
Ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng
thủy sản
Hiện nay, đa số người nuôi (nhất là người nuôi cá bè)
coi kháng sinh là “chất phụ gia” không thể thiếu
trong thức ăn cho cá, bất kể cá có bệnh hay không.
Điều này làm các chủng vi khuẩn kháng thuốc kháng
sinh phát triển, thịt cá còn dư lượng kháng sinh và hệ
tiêu hóa của cá bị rối loạn, làm cho cá nuôi không sức
đề kháng và bị hao hụt nhiều nếu gặp những điều
kiện bất lợi của môi trường.
Cá là loài động vật máu lạnh nên khi nhiệt độ, độ
mặn khác nhau có thể làm hệ vi khuẩn đường ruột
thay đổi, tốc độ nước lưu thông cũng ảnh hưởng
mạnh đến môi trường xung quanh vì vậy có thể làm

vi khuẩn dể thâm nhập vào ruột cá qua thức ăn và
nước.
Năm 2003, Trung tâm Khuyến nông đã có triển khai
thực hiện mô hình nuôi cá tra trong ao có sử dụng chế
phẩm sinh học để xử lý ao nuôi. Ở mô hình này
người nuôi sẽ hạn chế sự phát triển của tảo bằng cách
thay nước và sau đó dùng chế phẩm vi sinh để phân
hủy tảo chết làm sạch nền đáy ao. Ở An Giang do đặc
điểm địa hình khó thay nước nên mô hình này phù
hợp cho nuôi cá tra ao của tỉnh, giúp cải thiện được
chất lượng thịt của cá ao hầm nhằm đáp ứng cho xuất
khẩu. Chúng tôi xin giới thiệu kết quả thực hiện mô
hình nuôi trên.
Bằng chế phẩm sinh học, vôi bột để quản lý môi
trường nuôi tốt, bổ sung men tiêu hóa giai đoạn đầu,
sử dụng vitamin C vào những lúc giao mùa giúp tăng
sức đề kháng của cá đồng thời hạn chế việc sử dụng
kháng sinh để phòng trị bệnh cá.

Vật liệu và phương pháp:
Ao có diện tích 1000m2 , thả cá giống cỡ 5 -
7cm/con
Thức ăn: Sử dụng thức ăn tự chế gồm tấm, cám, cá
tạp, rau muống. Sử dụng chế phẩm sinh học: Biotab,
men 902. Bổ sung vào thức ăn: Vitamin C, men tiêu
hóa.
Phương pháp:
Cải tạo ao trước khi thả cá, trong quá trình nuôi có
thay nước định kỳ và xử lý chế phẩm vi sinh
(Biotab), bổ sung vitamin C, men tiêu hóa. Có bổ
sung rau xanh cho cá như trong giai đoạn cá còn nhỏ.
Mật độ thả nuôi: 10 con/m2

Trong 3 tháng đầu thả nuôi, ít thay nước (1
tháng/lần), cá ăn mạnh, phát triển nhanh, cá không bị
hao hụt ngay từ lúc thả. Mỗi lần thay nước xử lý vôi
bột và Biotab.
Giai đoạn 5 tháng sau, cách 10 ngày xử lý chế phẩm
vi sinh 1 lần, đồng thời xử lý thêm men 902; càng về
giai đoạn cuối do cá càng lớn, lượng phân thải ra
nhiều dễ làm dơ môi trường nước nên thời gian xử lý
chế phẩm vi sinh ngắn lại, cách 1 tuần xử lý CPVS 1
lần, có thay nước.
Trong khẩu phần thức ăn phối chế theo tập quán của
người dân nên khống chế tỷ lệ rau xanh còn 2,5% vì
nếu lượng rau xanh nhiều kết hợp nước ao xanh sẽ
làm mỡ và thịt cá bị vàng.

Trong thức ăn bổ sung men tiêu hóa và vitamin C : 3
tháng đầu bổ sung men tiêu hóa, trước lúc giao mùa
bổ sung vitamin C. Đến giai đoạn cá lớn (500 -
600gram) cách 20 ngày bổ sung vitamin C và men
tiêu hóa 5 ngày. Trong giai đoạn nuôi đến khi thu
hoạch cá ăn mạnh, lớn nhanh, hao hụt ít.
Sau 4 tháng, cá đạt trọng lượng bình quân 600-
700g/con, đến 8 tháng nuôi trọng lượng bình quân 1,1
kg/con. Chất lượng thịt và mỡ cá trắng. Số lượng cá
thả: 10.000 con, sản lượng: 10.766kg, tổng chi phí:
73.500.000đ, doanh thu: 87.000.000đ, thực lãi:
13.500.000đ, Giá thành: 6.800đ/kg. Hệ số thức ăn:
2,4
Trong suốt vụ nuôi cá không sử dụng kháng sinh,
ngay cả thời điểm đợt cá của các ngư dân trong tỉnh
bị bệnh thì cá nuôi của mô hình không bị nhiễm

