21
TẠP CHÍ KHOA HỌC
Khoa học Xã hội
Nguyễn Phước Trọng (2024)
(33): 21-28
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Nguyn Phưc Trng
Trường Đại hc Th Du Mt
Tóm tắt: hội hóa giáo dục chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Bước đầu đã đạt được những kết
quả nhất định trong việc huy động các nguồn lực hội đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp
nhân dân. Chủ trương này có mục tiêu chính là phát huy sức mạnh toàn dân, tạo chuyển biến tốt hơn về chất
lượng giáo dục đại học. Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, hội dân chủ, công bằng, văn minh trong bối cảnh toàn cầu hóa phát
triển công nghiệp. Trong thời đại 4.0 hiện nay, con người nguồn lực được coi yếu tố quan trọng hàng
đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả bền vững. vậy, việc phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, sử
dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đã được Đảng và Nhà nước hết sức
quan tâm. Cần xây dựng phát triển đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia nhà khoa học, các
nhà văn hóa, doanh nhân, các nhà lãnh đạo quản lý. Các chính sách trên không chỉ góp phần phát triển
nguồn nhân lực còn cải thiện thu hút các nhà đầu vào Việt Nam, đặc biệt Thành phố Hồ Chí
Minh - trung tâm kinh tế hàng đầu của nước ta.
Từ khóa: Nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh, xã hội hóa giáo dục.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ giữa những năm 1990, Việt Nam, sự
tham gia của các thành phần ngoài Nhà nước
vào việc cung ứng một số loại hình dịch vụ
công cộng đã được thể chế hoá. Theo Nghị
quyết số 90/CP của Chính phủ ngày 21/8/1997
về phương hướng chủ trương hội hóa các
hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa: “Xã hội hóa
các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa vận
động tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân
dân, của toàn hội vào sự phát triển các sự
nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức
hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát
triển về thể chất tinh thần của nhân dân…”1.
Để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng
yêu cầu bức thiết của sự phát triển, cần: “Đẩy
mạnh việc thực hiện chế tự chủ, hội hoá,
trước hết các sở giáo dục đại học” như
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội
nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương
khoá XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức
quản lý, nâng cao chất lượng hiệu quả
1 Chính phủ (1997), Nghị quyết số 90/CP, ngày
21/8/1997, Nghị quyết về phương hướng và chủ trương
xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa.
hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đã
nêu, đồng thời “Hoàn thiện chế, chính sách
để đẩy mạnh hội hóa giáo dục đào tạo
đúng hướng, hiệu quả”2 như Văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã xác định.
Tại Kỳ họp thứ 23 của Hội đồng Nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ IX tiến hành
thảo luận tổ thảo luận tại hội trường về tình
hình kinh tế - văn hóa - hội năm 2020
nhiệm vụ, giải pháp năm 2021. Các đại biểu
Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
bản nhất trí với Tờ trình báo cáo tình hình phát
triển kinh tế-văn hóa- hội năm 2020
nhiệm vụ, giải pháp năm 2021 của Ủy ban nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh, trong đó, xác định
chủ đề “Năm xây dựng chính quyền đô thị
cải thiện môi trường đầu tư”. Đồng thời, nhất
trí với những nhiệm vụ, giải pháp năm 2021 với
dự kiến 20 chỉ tiêu tăng trưởng, trong đó phấn
đấu chỉ tiêu kinh tế về tăng trưởng tổng sản
phẩm nội địa (GRDP) đạt khoảng 6%; duy trì tỷ
trọng khu vực dịch vụ trong GRDP
trên 60%; tổng vốn đầu hội chiếm
bình quân khoảng 35% GRDP; tốc độ tăng
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016): Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
22
năng suất lao động hội bình quân đạt
5,7%/năm3.
Để thực hiện được chỉ tiêu tăng trưởng đã đề
ra thì mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt
nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần phải phát
triển giáo dục đào tạo, đồng thời làm tốt hơn
nữa vic phát hin, đào tạo, bồi ng, sử dụng
đãi ngộ nhân i một cách hợp lý. Mục đích
của giáo dục hin đại đào tạo nhng con người
phát trin toàn diện, làm tin đ để phát triển
ngun nhân lực chất ng ngày càng cao đáp
ứng u cầu của sự nghiệp phát triển đất c.
Vic phát trin go dc, đào to trong đó có
XHHGD Thành ph HChí Minh cả c
chính phát huy làm trường tồn những giá tr
về ttuệ, tinh hoa n a tốt đẹp của n tộc,
m phong pthêm những giá trị trí tuệ, tinh hoa
n a nhân loại. Qua đó p phần phát triển
nguồn nhân lực chất ợng cao Thành phHồ
Chí Minh hiện nay.
2. NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm về hội hóa giáo dục
nguồn nhân lực chất lượng cao
2.1.1. Xã hội hóa giáo dục
hội hóa giáo dục: theo Luật Giáo dục đại
học sửa đổi, bổ sung năm 2018 định nghĩa: “Xã
hội hóa giáo dục phát triển giáo dục, xây
dựng hội học tập sự nghiệp của Nhà nước
của toàn dân; thực hiện đa dạng hóa các loại
hình trường các hình thức giáo dục; khuyến
khích, huy động tạo điều kiện để tổ chức,
nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”4.
Theo Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997, nội
dung hội hóa giáo dục bao gồm:“Tạo ra
phong trào học tập sâu rộng trong toàn hội
theo nhiều hình thức; vận động toàn dân, trước
hết những người trong độ tuổi lao động, thực
hiện học tập suốt đời làm cho hội ta trở
3 TTXVN (2021), Hội nghị sơ kết hoạt động của Tổ công
tác về đầu tư và lấy ý kiến góp ý kế hoạch cải thiện môi
trường đầu tư của Thành phố Hồ Chí Minh.
4 Quốc hội (2018), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
giáo dục đại học, Luật số 34/2018/QH 14, ngày
19/11/2018.
thành một hội học tập; Vận động toàn dân
chăm sóc thế hệ trẻ, tạo môi trường giáo dục
lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục
trong nhà trường với giáo dục gia đình
giáo dục ngoài hội; tăng cường trách nhiệm
của cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể
quần chúng, các doanh nghiệp đối với sự
nghiệp giáo dục; Nâng cao ý thức trách nhiệm
sự tham gia của toàn dân đối với giáo dục
nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ
thống giáo dục để phục vụ tốt việc học tập của
nhân dân (Chính phủ, 1997).
Tiếp tục chủ trương Đại hội VIII đề ra, Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Các
chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần
hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền
các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân
dân sự tham gia của các đoàn thể nhân dân,
các tổ chức hội”. Các Đại hội X, XI của
Đảng khẳng định: “tiếp tục đẩy mạnh chủ
trương hội hóa, huy động nguồn lực vật chất
và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp
giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo
dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị -
hội trên cả ba phương diện: động viên các
nguồn lực trong hội; phát huy vai trò giám
sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động
khuyến học, khuyến tài, xây dựng hội học
tập, tạo điều kiện để người dân được học tập
suốt đời, chú trọng vấn đề xây dựng hội học
tập và học tập suốt đời”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đặt ra
yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - hội;
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã cụ
thể hóa phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp
lần thứ hội nhập quốc tế. Đó là: “Xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có sức khỏe, năng lực, trình độ, ý thức, trách
nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, hội
Tổ quốc. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực,
nhất nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu
cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
hội nhập quốc tế”. Cần “phát triển đội ngũ
chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng
đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân
lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản
trị doanh nghiệp; nhân lực quản hội tổ
chức cuộc sống, chăm sóc con người”. Chú ý
23
“đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng
dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước,
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” - đây
điểm mới trong vấn đề trọng dụng, đãi ngộ,
sử dụng nhân tài.
2.1.2. Nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực nguồn
lực con người của một quốc gia hay vùng lãnh
thổ, một địa phương nhất định đủ các yếu tố
để tham gia trong quá trình phát triển kinh tế
hội. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Nguồn” nơi
phát sinh, nơi cung cấp, còn “Nhân lực” sức
lực của con người bao gồm: sức lực bắp (th
lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá
trình lao động của mỗi con người (trí lực), và
những ham muốn, hoài bão của bản thân người
lao động hướng tới một mục đích c định. Ngoài
ra, “Nn lực” với ý nghĩa đầy đủ của bao
gồm ba yếu tố: Thể lực, trí lực tâm lực. Ba yếu
tố đó có quan hbiện chứng với nhau, trong đó,
trí lực givai trò quyết định, nhưng thể lực
m lực điều kiện cần thiết không thể thiếu đối
với sự phát triển của nguồn nhân lực.
Theo khái niệm của Liên Hợp Quốc:
“Nguồn nhân lực trình độ lành nghề, kiến
thức năng lực của con người hiện hoặc
tiềm năng để phát triển kinh tế hội trong
một cộng đồng”. Ngân hàng Thế giới cho rằng:
Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn con người” bao
gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…
mà mỗi cá nhân thành viên sở hữu.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), khái
niệm nguồn nhân lực toàn bộ số người trong
độ tuổi khả năng lao động, hiểu theo nghĩa
rộng, đây nguồn cung cấp sức lao động cho
hội; theo nghĩa hẹp, khả năng lao động
của hội, nguồn lực cho sự nghiệp phát
triển xã hội. Từ khái niệm trên cho thấy: Nguồn
nhân lực nguồn vốn con người (hay tổng
thể số lượng chất lượng con người) thể
lực, trí lực tâm lực của một quốc gia, vùng,
lãnh thổ đã, đang sẽ sử dụng hoặc được sử
dụng để tạo ra những lợi ích cho hội (dưới
dạng vật chất và tinh thần).
Nguồn nhân lực chất lượng cao: Dưới góc
độ định tính, nguồn nhân lực chất lượng cao
lực lượng lao động khả năng đáp ứng được
những vấn đề quan trọng của kinh tế hội để
từ đó tạo ra hiệu quả cao trong giải quyết công
việc cho sự tăng trưởng phát triển hội.
Tiếp cận theo định lượng, nguồn nhân lực chất
lượng cao những con người được trang bị tri
thức, trình độ cao về chuyên môn. Khái
niệm tri thức ở đây bao gồm các nội hàm là con
người được đào tạo bản, được đào tạo càng
cao chuyên sâu thì nhân lực đó càng chất
lượng cao; Còn nói về trình độ cao về chuyên
môn tức nói về cách thức thể hiện tri thức đó
trong thực tế với trình độ của các chuyên gia
lành nghề. Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng
cao thể được hiểu là một bộ phận của nguồn
nhân lực trong hội, được thể hiện vai trò
nòng cốt, tiêu biểu đáp ứng những vấn đề quan
trọng trong phát triển kinh tế hội của từng
quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn.
Về đường lối chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao:
Về nguồn nhân lực (NNL), nhất là NNL chất
lượng cao, từ Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng
định: “Phát triển nhanh NNL nhất NNL chất
lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản
toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết
chặt chẽ phát triển NNL với phát triển ứng
dụng khoa học, công nghệ”. Kết quả thực hiện
đột phá này, Đại hội XII đánh giá: “Phát triển
NNL khoa học, công nghệ đạt được những
kết quả tích cực”. Tuy nhiên, “Phát triển NNL
ứng dụng khoa học, công nghệ còn chậm.
Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất giáo dục
đại học đào tạo nghề cải thiện còn chậm,
thiếu lao động chất lượng cao. Hệ thống giáo
dục còn thiếu tính liên thông, chưa hợp
thiếu đồng bộ”; “Khoa học, công nghệ chưa
thực sự trở thành động lực để nâng cao năng
suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy
phát triển kinh tế – xã hội…”
Tại Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh
về phát triển NNL một cách toàn diện hơn, đầy
đủ hơn và chính xác hơn. Báo cáo Chính trị Đại
hội XIII bổ sung ưu tiên “Phát triển NNL cho
công tác lãnh đạo, quản các lĩnh vực then
chốt trên sở chú trọng nâng cao, tạo bước
chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, bản về
chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với chế
tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy
mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng
phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng
tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước
24
phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa,
sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn
kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc”
Trên sở tổng kết việc thực hiện Nghị
quyết Đại hội XII về thực hiện đột phá về NNL,
các văn kiện Đại hội XIII đã đề ra nhiệm vụ cụ
thể hơn rất nhiều so với Đại hội XI, XII của
Đảng. Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu, ưu tiên
phát triển NNL cho các lĩnh vực then chốt; tạo
bước chuyển biến bản về chất lượng giáo
dục, đào tạo; đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng
phát triển khoa học công nghệ; đổi mới
sáng tạo, khơi dậy khát vọng phát triển, phát
huy giá trvăn hóa, sức mạnh con người Việt
Nam. Với sự ưu tiên phát triển NNL chất lượng
cao đã được đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII
cho thấy, đường lối, chủ trương về phát triển
NNL nước ta theo xu hướng đáp ứng được
chất lượng, yêu cầu trong bối cảnh thế giới hiện
nay đó cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế
số, cạnh tranh, hội nhập quốc tế, đó ưu tiên
phát triển nhanh, bền vững.
2.2. Thực trạng xã hội hgiáo dục đối với
việc phát triển nguồn nn lực chất ợng cao
Thành phHồ Chí Minh hiện nay
Thành phố Hồ Chí Minh hệ thống các
trường đại học, cao đẳng uy tín chất lượng
cao. Hiện, trên địa bàn Thành phố 54 trường
đại học, 52 trường cao đẳng, 64 trường trung
cấp, 82 trung tâm giáo dục nghề nghiệp 346
sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp5. Giai
đoạn 2016 - 2019, các trường 25.423 giảng
viên, gồm 18.985 giảng viên hữu, 6.438
giảng viên thỉnh giảng. Trong đó, 22.134 giảng
viên trình độ sau đại học (chiếm tỷ lệ
87,1%), gồm: 151 giáo sư, 1.074 phó giáo sư,
5.228 tiến 15.681 thạc 6. Đặc biệt, trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hệ thống
các trường thuộc Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh các
khu công nghiệp, khu công nghệ cao cho sự
5 Thành phố Hồ Chi Minh gắn giáo dục, đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao với xây dựng thành phổ thông
minh, https://baodansinh.vn, ngày 20/12/2019
6 Báo cáo tống kết thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
Thành phố lần thứX về Chương trình nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016 - 2020
tiếp cận khoa học, công nghệ thực hành trên
thực tiễn của nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo quy hoạch phát triển đến năm 2022,
Thành phố Hồ Chí Minh 23 khu chế xuất,
khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng
6.038,8 ha7. Trong đó, Khu công nghệ cao
một trong những trung tâm đào tạo và phát triển
khoa học, công nghệ; Khu công nghệ thông
minh đổi mới sáng tạo, hạt nhân của khu đô
thị sáng tạo tương tác cao phía Đông, nơi tập
trung các doanh nghiệp đối mới sáng tạo, đáp
ứng yêu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0,
góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế -
hội của Thành phố Hồ Chí Minh. Thứ ba,
Thành phố Hồ Chí Minh trung tâm phát triến
kinh tế, sự liên kết chặt chẽ giữa các vùng
kinh tế trọng điểm quốc tế. Giai đoạn 2016 -
2020, thành phố và các tỉnh trong vùng đã triển
khai liên kết về cung cầu hàng hóa, phát triển
giao thông, du lịch, bảo vệ môi trường, kiếm
soát dịch bệnh, đào tạo nguồn nhân lực để phục
vụ phát triển kinh tế - hội của vùng. Việc
liên kết giữa các vùng kinh tế trong nước
quốc tế tạo điều kiện cho Thành phố Hồ Chí
Minh thực hiện các đề án, kế hoạch để đào tạo
phát triển nguồn nhân lực. Một trong những
biện pháp hữu hiệu mang lại hiệu quả cao
chính việc trao đổi hợp tác quốc tế trong
việc phát triển nguồn nhân lực. Qua đó, học hỏi
cũng như tiếp cận được các thành tựu khoa học,
kỳ thuật và công nghệ tiên tiến trên thế giới.
Qua 05 năm thực hiện các chính sách phát
triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực Thành
phố Hồ Chí Minh đã tăng lên cả về số lượng
chất lượng, số lao động đã qua đào tạo trên địa
bàn Thành phố tăng qua các năm, năm 2016
chiếm 75,02%, năm 2018 chiếm 81,81%, năm
2020 85,69%. Trong đó, tỷ lệ lao động chưa
qua đào tạo ngày càng giảm, từ 23,83% năm
2018 xuống còn khoảng 14,4% năm 2020 8.
Trong năm 2020, các sở giáo dục nghề
nghiệp đã đào tạo cung cấp cho thị trường
lao động 141.832 người các trình độ, trong
đó, 50.699 sinh viên nữ 1.198 người
7 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chát lượng cao,
https://nhandan.com.vn, ngày 25/8/2020
8,5 Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Định hướng phát triển
Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn
đến 2045, tr.93 và 96
25
dân tộc thiểu số. Tỷ trọng nguồn nhân lực sau
đào tạo giáo dục nghề nghiệp các nhóm
ngành, nghề trọng yếu của Thành phố năm
2020 lần lượt là: 14,83% 04 nhóm ngành
công nghiệp trọng yếu; 82,49% 09 nhóm
ngành dịch vụ 2,67% 08 nhóm ngành,
nghề tự do dịch chuyển lao động trong khối
ASEAN9. Tính đến tháng 4/2020, Thành phố đã
tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho trên 76.658 lượt
cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó, luận
chính trị: 23.217 lượt; quản lý nhà nước: 21.030
lượt; chuyên môn, nghiệp vụ: 26.835 lượt;
ngoại ngữ: 2.045 lượt, tin học: 3.531 lượt10 .
Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực các hệ
đào tạo của Thành phố ngày càng đáp ứng yêu
cầu của thị trường lao động. Theo ý kiến đánh
giá của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành
phố về mức độ đáp ứng công việc của lao động
(lao động quản lý, lao động gián tiếp, lao động
trực tiếp) đều đạt 80% trở lên, đặc biệt lao động
quản đáp ứng tốt về thái độ, tác phong làm
việc; kiến thức chuyên 79 môn; năng lực
duy, sáng tạo; kỳ năng lãnh đạo, quản lý; kỹ
năng xử lý công việc nhạy bén và hiệu quả.
2.3. Vai trò của XHHGD đối với việc phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao Thành phố Hồ Chí Minh nhiều yếu tố
tạo nên, trong đó không thể không nhắc đến vai
trò của XHHGD, điều đó được thể hiện các
nội dung sau:
Một , XHHGD góp phần nâng cao dân trí,
trình độ học vấn tạo ra nguồn nhân lực chất
lượng cao.
Cùng với Khoa học công nghệ, Giáo dục
đào tạo được coi quốc sách hàng đầu
(trong đó chính sách XHHGD), có sức mạnh
nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế hội, phát huy giá trị
đất nước, văn hóa con người Việt Nam.
Trong bối cảnh của nền kinh tế mở cửa tại Việt
10 Báo cáo tống kết thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ Thành phố lần thứX về Chương trình nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016 - 2020
Nam, ngành giáo dục đào tạo Thành phố Hồ
Chí Minh đang đứng trước nhiều hội thuận
lợi để ngành này tiếp cận với các xu thế mới, tri
thức mới, những hình giáo dục hiện đại,
tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời
để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
cho Thành phố.
Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh cũng
đẩy mạnh chế, chính sách quy định trách
nhiệm, nâng cao vai trò của các tổ chức, đoàn
thể chính trị, kinh tế, hội trong đầu phát
triển đào tạo nhân lực, đặc biệt đào tạo nhân lực
chất lượng cao nhân lực thuộc ngành nghề
mũi nhọn. Quy định trách nhiệm của các ngành,
các tổ chức chính trị - hội, cộng đồng gia
đình trong việc đóng góp nguồn lực và tham gia
các hoạt động giáo dục, tạo hội học tập suốt
đời cho mọi người, góp phần từng bước xây
dựng hội học tập. Qua đó, góp phần quan
trọng trong việc đào đạo nguồn nhân lực chất
lượng cao phục vụ cho sự phát triển của Thành
phố Hồ Chí Minh.
Hai là, XHHGD góp phần phát huy, thu hút
nguồn lực trí tuệ vào việc phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao.
XHHGD góp phần thu hút nguồn nhân lực
trí tuệ cho Thành phố Hồ Chí Minh, yếu tố
quyết định đẩy mạnh phát triển ứng dụng
khoa học - công nghệ, cấu lại nền kinh tế,
chuyển đổi hình tăng trưởng lợi thế cạnh
tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển
nhanh, hiệu quả bền vững. Khi khoa học
công nghệ thực sự trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, kinh tế tri thức ngày càng chiếm ưu
thế trong phát triển kinh tế - hội thì lợi thế
cạnh tranh dựa trên công nghệ, tri thức, duy
đổi mới năng lực sáng tạo của chính con
người. Vì vậy, nguồn nhân lực được xác định
yếu tố trung tâm trong hệ thống các nguồn lực
phát triển như tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài
chính, nguồn lực khoa học - công nghệ. Nguồn
lực con người yếu tố động nhất, nguồn gốc
của mọi của cải vật chất sức sáng tạo ra các
nền văn minh; nhân tố quyết định việc khai
thác, sử dụng, ứng dụng khoa học - công nghệ
và tái tạo các nguồn lực khác.
Ba , XHHGD góp phần nâng cao trình độ
chính trị, phát huy tinh thần đoàn kết, u nước,