
Vài nét trong văn hoá kinh doanh Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Nhật Bản bị tàn phá nặng nề và gần như quệt
quệ do trước đó đã tập trung quá nhiều cho sự tiến hành chiến tranh và bị thua
trận trong chiến tranh phi nghĩa của Nhật. Hầu như chỉ vài năm sau đó, Nhật Bản
đã nhanh chóng phục hồi và Nhật bước vào thời kỳ phát triển kinh tế “thần kỳ”
của Nhật trong giai đoạn 1966 – 1973 đã giúp Nhật trở thành một cường quốc
kinh tế đứng hàng nhất, nhì trên thế giới. Sự phát triển đó được thế giới chú ý và
nhiều người đã tìm hiểu những nhân tố nào giúp phục hồi và vươn lên nhanh
một cách đáng kinh ngạc. Một trong những nhân tố được chú ý nhiều đó là
phong cách hay đặc trưng văn hoá trong kinh doanh của người Nhật chứa đựng
trong các mô hình quản lý, sản xuất, tiêu thụ và lưu thông sản phẩm và trong
tính cách, tâm lý người Nhật trong khi kinh doanh.
Việc tìm hiểu văn hoá kinh doanh của người Nhật giúp ta giao tiếp xuyên văn
hoá được với họ và hiểu được các giá trị đã hình thành nên hành vi và giáo tiếp
của họ, cũng như để tránh được những hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra, tạo
được mối quan hệ làm ăn lâu dài và có hiệu quả trong quá trình tiếp xúc với họ.
Ngoài ra, qua đó, ta có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong
cách phương thức, quan niệm và mô hình quản lý, làm việc hiệu quả của họ…
Ngày nay, rất nhiều người Nhật đã và đang, sẽ làm việc với Việt Nam, mối quan
hệ giao thương giữa hai quốc gia ngày càng phát triển hơn. Trong quá trình tiếp
xúc, giao thiệp với người Nhật, ít nhiều gì chúng ta thường cảm thấy lúng túng
hoặc không hiểu nhiều về họ và ngược lại, khiến cho công việc giữa hai bên
không đạt được hiệu quả cao, hoặc chúng ta sẽ mất cơ hội làm ăn hay phải chịu
thiệt thòi hơn…. Do vậy, ngày nay việc tìm hiểu về người Nhật và văn hoá kinh
doanh của họ dù ít hay nhiều cũng thực sự là rất cần thiết và hữu ích cho chúng
ta.
Một số nét về văn hóa kinh doanh của người Nhật
Có rất nhiều (hơn 400) định nghĩa về văn hoá, nhìn chung tất cả định nghĩa đều
có nét chung “văn hoá là những hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra”.
Trong giai đoạn hiện nay, văn hoá được xem là động lực phát triển kinh tế.
Thực tế, văn hoá đã đóng vai trò trong sự phát triển kinh tế nhiều quốc gia như

vai trò của Khổng Giáo, Phật giáo, Shi n to giáo .. và nhiều giá trị văn hoá truyền
thống dân tộc khác trong sự tăng trưởng kinh tế của Nhật, Singapore, Hàn Quốc,
Đài Loan, … trong đó, rõ ràng nhất là trường hợp Nhật Bản, góp phần hình
thành nên nền văn hoá kinh doanh đặc thù của Nhật Bản mà ngày nay nhiều
quốc gia phải quan tâm nghiên cứu, học hỏi…
Người Nhật hay thương gia Nhật quan niệm trước hết tự coi mình là một người
Nhật thực sự, xí nghiệp là hàng thứ hai. Tìm hiểu văn hoá kinh doanh của người
Nhật thì chắc chắn là không thể không tìm hiểu về chủ thể của nền văn hoá kinh
doanh đó là người Nhật. Mark Zimmeran – một nhà kinh doanh nổi tiếng người
Mỹ, và là cố Chủ tịch Phòng thương mại của Mỹ ở Nhật Bản năm 1981 – đã viết
trong cuốn sách nổi tiếng “Làm ăn với người Nhật như thế nào” của ông: “việc
nghiên cứu kỹ càng và nghiêm túc tâm lý người Nhật và cấu trúc xã hội của
nước Nhật là cực kỳ cần thiết cho việc làm ăn có hiệu quả với người Nhật”.
1. Người Nhật (Nihonjin): chủ thể của nền văn hoá nói chung và văn hoá
kinh doanh của Nhật Bản
Một số đặc trưng tính cách, tâm lý người Nhật: tính cách của người Nhật chịu
ảnh hưởng nhiều điều kiện tự nhiên – địa lý, lịch sử – văn hoá – xã hội:
Nhật Bản là một trong những nước có
thành phần dân tộc thuần nhất với hơn
99% dân số là người Nhật, số ít ỏi còn
lại là người Ainu (một tộc người cổ
xưa nhất ở Nhật Bản, chủ yếu sốn
Hokkaido), người Triều Tiên (phần lớn
di cư sang trong chiến tranh thế giới
lần hai), người Trung Quốc và một số ít các cư dân từ nước khác đến cư trú t
trung theo khu vực riêng. Tuy nhiên, ý thức dân tộc thuần nhất của họ rất cao
nên cho dù những người thuộc thiểu số gần 1% dân số dù đã sinh sống ở Nhật
lâu đời vẫn không được đa số người Nhật xem là “người Nhật”. Do hầu như
thuần nhất như thế, nên Nhật Bản có một nền văn hoá và trạng thái tâm lý khá
thống nhất và tự cho họ là dòng giống thượng đẳng, tự tôn dân tộc cao…. Nhật
Bản (xứ sở mặt trời mọc) là một quốc gia nằm tách biệt với đại lục, có đến hơn
6.800 hòn đảo lớn nhỏ và 4 đảo lớn (Hokkaido, Honshu, Kyusyu, Shikoku). Tính
chất đảo mang đến cho Nhật Bản những khó khăn (khó giao lưu, giao thông …)
và thuận lợi (trong lịch sử tránh được các cuộc chiến tranh xâm chiếm của người
Trung Hoa, Nguyên Mông …) nhưng đã làm nên tính thống nhất và thuần nhất
của nền văn hoá văn minh dân tộc Nhật. Do vị trí đặc biệt này nên người Nhật có
được thế chủ động tiếp thu có chọn lọc và tiếp biến các yếu tố văn hoá của các
dân tộc khác (Trung Hoa,…) tạo thành nền văn hoá riêng mang bản sắc của họ.
Tính chất đảo cũng đem lại cho người Nhật tâm lý “đảo quốc” (shimakuni), khiến
họ vừa hiếu khách, vừa dè dặt trong giao tiếp, quan hệ với người khác, vừa tự
tôn dân tộc, vừa tự ti, mặc cảm, có thái độ bài ngoại,… Người Nhật luôn vừa
muốn nhìn ra thế giới, học hỏi, du nhập những giá trị văn hoá và tiếp thu những
g ở
ập

thành tựu mới của thế giới vừa rất bảo thủ và thu mình trong việc tiếp thu cái
mới, chẳng hạn như các cuộc cải cách trong lịch sử Nhật Bản như Taika (năm
645), cải cách Minh Trị (1868) đều diễn ra sự đấu tranh gay gắt giữa thế lực thủ
cựu và tư tưởng mới…
Thiên nhiên của Nhật rất đẹp, nhưng rất khắc nghiệt với khí hậu bốn mùa rõ rệt,
thường xảy ra nhiều thiên tai dữ dội như động đất, núi lửa, hạn hán; sóng to bão
lớn; địa hình với ¾ là núi đồi, diện tích trồng trọt chỉ chiếm 1/6 và sông ngòi
ngắn, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, đất đai không màu mỡ và không thích hợp cho
trồng trọt. Tuy nhiên cho đến đầu thế kỷ XX, kinh tế chủ yếu của Nhật Bản là
nông nghiệp, đánh bắt cà biển và họ phải bỏ ra rất nhiều công sức lao động, cải
tạo đất đai – hình thành nên tính cách gan góc, cần cù, vượt khó truyền thống
yêu lao động đến quên mình và nhiệt tình trong mọi lĩnh vực lao động (đặc trưng
quan trọng nhất), quý trọng thành quả lao động, tiết kiệm và tạo tinh thần đoàn
kết, tính cộng đồng và tinh thần hoà hợp (wa) rất cao như dựa vào và sống hào
hợp với tự nhiên, cùng hiêp lực với nhau chống chọi với thiên tai…. Đồng thời
điều kiện địa lý, thiên nhiên vừa đẹp vừa khắc nghiệt, tạo ra một tâm hồn Nhật
Bản có nét chung là yêu cái đẹp, theo đuồi sự hoàn thiện không ngừng, tạo ra
sự tương phản có tính dữ dội trong tính cách người Nhật. Cái gì ở Nhật Bản
cũng được đưa lên cao và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của họ như
“hoa đạo”, “trà đạo”, “võ sĩ đạo”, “kiếm đạo”, “cung đạo”, “thư đạo”, nghệ thuật
gấp giấy origami,.. và họ thể hiện ý thức đặc biệt đối với cái đẹp như ngắm hoa
hanami, ngắm trăng tsukimi; quan niệm “cái nhỏ là cái đẹp, cái tinh tế” …; trong
công việc luôn làm hết mình, trong xử sự luôn theo quy tắc nghiêm ngặt, theo
đẳng cấp, ngay đến cả cái chết tự sát vì lòng trung thành cũng dữ dội và trở nên
cao cả như “mổ bụng” (harakiri hay seppuku) hay sằn sàng làm việc hết sức cho
công việc…. Những điều này ăn sâu vào trong cách xử thế, ý nghĩ và nguyện
vọng của dân tộc Nhật, tạo thành những truyền thống văn hoá riêng đặc sắc và
thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc của họ. Họ kế thừa, củng cố những nét văn
hoá đó và vay mượn, cải biến nền văn hoá nước ngoài, biến thành một bộ phận
trong văn hoá truyền thống của họ.
Lịch sử Nhật Bản cũng là lịch sử độc
đáo với một Hoàng gia duy nhất, vị đại
diện tối cao của Thần đạo (Shinto) tôn
thờ các thần Kami như thần cây, thần
đá… – các Thiên Hoàng với dòng dõi
truyền thuyết là con cháu nữ thần Mặt
trời Aramatesu, tồn tại như là sự thống
nhất của nhân dân cho đến tận ngày
nay; và trên nước Nhật có nhiều cuộc
nội chiến liên miên giữa các lãnh chúa
phong kiến. Điều kiện lịch sử – xã hội
phong kiến với sự cát cứ, tranh dành
khiến lòng trung thành là điều rất quan trọng. Cùng với sự tiếp thu có chọn lọc và
biến những tư tưởng của Khổng Tử tạo thành Nho giáo riêng Nhật Bản, với tinh

thần Võ sĩ đạo (Bushido) coi lòng trung thành (chuu) với người chủ là trên tất
cả… Sang đến thế kỷ XIX, đứng trước yêu cầu mới hoặc là phải mạnh mẽ để
thoát khỏi số phận trở thành thuộc địa của phương Tây hoặc là chịu chung số
phận với các nước châu Á khác, phong kiến Nhật Bản đã chọn con đường nhìn
ra thế giới, thực hiện cách mạnh Minh Trị duy tân (1868) mọi mặt xã hội và học
tập, phát triển mạnh mẽ – và trở thành nước duy nhất ở Châu Á thoát khỏi số
phận lệ thuộc và đứng ngang hàng với phương Tây hùng mạnh và còn đi xâm
lược nước khác, khiến phương Tây phải kinh sợ. Sau chiến tranh thế giới lần
thứ hai, họ lại nhanh chóng phục hồi nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá thảm bại
thành một nền kinh tế “phát triển thần kỳ” và mạnh mẽ cho đến tận ngày nay.
Nhật Bản lại tiến ra đi khắp thế giới mở rộng với kiểu cách thức buôn bán kinh
doanh đặc trưng của họ … Người Nhật ngày nay vừa phát huy truyền thống văn
hoá kinh doanh của họ và họ cũng đang dần thay đ
ổ
i tính cách, tâm lý của họ đ
ể
dễ làm ăn quan hệ với nước ngoài, học hỏi nước ngoài để làm phong phú và
hoàn thiện hơn nền văn hoá kinh doanh của họ, đem lại lợi ích cho quốc gia của
họ, và giữ vững vị trí cướng quốc kinh tế nhất nhì của họ, ….
Tóm lại, người Nhật là chủ th
ể
của nền văn hoá, trong đó có văn hoá kinh doanh
của họ. Tính cách tâm lý, cách xử thế, suy nghĩ, tư tưởng và hành vi của họ là
những nhân tố quyết định trong văn hoá kinh doanh của họ.
(còn nữa)...
Đặng Thị Hường
http://blog.360.yahoo.com/thesongkatykaty
Mong được cùng các bạn thực hiện đề tài nghiên cứu tiếp về Nhật Bản

