Vai trò của luật sư và vấn đề tranh
tụng trong hoạt động tư pháp
Cải cách tư pháp luôn được coi là một bộ phận quan trọng gắn liền với
nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt nam. Mục tiêu
của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong
sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại
góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội
dung chyếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bmáy các cơ
quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của Toà án, đổi mới tổ chức và
hoạt động của Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ
quan, t chức bổ trợ tư pháp.
Trong hoạt động pháp, hoạt đng xét xử được coi là khâu trọng tâm vì
đây biểu hiện sự tập trung và thể hiện đầy đủ quyền tư pháp, là nơi trên cơ s
kết quả điều tra, truy tố và bào chữa, Toà án nhân danh Nhà nước đưa ra phán
xét một người có tội hay không có tội. Do vậy một phán xét chính xác, khách
quan đúng pháp luật hay không, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
được bảo đảm hay không phụ thuộc vào quá trình điều tra, truy tvà xét
xử từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, mặt khác từ phía hoạt động tích cực của
luật với vai trò người bào chữa cho bị can, bị cáo và góp phần bảo vệ
công lý. Hoạt động của luật không phải là hoạt đng pháp nhưng lại
mối liên h gắn chặt với hoạt đng tư pháp, h trợ cho hoạt động tư
pháp.Nghiên cứu các n kiện của Đảng ta về cải cách tư pháp cho thấy
trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam Đảng ta rất
chú trọng đến cải ch tchức và hoạt động luật sư. Nghị quyết 08- NQ/TW
ngày 2-1-2002 của Bộ Chính trị về “ Một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác
pháp trong thời gian ti” đã đặc biệt quan tâm đến vai trò của luật
đặt nhiệm vcho quan tư pháp trong việc bảo đảm hoạt động của luật sư
trong ttụng. Để thực hiện những nhiệm vụ mà Nghquyết 08-NQ/TW ca
Bộ Chính trị đòi hỏi phải bổ sung, hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động
của cơ quan tư pháp và luật sư theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ
của từng quan đồng thi xác định rõ vtcủa luật trong hoạt động
pháp. Nghquyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020” nêu : Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đvề số
lượng, phẩm cht chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên n. Hoàn thiện
chế đluật thực hiện tốt tranh tụng tại phiên toà, đồng thời xác định rõ
chế độ trách nhiệm đối với luật sư. Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát
huy chế độ tự quản của luật sư đối với các tổ chức thành viên ca mình”.
Trong việc đổi mới quan, tổ chức bổ trợ pháp cần chú ý đến vai trò của
luật trong việc p phần nâng cao hiệu quả của hoạt động tư pháp. Trong
điều kiện cải ch tư pháp Việt Nam hiện nay, cần chú trọng đến việc phát
triển đội ngũ luật chuyên nghiệp phẩm chất đạo đức tốt , trình độ
chuyên môn cao, phát huy vai trò ca luật sư trong hoạt đng tư pháp
trọng tâm là hot động xét xử.
Chế định luật sư đã được quy định tương đối cụ thể trong Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003. Tuy nhiên do nhn thức chưa thật đầy đủ và do chưa có sự
hướng dẫn cụ thể , đồng bộ, thống nhất dẫn đến việc luật tham gia vào
hoạt động tố tụng chưa hiệu quả. Một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình
scòn mang tính hình thức hoặc khó thực hiện hoặc có nhiều cách hiểu khác
nhau dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất. Đã đến lúc phải tiến hành sửa
đổi , bổ sung Bộ luật Tố tụng hình s mt cách toàn diện theo hướng dân ch
hoá hoạt động ttụng, phải xem việc tham gia của luật sư vào quá trình t
tụng hình slà sgiám sát tốt nhất đối với các hoạt động của cơ quan tiến
hành tố tụng hình sự. Bên cạnh việc làm chức năng buc tội, chức năng xét
xử thì cần phải chú ý đến chức năng bào chữa, trong đó có vai trò của luật sư.
Stham gia của luật sư trong ttụng không chgiúp bị can, bị cáo bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn góp phn trong việc xác định sự
thật khách quan của vụ án, giúp việc điều tra, truy tvà xét x được nhanh
chóng, chính xác, tránh làm oan người tội, để lọt tội phạm. Tuy nhiên v
trí, vai trò của luật sư chưa được nhìn nhận đúng chưa thực sự bảo đảm
theo yêu cầu của pháp luật. Theo quy định của pháp luật, luật sư thể tham
gia ttụng từ khi khởi tố bị can, thậm chí còn sớm hơn từ khi quyết
định tạm giữ. Nhưng trên thực tế tlệ các vụ án luật sư được tham gia từ giai
đoạn điều tra còn quá thấp so với tổng số vụ án hình sbị khởi tố, trong đó
cả những vụ án theo quy định của pháp luật stham gia của luật sư bắt
buộc theo yêu cầu của quan tiến hành ttụng. Về vấn đề này nhiều
nguyên nhân, do b can không biết mình quyền mời luật sư hoặc biết
nhưng vì khó khăn về tài chính nên không ththuê luật sư. Bên cạnh đó
còn một nguyên nhân do quan ttụng chưa tạo điều kin đluật sư
thực hiện đầy đủ chức năng ttụng của mình, một số điều tra viên chưa ủng
hộ việc luật sư được tham gia tgiai đoạn điều tra. Trong một số trường hợp
skhông ủng hộ này được thể hiện bằng cách khuyên bcan không nên mi
luật sư tt nhất là khai báo trung thực đđược hưởng khoan hồng. Đối
với bị can kém hiểu biết pháp luật, lại trong tình trạng tạm giam, do vậy
tâm bất n, lo lắng, vì vậy thường nghe theo lời khuyên nói trên điều
thường có thể xảy ra. Trong trường hợp bị can từ chối luật sư, nhưng khi luật
sư đề nghị được xem văn bản từ chối luật sư của bị can thì điều tra viên lấy lý
do luật chưa được cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho nên
không được xem n bản tchối luật của bị can. Rất khó xác định được
việc từ chối luật sư của bị can có phải xuất phát từ ý chí của bị can hay từ sức
ép nào đó. Trong trường hợp này cơ quan điều tra phải tạo điều kiện để bị can
được tiếp xúc với luật sư, còn quyền từ chối luật sư của bị can thể thực
hiện bất cứ giai đoạn nào ca ttụng. Việc gặp gỡ với luật không làm
mất đi quyền tchối luật sư của bị can, chỉ giúp cho bị can nhận thức
đúng hơn về vai trò của luật sư cũng như sáng suốt hơn trong việc lựa chọn
người bào chữa cho mình.
Bảo đảm quyn bào chữa của bị can, bị o là nguyên tắc dân chủ trong tố
tụng hình svì vậy việc mở rộng sự tham gia của luật sư trong ttụng hình
sự, cho phép luật sư tham gia ttụng tkhi quyết định tạm giữ là cn
thiết. Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo cần thực hiện theo hướng
mrộng quyền của của bcan, bị cáo và cho phép luật tham gia sớm hơn
và trong mọi giai đoạn của t tụng , đồng thời tăng cường trách nhiệm của cơ
quan, người tiến tiến hành ttụng trong việc bảo đảm quyền tham gia tố tụng
của luật sư.
S tham gia của luật giai đoạn điều tra không chỉ mở rộng những
nguyên tắc dân chủ trong tố tụng hình smà n nâng cao chất lượng điều
tra, tăng cường pháp chế trong giai đoạn điều tra. Việc bào chữa kiên định,
dũng cảm trong vụ án hình skhông những không cản trở mà còn thúc đẩy
cuộc đấu tranh chống tội phạm, giúp khắc phục những sai lầm trong việc xử
lý vụ án. Bảo vệ quyền và li ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương s
khác bng những phương tiện hợp pháp luật thể hiện vai trò của mình
trong việc bảo vệ quyền công dân, p phần vào ng cuộc cải cách pháp
ở Việt nam. Vì vậy cần có nhận thức đúng về vị trí , vai trò của luật sư trong
ttụng nói riêng trong hội nói chung. Nhận thức đó phải được quán
triệt trong các cơ quan nhà nước, đặc biệt các quan tiến hành ttụng và
mọi người dân.
Theo quy định của Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự, luật thể tham gia
ttụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người thì luật sư thể
tham gia ttụng từ khi quyết định tạm giữ. Nhưng trên thực tế đa phần
luật sư chđến được cánh cửa phòng trực ban của quan điều tra để gửi
giấy tờ làm thủ tục chờ được tham gia mà thôi với nhiều lý do khác nhau như
cán bgiải quyết vụ án bận, luật thiếu giấy tcần bsung (dù pháp luật
không yêu cầu các giấy tờ đó), thủ trưởng quan đi vắng, chờ cán bộ vào
trại gặp hỏi ý kiến bị can có cần luật sư không. Mặc dù việc cấp giấy
chứng nhận người bào chữa đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự,
Luật Luật các văn bản có liên quan, tuy nhiên do nhận thức khác nhau
vvấn đề này do vậy luật đã gặp không ít kkhăn khi tham gia tố tụng,
nhất là trong giai đoạn điều tra vụ án .