Tnăm 1975 sau khi giành được độc lập và thống nhất đất nước chúng ta đ• đi lên
x• hội chủ nghĩa với một lực lượng sản xuất lớn và tiềm năng mọi mặt còn non trẻ,
đòi hỏi nước ta phải có một chế độ kinh tế phù hợp, và do đó nền kinh tế hàng h
nhiu thành phần đra đời. Nhìn thẳng vào stht chúng ta thấy rằng, trong thời
gian qua do đcao vai trò ca quan hsản xuất do quan niệm kng đúng về mối
quan h sản xuất, và quan hkhác, do quên mt điu bn nước ta quá độ đi
lên chnghĩa x• hội t một x hội tiền bản chủ nghĩa. Đồng nhất chế đcông
u với chủ nghĩa x• hi lẫn lộn giữa hợp tác hoá và tp thể hoá. Không thấy rõ
các bước có tính quy luật trên con đường tiến lên ch nghĩa x• hi nên đ• tiến hành
ngay cuc cải tạo x• hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân. Và xét v thực
chất là theo đường lối “đẩy mạnh cải tạo x• hội ch nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi
trước, m đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thiết lập chế độ công hữu
thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dântập thể”. Quan niệm cho rằng
thđưa quan hệ sản xuất đi trước đ mở đường thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển đ• bị bác bỏ. S phát triển của lc lượng sản xuất x• hội này đ• mâu thuẫn với
những phân tích trên. Trên con đường tìm tòi lối thoát của mình ttrong lòng nn
x• hi đ• nảy sinh những hiện tượng trái với ý muốn chủ quan ca chúng ta.
những hin tượng tiêu cc nổi lên trong đời sống kinh tế như quảnm, tham ô,
tham nhũng,, Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản
xuất với những hình thc kinh tế x• hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan, cần
thiết cho lực lượng sản xuất mới nảy sinh và phát trin. Khắc phục nhng mặt tiêu
cực trên cần thiết, nhưng trên thực tế chúng ta chưa thực hiện tốt c nhiệm vụ
mình phải làm. Phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với
quan hsản xuất, tđó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế.
Thiết lập quan hệ sản xuất mới và với những hình thức bước đi phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Trên
sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nnước cách mạng. Cho phép
phục hi và phát triển chủ nghĩa bản và buôn bán tdo rng r•i, lợi cho sự
phát triển sản xuất. Cách đây không lâu các nhà báo ca ớc ngoài phỏng vấn
Tổng thư Khả Phiêu rng “với một người bằng cấp về quân sự nhưng
không có bng cp vkinh tế. Ông thể đưa đất nước Việt Nam tiến nên không”
trlời phỏng vấn Tổng bí thư khẳng đnh rằng “Việt Nam chúng tôi khác với các
ớc chỗ chúng tôi đào tạo một người lính tngười lính ấy phải kh năng
cầm súng và m kinh tế giỏi ”, và Ông còn khng định và không chp nhận Việt
Nam theo con đường chủ nghĩa bản, nhưng không phải triệt tiêu bn trên đất
ớc Việt Nam mà vẫn quan hvới chủ nghĩa bản trên sở đòi hỏi các bên
cùng lợi, như vậy cho phép phát triển nền kinh tế bản là sáng sut. Quan
điểm từ đại hội VI ng đ• khng định không những khôi phục thành phn kinh tế
bản nhân còn phát triên chúng rộng r•i theo chính sách của Đảng và Nhà
ớc. Nhưng quan trọng là phải nhn thức được vai trò thành phần kinh tế nhà
ớc trong thời kỳ qđộ. Để thực hiện vai trò này mt mặt nó phải thông qua s
nêu gương về các mt năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hin đầy đủ đối với
nhà nước. Đối với thành phn kinh tế bản nhân kinh tế ththực hiện
chính sách khuyến khích phát triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này cần phải
những biện pháp đ cho quan hsản xuất thực hiên phù hợp vi nh chất và
trình độ phát triển của lc lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Vì như thế mới
thc s thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao động.
II. S vận dụng quy luật quan hsản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới nước ta hiện nay.
Trước khi đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và muốn đạt được thành
công thì nhất thiết phải có tiềm lực về kinh tế và con người, trong đó lực lượng lao
động là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra còn phi có sphù hợp giữa quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây là nhân tố cơ bn nhất.
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đi hoá với tiềm năng lao
động lớn, cần cù, thông minh,sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhưng công cụ
lao động của chúng ta còn t sơ. Nguy tụt hậu của đất nước ngày càng được
khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đcủa đất nước về công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nưc trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy
luật, gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp quy luật, cũng nhưcấu
một x• hội hợp giai cấp cùng vi thời cơ lớn thì cũng rất nhiều thách thức phải
ợt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá - hin đại hoá đất nước, vì dân
giàu nước mạnh x• hội công bng n minh. Nhưng điều đó còn phía trước mà
nội dung bản trong việc thực hiện là phi nhận thức đúng đn vquy luật quan
hsản xuất phù hp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đon
hn nay của nước ta.
III. Học thuyết Mác về hình thái kinh tế x• hội sở luận của snghiệp công
nghiệp hoá - hin đại hoá
Thực tế từ trước đến nay đchứng minh rằng công nghiệp hoá hiện đại hoá là
khuynh hướng phát triển tất yếu của c nước. Đối với nước ta t một nn kinh tế
tiểu nông muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hu, nhanh chóng đạt tới trình độ một
ớc phát triển tất yếu phải đy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá toàn diện và sâu
sắc. Đại hội đ• biểu lần thứ VIII của Đảng đ• khẳng địnhxây dựngớc ra thành
một nước công nghiệp svật chất k thuật hiện đại, cấu kinh tế phù
hợp, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp với trình độ phát triển ca lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần phải được nâng cao, quốc phòng an ninh vững
chắc dân gu nước mạnh x• hội công bng văn minh”. Theo quan niệm ca các
nhà sáng lập chnghĩa Mác thì lịch sử sản xuất vật chất của nhân loại đ• hình
thành mối quan hệ khách quan phbiến: một mặt con người phải quan hvới tự
nhiên nhằm biến đổi giới tự nhiên đó, quan hệ này được biểu hiển lực ng sản
xuất. Lc lượng sản xuất và quan h sản xuất là hai mặt đối lập nhau biện chứng
của một thể thống nhất kng th tách rời. Tuy nhiên nếu lực lượng sản xuất là cái
cấu thành của toàn b lịch sử của nhân loại thì quan hệ sản xuất là cái tạo thành
skinh tế của x hội, là cơ sở hiện thc của hoạt động sản xuất tinh thn và những
thiết chế tương ứng trong x• hội.
Mác đ đưa ra kết luận rằng x• hội loài người phát triển trải qua nhiều giai đon kế
tiếp nhau, ứng với mỗi giai đon ca lịch sử phát triển đó là mt hình ti kinh tế
x• hội nhất định rằng tiến bộ x• hội là svận động theo đúng hướng tiến lên của
các hình thái kinh tế x hội khác mà gc rễ sâu xa của là sphát triển ca sản
xuất. Rằng sự vận động của các hình thái kinh tế x• hội do tác động ca các
quy lun khách quan. c và Angen đ đưa ra nhiều lý luận, nhiều tưởng.
Nhng luận tưởng bản đó trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế x•
hội chính sở lun cho phép chúng ta khẳng định sự công nghiệp hoá, hiện
đại htheo định ng x• hội chủ nghĩa nước ta hiện nay là phù hợp với quy
luật khách quan trong quá trình phát triển của n tộc ta, của thời đại. Đối với
ớc ta đphù hợp với lực lượng sn xuất và quan h sản xuất, Đảng ta đ• chỉ ra
rằng công nghiệp hoá phải đi đôi vi hiện đại hoá kết hợp những bước tiến tuần tự
vcông nghiệp vi việc tranh thủ những hội đi tắt, đón đu, hình thành những
mũi nhọn phát triển theo trình độ tiến lên của khoa học công nghệ mới. Mặt khác
chúng ta chú trng y dựng và phát trin nền kinh tế hàng hoá nhiu thành phn,
vận dụng theo chế thị trưng, có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng
x• hi ch nghĩa đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời chúng luôn tác
động thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau cùng phát trin. Bởi lẽ nếu công nghiệp hoá, hiện
đại htạo nên lực lượng sản xut cần thiết cho chế độ x• hội thì việc y dựng
nn kinh tế nhiều thành phần chính để xây dựng quan hệ sản xuất phù hp, đưa
ớc ta ngày mt đi lên như Đng và nhàớc ta mong muốn.
C. Kết luận
th i giữa lực lượng sản xuất và quan h sản xuất mối quan hệ biện
chứng, hữu không thể tách rời trong đó lực lượng sản xuất giữ vai trò quan
trọng quyết định, là ni dung còn quan hsản xuất giữ vai trò hình thc của
phương thức sản xuất. Vì thế chúng ta cần phải hiểu và vận dụng một cách tt nhất
những quy lut quan hsản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lựcng sn
xuất. Trên thc tế không phải lúc nào cũng có được sự phù hợp tuyệt đối giữa quan