
Văn hoá kinh doanh Nhật Bản (tiếp theo)
Chế độ tuyển dụng, đào tạo con người:
Một trong những đặc trưng tạo ra văn hoá kinh doanh của người Nhật là chế độ
tuyển dụng, đào tạo nhân viên của họ. Thường thì công ty Nhật tuyển dụng nam
nhiều hơn nữ và coi lao động nữ chỉ là tạm thời và lao động nữ đa số là làm
những việc đơn giản, ít thăng tiến cao vì quan niệm phụ nữ là người lo việc gia
đình, giáo dục con cái, quán xuyến nhà cửa để cho các ông chồng an tâm làm
việc. Công ty Nhật thường tuyển hàng loạt người mới ra trường vào tháng tư và
đào tạo họ những phong cách, cách thức của công ty. Với người Nhật giáo dục
trong công ty là quan trọng nhất . Mọi người trong công ty đều hiểu rằng
“phương hướng kinh doanh của một xí nghiệp là vì lợi ích của mọi người chứ
không vì lợi ích cá nhân. Kinh doanh tốt có lợi cho xã hội, kinh doanh không tốt
có hại cho xã hội”, mỗi người có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với công ty và họ
sẽ được nhận những giá trị tương xứng. Nhiều công ty có chế độ thuê mướn
nhân viên suốt đời (shuushinkoyousei) và trả lương theo chế độ thâm niên
(nenkoujoretsusei) - chế độ làm việc này đem lại nhiều ích lợi cho cả công ty và
người lao động như với công ty, nó đem lại sự ổn định về tổ chức nhân sự và
thuận lợi trong đào tạo, làm người lao động yên tâm gắn bó trung thành và làm
việc hết mình cho sự phát triển của công ty.
Các chương trình đào tạo, các đợt đánh
giá nhân viên và thăng tiến nghề nghiệp
được tiến hành lâu dài và theo cách cho
nhân viên luân phiên tiếp xúc với nhiều
kinh nghiệm và cơ hội khác nhau trong
hoạt động của công ty – nhà quản trị có
thể đánh giá nhân viên thông qua xem
xét hoạt động của nhân viên trong một
thời gian dài, trong khi đó vẫn khuyến khích nhân viên tiếp tục học hỏi và tăng
tiến mà không sợ phạm lỗi đe dọa đến việc làm. Như thế, khuyến nhân viên h
oạt

động tiến bộ hơn, tích cực hơn, không sợ sai lầm mà biết rút kinh nghiệm từ sai
lầm và cố không phạm lại sai lầm nữa. Đương nhiên, ý thức và thái độ lao động
khi làm việc suốt đời và được thăng tiến, trả lương tăng cao theo thời gian làm
việc sẽ khác hơn so với không làm suốt đời tại một công ty, họ sẽ tự hoàn thiện,
điều chỉnh mình cho phù hợp với phong cách, nền nếp của công ty, phấn đấu
hết mình trong sự tự tin, yên tâm và có ý thức phụ thuộc vào công ty rất mạnh
mẽ. Hiện nay, chế độ làm việc suốt đời và trả lương theo thâm niên ít nhiều thay
đổi vì có thể công ty sẽ không đủ chức vụ hay quỹ lương tăng lên cho đại đa số
nhân viên. Nhưng những giá trị tích cực của chế độ tuyển dụng, đào tạo, sử
dụng lao động của Nhật Bản vẫn rất hữu ích.
Mô hình quản lý trong công ty Nhật Bản:
Các đặc trưng cho văn hoá kinh doanh của Nhật Bản chủ yếu và nổi bật là môi
hình quản lý đều mang những đặc điểm như chú trọng nguồn lực con người, coi
trọng con người và mối quan hệ hài hoà (nguyên tắc Wa) trong quan hệ con
người, mọi người trong tổ chức đều tham gia vào quá trình hoạt động quản lý và
tập thể quan trọng hơn cá nhân. Trong đó đáng chú ý là thuyết kiểm tra chất
lượng toàn diện (TQC – Total Quality Control) theo hệ thống Kaizen (cải thiện).
Khái niệm TQC vốn được Nhật học hỏi, tiếp thu và cải tiến từ khái niệm Kiểm tra
chất lượng (QC – Quality Control) của Mỹ vào năm 1946. ban đầu, QC chỉ có
nghĩa là “chất lượng của sản phẩm”, nhưng người Nhật mở rộng ra khắp mọi
thức, trở thành Kiểm tra chất lượng toàn diện (TQC): chất lượng sản phẩm, hoạt
động, nhân lực, uy tín và cải tiến không ngừng quy trình Hoạch định – Thực Hiện
– Kiểm tra – Đối phó. TQC được người Nhật hiểu là “sự cải tiến (kaizen) không
ngừng bất cứ chất lượng nào được nhận thấy là mục tiêu cải tiến với sự tham
gia đầy đủ của mọi thành viên trong tổ chức, sử dụng những kỹ thuật kiểm tra
chất lượng để thực hiện”. TQC là một công cụ để “không ngừng cải tiến chất
lượng” (kaizen), nhằm cải tiến sản phẩm và dịch vụ, củng cố và tăng cường các
hoạt động của công ty.Việc đưa kaizen vào trong ý thức của mọi nhân viên, là
một nhân tố khiến cho Nhật Bản phát triển và tạo nên một nếp văn hoá kinh

doanh riêng biệt của họ.
Bên ngoài công ty
Với những mối quan hệ bên ngoài công ty như
khách hàng trong nước và nước ngoài, người
Nhật có các thái độ khác nhau. Với các công ty
Nhật Bản, thường giữa họ có mối quan hệ làm
ăn lâu dài, tin cậy nhau – công ty Nhật thường là
keirestu kaisha (công ty có phụ thuộc hay liên
hệ) với công ty khác, họ cùng nằm trong một hệ
thống chặt chẽ, phân công nhau trong kinh
doanh, tạo thành một nhóm kinh doanh trung
thành với nhau khiến công ty nước ngoài khó
mà xâm nhập vào được. Đương nhiên là người bên ngoài sẽ phải mất nhiều thời
gian, gặp nhiều khó khăn mới có thể chen vào cùng làm ăn với một công ty trong
hệ thống đó. Người Nhật thà mua từ công ty Nhật khác trong hệ thống đó với giá
cao hơn thay vì mua từ công ty bên ngoài. Mối quan hệ giữa người với người
(ningen kankei) rất quan trọng trong xã hội Nhật Bản, nó là thước đo của tình
bạn, sự gắn bó và hợp tác chặt chẽ trong đời sống của họ. Trong tất cả các cuộc
làm ăn, kinh doanh người Nhật luôn lấy mối quan hệ với đồng nghiệp, khách
hàng, cấp trên, cấp dưới làm cơ sở cho mọi hoạt động. Trong xã hội mỗi người
Nhật có một vị trí nhất định trong một bộ máy, nếu không hiểu được vị trí của họ
cũng làm người Nhật lúng túng. Do vậy người Nhật e dè khi tiếp xúc với người
họ chưa có quan hệ mật thiết. Người Nhật, do đó, mất nhiều thời gian để thiết
lập mối quan hệ tốt đẹp, hiểu biết nhau trước khi họ bắt đầu thực sự làm ăn với
nhau. Đi chơi golf với nhau là một trong những cách quan trọng nhằm tạo lập
quan hệ hiểu biết của họ.
Từ xưa, người Nhật luôn coi người nước ngoài là “gaijin” (ngoại nhân), mang
tâm lý bài ngoại, tự tôn, tự ty dân tộc nên không cho phép người nước ngoài

xâm nhập vào tổ chức của họ. Ngày nay, do mở rộng cơ hội làm ăn quốc tế, nên
người Nhật tiếp xúc với nhiều người nước ngoài. Nếu chưa xác lập được mối
quan hệ tốt đẹp với người Nhật thì người nước ngoài sẽ mất đi cơ hội làm ăn với
họ. Một trong điều đáng lưu ý là người Nhật thường lúng túng khi gặp đối tác
làm ăn là nữ giới, đặc biệt là những người Nhật “chân ướt chân ráo” (những
người Nhật truyền thống, lứa tuổi trung niên trở lên), còn những người Nhật
“thành thục, già đời” (juku) thường là còn trẻ và làm việc nhiều với người nước
ngoài, học hỏi tại nước ngoài thì điều này họ có thể chấp nhận được.Người Nhật
tìm hiểu rất kỹ tình hình hoạt động của các công ty, quan tâm tối ảnh hưởng của
cá nhân tới các sự kiện trong công ty đó trước khi họ làm ăn với công ty đó. Do
đó, người Nhật thường mất nhiều thời gian trong việc trước khi quyết định làm
ăn với đối tác. Việc nhờ người quen biết có uy tín, có quan hệ tốt đẹp với đối tác
làm người trung gian (shokainin) giới thiệu trong việc tạo mối quan hệ với người
Nhật là một điều đáng lưu ý khi làm ăn với người Nhật. Tốt nhất shokainin (đó
phải là nam giới) là một người Nhật hiểu biết tường tận tình hình của công ty,
sản phẩm, dịch vụ và quan hệ giao dịch, mối quan hệ của hai bên, và ông ta có
địa vị quản lý tầm trung… Có thể nói, việc tạo lập mối quan hệ trong văn hoá
kinh doanh của nhiệt là rất quan trọng, nhưng một khi đã hiểu biết lẫn nhau, tạo
lập được mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài và tin cậy lẫn nhau thì công việc làm ăn
kinh doanh với người Nhật sẽ rất thuận lợi.
Khi bắt đầu gặp người Nhật, việc chào hỏi, trao
đổi danh thiếp rất quan trọng – người Nhật
thường rất thích nếu người nước ngoài cúi chào
họ theo kiểu ojigi và thích người tỏ ra hiểu văn
hoá, ngôn ngữ Nhật Bản và yêu mến đất nước
của họ. Ngoài ra, người Nhật có những đặc
trưng riêng của họ trong
thương lượng kinh
doanh như không thích tranh luận chính diện với
đối thủ, không phản ứng ngay và luôn tỏ ra ôn

hoà, khiêm nhường, bình tĩnh, thích đàm phán với người có chức vụ ngang
mình, luôn muốn người của mình nhiều hơn bên đối phương, để dẽ dàng ra
quyết định sau này. Người Nhật thường có nhiều cách nói mơ hồ (aimai) để diễn
đạt ý muốn và không nói “không” một cách rõ ràng nên người nước ngoài rất dễ
hiểu lầm lời nói và ý nghĩ của họ. Ngoài ra, tiếng Nhật rất khó với cấu trúc ngữ
pháp ngược, từ vựng pha trộn và lời nói thường chỉ là một phần trong giao tiếp,
phần quan trọng chìm ẩn trong giáp tiếp nằm ở trong các cử chỉ của họ nhiều
hơn. Người Nhật không nói thắng sự việc mà nói tế nhị – “ý tại ngôn ngoài”, ý
ngoài lời nói (haragei), trong thương lượng kinh doanh thì việc phải hiểu được
những gì đằng sau lời nói (haragei) rất quan trọng. Sự tiến triển tốt đẹp của cuộc
thương lượng nhiều khi chỉ thể hiện trong những nụ cười hoặc những lời nói ý
nhị, và người Nhật không hứa hẹn chắc nịch một điều gì vì họ sợ không làm
được và họ không muốn nghe người khác hứa hẹn chắc nịch vì họ muốn giữ thể
diện cho người ấy nếu tương lai không thực hiện được lời hứa. Điều này quả là
rất khó hiểu và khó nắm bắt đối với người nước ngoài. Sự im lặng trong đàm
phán của họ cũng là một cách đàm phán vì người Nhật không thích sự ồn ào.
Với người Nhật, sự tin tưởng lẫn nhau còn quan trọng hơn hợp đồng bằng giấy
tờ…
Có thể nói, việc hiểu người Nhật và văn hoá kinh doanh của họ rất phức tạp.
Nhưng các công ty Nhật Bản bao giờ cũng là những công ty chân thành có uy tín
cao, đáng tin cậy và luôn là những đối tác trung thành trong kinh doanh với bên
ngoài, đó chính là một những đặc trưng đáng tự hào và được trân trọng, học hỏi
trong văn hoá kinh doanh của họ.
Kết luận
Nhật Bản đã tạo được một nền văn hoá kinh doanh đặc trưng của họ và những
giá trị văn hoá đó đã giúp họ từ một nước Nhật nghèo tài nguyên, bị thất trận và
bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh đã thành công trong sự phát triển kinh tế trở
thành cường quốc kinh tế lớn trên thế giới khiến thế giới phải thán phục, kinh

