng, bằng 41,1%; thu từ dầu thô 52,3 nghìn tỉ đồng,
bằng 60,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 58,9
nghìn tỉ đồng, bằng 38,3%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh
nghiệp nhà nước 71,1 nghìn tỉ đồng, bằng 45,8% dự toán năm; thu từ
doanh nghiệp vốn đầunước ngoài (không kể dầu thô) 36,2 nghìn tỉ
đồng, bằng 37,1%; thu thuế công, thương nghiệp dịch vngoài nhà
nước 41,6 nghìn tỉ đồng, bằng 37,4%; thuế thu nhập nhân 23,8 nghìn
tỉ đồng, bằng 51,4%; thuế bảo vệ môi trường 5,5 nghìn tỉ đồng, bằng
42%; thu phí, lệ phí 3,2 nghìn tỉ đồng, bằng 36,2%.
Tổng chi ngân sách nhà nước từ đầu năm đến 15-6-2012 ước tính đạt
376,8 nghìn tỉ đồng, bằng 41,7% dự toán năm, trong đó chi đầu phát
triển 73,6 nghìn tỉ đồng, bằng 40,9% (riêng chi đầu xây dựng bản
71,1 nghìn tỉ đồng, bằng 40,9%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế -
hội, quốc phòng, an ninh, quản Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm
cả chi thực hiện cải cách tiền lương) ước tính đạt 255,9 nghìn tỉ đồng,
bằng 42,6%; chi trả nợ và viện trợ 47,3 nghìn tỉ đồng, bằng 47,3%.
Các ngành sản xuất dịch vụ phát triển khá nhưng chưa đều
chưa vững
Giá trị sản xuất nông, m nghiệp thuỷ sản 6 tháng đầu năm theo g
so sánh m 1994 ước tính đạt 110,2 nghìn tỉ đồng, tăng 3,8% so với
cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 79,5 nghìn tỉ đồng, tăng
3,0%; lâm nghiệp đạt 3,8 nghìn tỉ đồng, tăng 5,7% thuỷ sản đạt 26,9
nghìn tỉ đồng, tăng 5,8%.
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước m nay đạt 3124,2 nghìn ha,
tăng 27,4 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2011, trong đó các địa
phương phía Bắc đạt 1.157,7 nghìn ha, tăng 6,2 nghìn ha; các địa
phương phía Nam đạt 1.966,5 nghìn ha, tăng 21,2 nghìn ha. Năng suất
đạt 64,8 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng đạt
20,3 triệu tấn, tăng 47,8 vạn tấn.
Chăn nuôi khởi sắc nhưng chưa đều. Đến thời điểm 1-4-2012. Đàn
trâu, giảm so với ng thời điểm m trước chủ yếu do ảnh hưởng
của rét đậm, rét hại đầu năm, cùng với diện tích chăn thả ngày càng
thu hẹp hiệu quả chăn nuôi thấp dẫn đến thời gian tái đàn chậm.
Riêng đàn sữa xu hướng tăng, một mặt do không bị ảnh hưởng
của dịch bệnh, giá sữa nhìn chung ổn định, mặt khác, chăn nuôi sữa
công nghiệp được đầu lớn về ng nghệ cao hình gắn kết
giữa chế biến phân phối sản phẩm phát triển mạnh bước đầu đã
mang lại hiệu qu tích cực. Đàn lợn mặc tăng nhưng chăn nuôi
đang gặp khó khăn do giá thức ăn vẫn ở mức cao, giá thịt lợn hơi lại có
xu hướng giảm và dịch bệnh vẫn còn xuất hiện ở một số địa phương.
Diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng đầu năm ước tính đạt 53,8 nghìn
ha, tăng 4,5%; diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 362,8 nghìn ha,
bằng 92,2%; diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi tái sinh đạt 931
nghìn ha, bằng cùng kỳ m 2011; trồng cây phân tán đạt 108,7 triệu
cây, tăng 0,6%.
Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm nay đạt 2.649,2 nghìn tấn, tăng
5,4% so với cùng kỳ năm 2011. Sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt
1.386,8 nghìn tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước do thời tiết thuận
lợi, người nuôi phát triển sản xuất theo hướng tập trung, quy lớn
nuôi những loại thủy sản năng suất, giá trị kinh tế cao. Sản lượng
thuỷ sản khai thác 6 tháng đầu m ước tính đạt 1.262,4 nghìn tấn, tăng
4% so với cùng kỳ năm trước do thời tiết biển tương đối thuận lợi, một
số loài hải sản xuất hiện nhiều trên các ngư trường.
Về sản xuất công nghiệp, tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất
toàn ngành công nghiệp tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2011, đây là thấp
hơn nhiều mức tăng 9,7% của cùng kỳ năm 2011 mức tăng 8,9% của
cùng kỳ năm 2010, trong đó ngành công nghiệp chế biến chiếm khoảng
75% giá trị tăng thêm của toàn ngành công nghiệp nhưng tăng thấp hơn
nhiều mức tăng 12,7% của cùng kỳ năm 2011 mức tăng 12,5% của
cùng kỳ năm 2010.
Một số ngành công nghiệp giữ được mức tăng cao so với cùng kỳ năm
trước là: Đóng sửa chữa tàu tăng 68,5%; chế biến bảo quản rau
quả tăng 35,3%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 20,2%; sản xuất thuốc,
hoá dược dược liệu tăng 15,3%; sản xuất thức ăn gia súc tăng 14,6%;
sản xuất đường tăng 13,4%; sản xuất, tập trung phân phối điện tăng
14,8%. Một số ngành chỉ số sản xuất tăng khá là: Sản xuất bia tăng
10,5%; chế biến, bảo quản thủy sản sản phẩm từ thủy sản tăng 9,9%;
khai thác, lọc và phân phối nước tăng 9,8%.
Một số ngành chỉ số sản xuất 6 tháng tăng thấp hoặc giảm là: Khai
thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 7,5%; sản xuất phân bón và hợp chất ni
tăng 5,3%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 4,9%;
sản xuất thuốc tăng 2,9%; còn sản xuất giày, dép, khai thác thu
gom than cứng, tô, xe máy, sắt, thép, xi măng, xe động cơ, đồ
uống không cồn giảm.
Giá trị sản xuất xây dựng 6 tháng đầu năm theo gso sánh m 1994
ước tính đạt 78,1 nghìn tỉ đồng, bằng 99,6% cùng kỳ năm trước, bao
gồm: Khu vực nhà nước đạt 11,7 nghìn tỉ đồng, bằng 93,2%; khu vực
ngoài nnước đạt 64 nghìn tỉ đồng, bằng 100,8%; khu vực vốn đầu
nước ngoài đạt 2,4 nghìn tỉ đồng, bằng 101,5%. Một số nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến gtrị sản xuất xây dựng 6 tháng đầu m giảm là: Giá
trị xây lắp của một số công ty lớn giảm, chỉ đạt 40% cùng kỳ hoặc có tốc
độ tăng thấp hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước; chính sách
thắt chặt đầu tư ng của Chính phủ vẫn tiếp tục được thực hiện; lãi suất
ngân hàng đã được điều chỉnh giảm, tuy nhiên các doanh nghiệp khó
tiếp cận vay vốn để thi công các công trình.
Theo kết quả điều tra chọn mẫu 9.331 doanh nghiệp trên cả nước về thực
trạng và tình hình khó khăn của khu vực doanh nghiệp, từ thời điểm 1-1-
2011 đến 1-4-2012, số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động chiếm
91,6%; số doanh nghiệp phá sản, giải thể doanh nghiệp ngừng sản
xuất kinh doanh, đang hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể (gọi chung
doanh nghiệp phá sản, giải thể) chiếm 8,4%, trong đó số doanh nghiệp
đã hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 4,1%; số doanh nghiệp
ngừng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chờ hoàn thành thủ tục phá
sản, giải thể chiếm 4,3%.
Trong ba loại hình doanh nghiệp thì doanh nghiệp ngoài nnước tỷ
lệ phá sản, giải thcao nhất (9,1%), tiếp đến khu vực doanh nghiệp
nhà nước (2,7%) thấp nhất khu vực doanh nghiệp vốn đầu
nước ngoài (2,4%). Kết quđiều tra cho thấy vùng đồng bằng ng Cửu
Long tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, giải thể cao nhất với 13,6% tổng số
doanh nghiệp điều tra; tiếp đến khu vực Tây Nguyên 9,9%; Đông
Nam Bộ 8,6%; Bắc Trung Bộ duyên hải miền Trung 8,2%; Trung du
miền núi phía Bắc 7,2% thấp nhất vùng đồng bằng sông Hồng
6%.
Vốn đầu toàn hội thực hiện 6 tháng đầu năm nay theo giá hiện
hành ước đạt 431,7 nghìn tỉ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ m trước
bằng 34,5% GDP, bao gồm: Vốn khu vực nhà nước 158,7 nghìn tỉ
đồng, chiếm 36,8% tổng vốn tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước;
khu vực ngoài nhà nước 163 nghìn tỉ đồng, chiếm 37,7% tăng 18,1%;
khu vực vốn đầu trực tiếp c ngoài 110 nghìn tỉ đồng, chiếm
25,5% và tăng 4,2%.
Thu hút đầu trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20-6-
2012 đạt 6.384 triệu USD, bằng 72,3% cùng kỳ năm trước, vốn thực
hiện đạt 5.400 triệu USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.
Cả nước 41 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dự án đầu tư
trực tiếp ớc ngoài cấp phép mới trong 6 tháng đầu năm, trong đó Bình
Dương số vốn đăng lớn nhất với 1.437,2 triệu USD, chiếm 30,2%
tổng vốn đăng cấp mới; tiếp đến Hải Phòng 875,1 triệu USD,
chiếm 18,4%; Đồng Nai 631,5 triệu USD, chiếm 13,3%; Quảng Ninh
390,4 triệu USD, chiếm 8,2%; thành phHồ Chí Minh 213,2 triệu USD,
chiếm 4,5%; Ninh Bình 186,6 triệu USD, chiếm 3,9%; Khánh Hòa 180,3
triệu USD, chiếm 3,8%.
Trong số 40 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp phép mới vào
Việt Nam 6 tháng đầu m, Nhật Bản tiếp tục nđầu lớn nhất với
3.536,6 triệu USD, chiếm 74,3% tổng vốn đăng cấp mới; tiếp đến