BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VÕ THỊ MỸ XUYÊN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH PHÒNG NGỪA RỦI
RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY
PHI TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VÕ THỊ MỸ XUYÊN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI CÁC
CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính Ngân Hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. TRẦN NGỌC THƠ
Tp Hồ Chí Minh, Năm 2014
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế “ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định phòng ngừa rủi ro tài chính tại các công ty phi tài chính ở Việt Nam” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Học viên
Võ Thị Mỹ Xuyên
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 3
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu....................................................................... 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu ................................................................................. 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ............................................................ 5
1.1 Lý thuyết về quản lý rủi ro làm tối đa hóa giá trị công ty thông qua tác
động làm giảm chi phí kiệt quệ tài chính. ............................................................ 5
1.2 Lý thuyết về quản lý rủi ro có thể làm tăng giá trị công ty thông qua
tác động làm giảm thuế ......................................................................................... 6
1.3 Lý thuyết về quản lý rủi ro có thể làm tăng giá trị công ty thông việc
tạo điều kiện cho các dự án đầu tư tự chọn ......................................................... 7
1.4 Lý thuyết về quản lý rủi ro làm tối đa hóa lợi ích nhà quản lý ............... 7
1.5 Lý thuyết về thực hiện quản trị rủi ro liên quan đến quy mô công ty.... 8
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU .......................... 9
2.1 Dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................... 9
2.1.1 Phương pháp và thu thập dữ liệu ........................................................... 9
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu .......................................................................... 10
2.1.3 Biến nghiên cứu .................................................................................... 12
2.2 Kỹ thuật phân tích số liệu ......................................................................... 17
2.2.1
Thống kê mô tả ...................................................................................... 18
2.2.2 Kiểm định t-test ..................................................................................... 25
2.2.3 Hồi quy logit ......................................................................................... 25
2.2.3.1 Kiểm định sự tự tương quan .............................................................. 25
2.2.3.2 Mô hình hồi quy logit ........................................................................ 28
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM ....................................................... 31
3.1 Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro
trong năm tài chính 2011 .................................................................................... 31
3.1.1 Kiểm định đơn biến ............................................................................... 31
3.1.2 Kiểm định đa biến ................................................................................. 38
3.2 Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro
trong năm tài chính 2012 .................................................................................... 43
3.2.1 Kiểm định đơn biến ............................................................................... 43
3.2.2 Kiểm định đa biến ................................................................................. 49
3.3 Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro
trong năm tài chính 2013 .................................................................................... 53
3.3.1 Kiểm định đơn biến ............................................................................... 53
3.3.2 Kiểm định đa biến ................................................................................. 59
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN .................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KÝ HIỆU
STT
TÊN BIẾN
BIẾN
1
TA
Tổng tài sản
2
TS
Tổng doanh thu
3
DA
Tỷ lệ nợ/Tổng tài sản
4
LDA
Tỷ lệ nợ dài hạn/tổng tài sản
5
LDE
Tỷ lệ nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu
6
ICR
Tỷ lệ EBIT/Tổng chi phí lãi vay
7
SOI
Tỷ lệ % cổ phiếu công ty thuộc sở hữu nhà đầu tư tổ chức
8
CEA
Tỷ lệ tiền và tương đương tiền/Tổng tài sản
9
Tỷ lệ chi phí đầu tư/Tổng tài sản
IEA
10
Tỷ lệ chi phí đầu tư/Tổng doanh thu
IES
Biến nhị phân bằng 1 nếu công ty được giảm thuế do kết
chuyển lổ từ các năm trước mang sang năm kiểm định và
11
T
bằng 0 nếu công ty không có giảm thuế do kết chuyển lổ
từ các năm trước mang sang năm kiểm định
12
SEM
Vốn chủ sở hữu công ty thuộc sở hữu của nhà quản lý
13
SOM
Tỷ lệ % cổ phiếu công ty thuộc sở hữu nhà quản lý
14
DIV
Tỷ lệ chi trả cổ tức
15
Tỷ lệ (Tài sản ngắn hạn-hàng tồn kho)/nợ ngắn hạn
QR
16
Tỷ lệ tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn
LR
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục
Trang
Bảng 2.1: Tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu
14
Bảng 2.2: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2011 (1)
19
Bảng 2.3: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2011 (2)
20
Bảng 2.4: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2012 (1)
21
Bảng 2.5: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2012 (2)
22
Bảng 2.6: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2013 (1)
23
Bảng 2.7: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2013 (2)
24
Bảng 2.8 : Hệ số tương quan của các biến được đưa vào mô hình (1)
26
Bảng 2.9 : Hệ số tương quan của các biến được đưa vào mô hình (2)
27
Bảng 3.1: T-test của biến độc TA năm 2011
33
Bảng 3.2 : T-test của biến độc TS năm 2011
34
Bảng 3.3 : T-test của biến độc LDA năm 2011
35
Bảng 3.4 : T-test của biến độc LDE năm 2011
36
Bảng 3.5 : T-test của biến độc SEM năm 2011
37
Bảng 3.6 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc
39
lập TA, SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2011
Bảng 3.7 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc
40
lập TS, SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2011
Bảng 3.8 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc
41
lập LDA, SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2011
Bảng 3.9 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc
42
lập LDE, SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2011
Bảng 3.10 : T-test của biến độc TA năm 2012
44
Bảng 3.11 : T-test của biến độc TS năm 2012
45
Bảng 3.12 : T-test của biến độc LDA năm 2012
46
Bảng 3.13 : T-test của biến độc T năm 2012
47
Bảng 3.14: T-test của biến độc SEM năm 2012
48
Bảng 3.15 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc
50
lập TA, SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2012
Bảng 3.16 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc
51
lập TS, SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2012
Bảng 3.17 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc
52
lập LDA, SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2012
Bảng 3.18: T-test của biến độc lập TA năm 2013
54
Bảng 3.19: T-test của biến độc lập TS năm 2013
55
Bảng 3.20: T-test của biến độc DIV năm 2013
56
Bảng 3.21: Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc
60
lập TS, SOI, IEA, T, SOM, DIV năm 2013
Bảng 3.22: Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TA, SOI, IEA, T,
61
SOM, DIV năm 2013
Bảng 3.23: Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TA, SOI, IES, T,
62
SOM, DIV năm 2013
Bảng 3.24: Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TS, SOI, IEA, T,
63
SOM, QR năm 2013
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Bài nghiên cứu trình bày kết quả thực nghiệm về các yếu tố tác động đến các quyết
định về phòng ngừa rủi ro tài chính của các công ty phi tài chính ở Việt Nam từ năm
2011 đến 2013. Bài nghiên cứu đã cho thấy rằng lý do cơ bản thực hiện nghiệp vụ
phòng ngừa rủi ro có rất ít khả năng dự đoán trong việc giải thích các quyết định quản
lý rủi ro trong các công ty Việt Nam. Các bằng chứng dựa trên cả kiểm định đơn biến
(kiểm định t-test) và kiểm định đa biến (hồi quy logit) giữa quyết định phòng ngừa rủi
ro trong các công ty phi tài chính ở Việt Nam với chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại
diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế, bất cân xứng thông tin, lợi ích của nhà quản
lý và các chính sách tài chính thay thế cho phòng ngừa rủi ro đã không ủng hộ cho các
giả thuyết được kiểm định ngọai trừ biến đại diện cho quy mô công ty là tổng doanh
thu, tổng tài sản. Tuy nhiên, bên cạnh hai biến này, biến đại diện cho đòn bẩy tài chính
và tỷ lệ chi trả cổ tức vẫn có ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro nhưng không
bền vững và thay đổi trong khoảng thời gian nghiên cứu. Nghiên cứu này khác với các
nghiên cứu trước đây bằng cách áp dụng một định nghĩa toàn diện hơn về phòng ngừa
rủi ro, những phân tích trong nghiên cứu cho thấy phần lớn trong thực tế biến phòng
ngừa rủi ro được sử dụng bao gồm cả phòng ngừa rủi ro phái sinh và phòng ngừa rủi ro
phi phái sinh.
Bài nghiên cứu được chia thành 4 phần. Phần 1 tổng quan các lý thuyết nghiên
cứu về phòng ngừa rủi ro công ty. Phần 2 trình bày phương pháp nghiên cứu và thu
thập dữ liệu. Phần 3 cung cấp bằng chứng về mối tương quan đến quyết định phòng
ngừa rủi ro bằng kiểm định t-test và hồi quy logit. Phần 4 kết luận bài nghiên cứu.
1. Lý do chọn đề tài
Quản trị rủi ro là xác định mức độ rủi ro mà một công ty mong muốn và nhận diện
được các rủi ro mà công ty đang gánh chịu để sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các
công cụ tài chính khác nhằm điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự theo mức rủi ro mong
muốn. Mục tiêu duy trì sự cân bằng tài chính để hạn chế sự mất mát thiệt hại cho doanh
nghiệp.
Phân tích vấn đề quản lý rủi ro tài chính của công ty là rủi ro phát sinh từ độ nhạy
cảm của các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá và giá cả hàng hóa. Rủi ro đối
với một công ty xuất phát từ biến động giá cả, lãi suất, tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến giá trị của một công ty. Cho dù đó là một công ty đa quốc gia với rủi ro tỷ
giá hối đoái, công ty vận tải với rủi ro giá nhiên liệu, hay công ty có đòn bẩy tài chính
cao với rủi ro lãi suất, cách thức và mức độ quản lý các rủi ro này hiện nay thường
đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công hay sự thất bại của một công ty. Do
đó, mọi người cho rằng quản lý rủi ro tài chính là một trong những chức năng quan
trọng nhất của công ty vì nó góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chính là tối đa hóa
sự giàu có của cổ đông và sự phát triển của công ty.
Vai trò của quản trị rủi ro là thế, nhưng yếu tố nào tác động đến quyết định quản trị
rủi ro của các công ty Việt Nam và mức độ tác động như thế nào vẫn là một vấn đề bỏ
ngỏ.
Theo nghiên cứu của Amrit Judge (2006) tác giả đã sử dụng dữ liệu báo cáo hàng
năm của 400 công ty Anh và thông qua cuộc khảo sát, tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ
về sự liên kết giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và chi phí dự kiến của kiệt quệ tài
chính. Bằng chứng của tác giả cho thấy rằng các công ty lớn, các công ty có nhiều tiền
mặt, các công ty với một xác suất kiệt quệ tài chính lớn hơn, các công ty có kim ngạch
xuất khẩu hoặc nhập khẩu và các công ty có nợ ngắn hạn nhiều thì có nhiều khả năng
thực hiện phòng ngừa rủi ro bằng các công cụ phái sinh.
Theo nghiên cứu của Danijela Milos Sprcic và Zeljko Sevic (2012) về các công ty
phi tài chính lớn ở Croatia và Slovenia. Tác giả phát hiện các lý do cơ bản phòng ngừa
rủi ro ít có khả năng dự đoán trong việc giải thích quyết định phòng ngừa rủi ro ở cả
các công ty tại Croatia và Slovenia. Bằng chứng ở Croatia đã không ủng hộ cho các giả
thuyết được kiểm định về tác động của các biến đại diện cho chi phí kiệt quệ tài chính,
2
chi phí đại diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế, bất cân xứng thông tin, lợi ích
của nhà quản lý và các yếu tố thay thế cho phòng ngừa rủi ro đến quyết định phòng
ngừa rủi ro, ngoại trừ biến nguồn tài trợ từ bên ngoài được đo bằng tỷ lệ giữa chi phí
đầu tư trên tổng tài sản. Bằng chứng ở Slovenia đã chỉ ra rằng không có biến giải thích
nào có ý nghĩa thống kê cho quyết định phòng ngừa rủi ro.
Như chúng ta thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro không
giống nhau ở từng quốc gia, có yếu tố có ý nghĩa ở quốc gia này, nhưng ở quốc gia
khác thì nó lại không có ý nghĩa. Cho đến nay ở Việt Nam, chưa có bài nghiên cứu
chính thức nào về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro của các công
ty, chính vì vậy đến với bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng
3
ngừa rủi ro tài chính tại các công ty phi tài chính ở Việt Nam” tôi nghiên cứu để tìm
hiểu các lý do cơ bản để phòng ngừa rủi ro như: chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại
diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế, bất cân xứng thông tin, lợi ích của nhà quản
lý và các yếu tố thay thế cho phòng ngừa rủi ro, có khả năng giải thích cho quyết định
phòng ngừa rủi ro ở Việt Nam hay không, mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến
quyết định phòng ngừa rủi ro, và đưa ra bằng chứng thực nghiệm mới về lý do thực
hiện phòng ngừa rủi ro bằng cách khám phá các hoạt động quản lý rủi ro của các công
ty phi tài chính tại Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của tôi là nghiên cứu về các lý do cơ bản quyết định phòng
ngừa rủi ro như: chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện của nợ, chi phí tài trợ bên
ngoài, thuế, lợi ích của nhà quản lý và các yếu tố thay thế cho phòng ngừa rủi ro, có
khả năng dự đoán trong việc giải thích quyết định quản lý rủi ro của các công ty phi tài
chính tại Việt Nam hay không?
Có phải các công ty Việt Nam thực hiện phòng ngừa rủi ro để làm tăng giá trị công
ty bằng cách làm giảm sự biến động của dòng tiền, từ đó giảm chi phí kiệt quệ tài
chính, chi phí đại diện nợ, thuế dự kiến và bất hoàn hảo thị trường vốn?
Các nhà quản lý công ty có thực hiện phòng ngừa rủi ro để tối đa hóa lợi ích của
chính mình hay không?
Các công ty có sử dụng chính sách tài chính nào khác để thay thế phòng ngừa rủi ro
hay không? Và các chính sách đó tác động như thế nào đến quyết định phòng ngừa rủi
ro trong công ty Việt Nam?
4
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của bài nghiên cứu này là kiểm tra tác động của các lý do cơ bản để
quyết định phòng ngừa rủi ro như: chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện của nợ,
chi phí tài trợ bên ngoài, thuế, lợi ích của nhà quản lý và các yếu tố thay thế cho phòng
ngừa rủi ro, đến quyết định phòng ngừa rủi ro của các công ty phi tài chính niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua các biến đại diện và dựa trên cở sở
bằng chứng thực nghiệm.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các công ty phi tài chính tại Việt Nam niêm yết trên 2 sàn chứng khoán
Hà Nội và Hồ Chí Minh.
Nguồn dữ liệu dùng để thực hiện luận văn được thu thập từ báo cáo tài chính cho 3
năm tài chính 2011- 2013.
5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1 Lý thuyết về quản lý rủi ro làm tối đa hóa giá trị công ty thông qua tác
động làm giảm chi phí kiệt quệ tài chính.
Lý thuyết đầu tiên cho thấy rằng quản trị rủi ro làm giảm sự biến động của dòng
tiền các doanh nghiệp có thể giảm chi phí kiệt quệ tài chính (Mayers and Smith, 1982;
Myers, 1984; Stulz, 1984, Smith & Stulz, 1985, Shapiro and Titman, 1998), nếu kiệt
quệ tài chính là tốn kém các doanh nghiệp có động lực để làm giảm xác suất của nó và
phòng ngừa rủi ro là một trong những phương pháp mà một công ty có thể làm giảm
xác suất mà công ty phải đối mặt với khả năng kiệt quệ tài chính và làm giảm các chi
phí kèm theo như là chi phí phá sản trực tiếp và gián tiếp, mức độ mà quản trị rủi ro có
thể làm giảm các chi phí này phụ thuộc vào xác suất của việc phải đối mặt với kiệt quệ
tài chính nếu công ty không phòng ngừa rủi ro và chi phí khi kiệt quệ tài chính xảy ra,
công ty càng nhận được nhiều lợi ích từ việc phòng ngừa rủi ro khi xác suất kiệt quệ tài
chính hoặc chi phí do nó gây ra càng lớn. Bằng cách giảm sự biến động của dòng tiền
trong công ty việc phòng ngừa rủi ro sẽ làm giảm xác suất và giảm chi phí dự kiến của
kiệt quệ tài chính.
Ngoài ra Smith và Stulz (1985) đã lập luận rằng việc giảm chi phí kiệt quệ tài
chính làm tăng giá trị công ty làm tăng giá trị cổ đông và đồng thời nâng cao khả năng
gánh chịu nợ. Quản lý rủi ro của công ty làm giảm chi phí kiệt quệ tài chính dẫn đến tỷ
lệ nợ tối ưu cao hơn và tấm chắn thuế cao hơn của vốn vay bổ sung, do đó làm tăng
thêm giá trị của công ty. Lý thuyết này đã được thực nghiệm chứng minh bởi các tác
giả Campbell và Kracaw (1987), Bessembinder (1991), Dolde (1995), Mian (1996) và
Haushalter (2000).
Lý do thứ hai của phòng ngừa rủi ro cho thấy rằng, bằng cách giảm sự biến động
của dòng tiền các doanh nghiệp có thể giảm chi phí đại diện (Jensen và Meckling,
1976). Theo Dobson và Soenen (1993) có ba lý do chính dựa trên chi phí đại diện để
giải thích tại sao nhà quản lý nên phòng ngừa rủi ro cho công ty. Đầu tiên phòng ngừa
rủi ro làm giảm sự không chắc chắn bằng cách ổn định dòng tiền do đó làm giảm chi
phí nợ của công ty. Vì chi phí đại diện phát sinh do quản lý giả sử sự bất cân xứng
thông tin giữa quản lý và trái chủ thì việc phòng ngừa rủi ro sẽ làm tăng giá trị công ty.
Vì vậy việc quản lý là phải đưa ra lựa chọn hợp lý để phòng ngừa rủi ro. Thứ hai do sự
tồn tại của nợ vay, dòng tiền được làm ổn định để phòng ngừa rủi ro hối đoái sẽ có xu
hướng giảm rủi ro cũng như vấn đề về thiếu cơ hội đầu tư (Jensen và Smith, 1985).
Cuối cùng phòng ngừa rủi ro làm giảm xác suất của kiệt quệ tài chính và do đó làm
tăng thời gian hợp đồng của các cổ đông. Bằng việc gia tăng danh tiếng cho công ty
phòng ngừa rủi ro đóng góp trực tiếp vào việc cải thiện các vấn đề đạo đức của người
đại diện. Kết quả MacMinn (1987), MacMinn và Han (1990), Bessembinder (1991),
Minton và Schrand (1999) và Haushalter et al. (2002) cũng ủng hộ cho lý do này.
6
1.2 Lý thuyết về quản lý rủi ro có thể làm tăng giá trị công ty thông qua tác
động làm giảm thuế
Một lý thuyết khác tập trung vào quản lý rủi ro là một phương pháp để tối đa hóa
giá trị công ty cho rằng bằng cách giảm sự biến động của dòng tiền các công ty có thể
giảm thuế dự kiến. Lý do này được đưa ra bởi Smith và Stulz (1985) tác giả đã lập luận
rằng cấu trúc của thuế có thể mang lại lợi ích cho công ty với vị thế thuế trong tương
lai hoặc lựa chọn thị trường. Nếu một công ty phải đối mặt với một hàm thuế lồi thì giá
trị sau thuế của công ty là một hàm lõm của giá trị trước thuế. Nếu phòng ngừa rủi ro
làm giảm sự thay đổi của giá trị công ty trước thuế và nghĩa vụ nộp thuế dự kiến giảm
và giá trị sau thuế dự kiến của công ty được tăng lên miễn là chi phí của các việc phòng
ngừa không phải là quá lớn. Bằng cách giảm hiệu quả thuế suất trung bình dài hạn các
hành động đó làm giảm sự biến động của các báo cáo lợi nhuận và sẽ nâng cao giá trị
cổ đông. Nếu hàm thuế hiệu quả càng lồi thì mức thuế dự kiến giảm càng nhiều. Lý
thuyết này được ủng hộ bởi Froot et al. (1993), Nance et al. (1993), Mian (1996) và
Graham và Smith (1996).
7
1.3 Lý thuyết về quản lý rủi ro có thể làm tăng giá trị công ty thông việc tạo
điều kiện cho các dự án đầu tư tự chọn
Ngoài ra phòng ngừa rủi ro làm giảm biến động của dòng tiền có thể cải thiện khả
năng đầy đủ của nguồn vốn nội bộ cho kế hoạch đầu tư mà không phải đánh giá cắt
giảm các dự án có lợi nhuận hoặc chi phí giao dịch do huy động nguồn tài trợ bên
ngoài. Giả thuyết chính là nếu xem tình hình nguồn tài trợ bên ngoài là tốn kém các
công ty có dự án đầu tư đòi hỏi vốn sẽ tự dự phòng dòng tiền của họ để tránh tình trạng
thiếu hụt vốn và có thể phát sinh chi phí để tiếp cận các thị trường vốn. Một thực
nghiệm thú vị dựa trên cơ sở này là các công ty có cơ hội tăng trưởng đáng kể và phải
đối mặt với chi phí cao khi huy động vốn dưới áp lực của kiệt quệ tài chính sẽ có động
cơ để dự phòng rủi ro nhiều hơn so với doanh nghiệp trung bình. Lý do này đã được
khám phá bởi Smith và Stulz (1985), Lessard (1991), Shapiro và Titman (1998), Hoshi
et al. (1991), Froot etal. (1993), Getzyet al. (1997), Gay và Nam (1998), Minton và
Schrand (1999), Haushalter (2000), Mello và Parsons (2000), Allayannis và Ofek
(2001) và Haushalter et al.(2002).
1.4 Lý thuyết về quản lý rủi ro làm tối đa hóa lợi ích nhà quản lý
Các trường phái khác với sự ưa thích giả thuyết tối đa hóa lợi ích nhà quản lý hơn.
Họ đã lập luận rằng các nhà quản lý công ty có khả năng đa dạng hóa giá trị tài sản của
họ kết hợp với nắm giữ cổ phiếu và vốn hóa các khoản thu nhập gắn liền với vị trí việc
làm của mình. Do đó nhà quản lý sẽ có động cơ để tự phòng ngừa rủi ro tài sản riêng
của họ trên chi phí của các cổ đông. Thường là loại dự phòng rủi ro không được thực
hiện để nâng cao giá trị của các cổ đông của công ty nhưng lại củng cố tài sản thuộc sở
hữu của nhà quản lý. Để tránh vấn đề này, hợp đồng lợi ích được ký kết với các nhà
quản lý phải được thiết kế gắn liền với lợi ích của nhà quản lý phát sinh do nhà quản lý
làm tăng giá trị của công ty họ. Lý do này lần đầu tiên được đề xuất bởi Stulz (1984) và
đã được phát triển hơn nữa bởi Smith và Stulz (1985). Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
của Tufano (1996), Gay và Nam (1998) đã chứng minh cho giả thuyết này. Tuy nhiên
theo nghiên cứu của Getzy etal. (1997) và Haushalter (2000) đã không tìm thấy bằng
chứng cho thấy phòng ngừa rủi ro của công ty bị ảnh hưởng bởi cổ phần của nhà quản
lý.
Một lý thuyết khác của phòng ngừa rủi ro dựa được đưa ra bởi Breeden và
Viswanathan (1996), DeMarzo và Duffie (1995), các tác giả này tập trung vào danh
tiếng của nhà quản lý. Trong cả hai mô hình lập luận rằng các nhà quản lý có thể thích
tham gia vào các hoạt động quản trị rủi ro để trao dồi tốt hơn kỹ năng của họ trên thị
trường lao động và lập luận rằng giám đốc điều hành trẻ tuổi, những người có nhiệm
kỳ ngắn hơn có danh tiếng ít hơn so với những nhà quản lý lớn tuổi và có nhiệm kỳ
quản lý dài hơn, vì vậy họ sẵn sàng nắm lấy các khái niệm mới như quản trị rủi ro với
mục đích thể hiện khả năng quản lý của mình.
8
1.5 Lý thuyết về thực hiện quản trị rủi ro liên quan đến quy mô công ty
Công ty có quy mô lớn hơn có khả năng thực hiện phòng ngừa rủi ro nhiều hơn, kết
quả nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chứng minh rằng lợi ích của chương trình quản trị
rủi ro phụ thuộc vào quy mô của công ty. Nance et al. (1993), Dolde (1995), Mian
(1996), Getzy et al. (1997) và Haushalter (2000) đã lập luận rằng các công ty lớn có
nhiều khả năng phòng ngừa rủi ro. Một trong những yếu tố quan trọng trong các lý do
quản trị rủi ro của công ty là gắn liền với chi phí của việc nối kết các hoạt động quản trị
rủi ro. Chi phí phòng ngừa rủi ro bao gồm các chi phí giao dịch trực tiếp cũng như các
chi phí đại diện để đảm bảo rằng các nhà quản lý giao dịch phù hợp. Các chi phí đại
diện có nhiều hoạt động bao gồm các chi phí của hệ thống kiểm soát nội bộ cho các
chương trình phòng ngừa rủi ro. Những chi phí này liên quan với các cơ hội để đầu cơ
mà thị trường phái sinh cho phép. Thật vậy đối với nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các
công ty nhỏ, lợi ích biên của một chương trình phòng ngừa rủi ro có thể vượt quá chi
phí biên. Các công ty này phải chi trả một chi phí khá lớn để thiết lập và điều hành một
chương trình quản trị rủi ro của công ty. Vì vậy nhiều công ty không thực hiện hoạt
động phòng ngừa rủi ro khi hoạt động này không mang lại giá trị kinh tế cho công ty.
9
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
2.1 Dữ liệu nghiên cứu
2.1.1
Phương pháp và thu thập dữ liệu
Bài nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trên 510 công ty phi tài chính ở Việt
Nam, mẫu được xây dựng từ danh sách tất cả các công ty niêm yết trên hai sàn chứng
khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh, sau khi loại ra các công ty tài chính và một số công ty
bị khiếm khuyết số liệu cần nghiên cứu. Các công ty được lựa chọn vì hai lý do quan
trọng:
Đầu tiên, mẫu này bao gồm các công ty lớn trong đó có nhiều khả năng đối mặt với
rủi ro về giá tài chính khác nhau và do đó có khả năng cung cấp một mẫu tiềm năng về
các công ty có phòng ngừa và không phòng ngừa rủi ro và có tính đại diện cho tất cả
các công ty trong nền kinh tế Việt Nam.
Thứ hai, công ty niêm yết phải trình bày các hoạt động phòng ngừa rủi ro của họ
trong báo cáo tài chính hàng năm theo thông tư số 210/2009/TT-BCTC ngày 06 tháng
11 năm 2009 hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài
chính và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính.
Công ty tài chính bị loại khỏi mẫu bởi vì hầu hết các hoạt động quản lý rủi ro của
họ bao gồm cả phòng ngừa rủi ro và các giao dịch đầu cơ trong khi các công ty phi tài
chính trên tập trung toàn bộ nổ lực vào phòng ngừa rủi ro. Dữ liệu được thu thập từ báo
cáo thường niên và thuyết minh báo cáo tài chính cho năm tài chính 2013. Dựa vào
thuyết minh báo cáo tài chính của mẫu tôi phân loại các công ty có thực hiện phòng
ngừa rủi ro và không thực hiện phòng ngừa rủi ro. Trong nhóm các công ty có thực
hiện phòng ngừa rủi ro, không chỉ bao gồm các công ty sử dụng các công cụ phái sinh
như một công cụ quản lý rủi ro doanh nghiệp, mà còn bao gồm các công ty sử dụng các
loại phòng ngừa rủi ro chiến lược như phòng ngừa rủi ro hoạt động phòng ngừa rủi ro
thiên nhiên, đa dạng hóa kinh doanh quốc tế… Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng
việc sử dụng một biến phụ thuộc nhị phân nó sẽ không mô tả chính xác mức độ hoạt
động phòng ngừa rủi ro của một công ty. Có nghĩa là một công ty phòng ngừa 1% hoặc
100% rủi ro đều được xem như nhau trong mô hình sử dụng biến nhị phân.
Hầu hết các nghiên cứu sử dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính như một chỉ số về khả năng
kiệt quệ tài chính để đo lường chi phí dự kiến của kiệt quệ tài chính đó là tỷ lệ giá trị sổ
sách của nợ dài hạn so với giá trị sổ sách của tài sản, tỷ lệ giá trị sổ sách của nợ dài hạn
so với giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và tỷ lệ khả năng chi trã lãi. Nghiên cứu này
cũng sử dụng cách tiếp cận tương tự, công ty càng có tỷ lệ đòn bẩy cao thì lỷ lệ lợi
nhuận càng thấp và nếu công ty phải trả lãi ròng thì khả năng kiệt quệ tài chính càng
lớn.
Về quy mô kinh tế liên quan đến hoạt động quản lý rủi ro tôi đã thu thập dữ liệu của
các công ty liên quan đến quy mô như: giá trị sổ sách của tài sản, giá trị sổ sách tổng
doanh thu bán hàng.
Thông tin về tỷ lệ phần trăm cổ phiếu công ty thuộc sở hữu của nhà đầu tư là tổ
chức cho phép tôi kiểm tra giả thuyết liên quan đến vấn đề thông tin bất cân xứng.
Cơ hội đầu tư, tăng trưởng được đo bằng tỷ số chi phí đầu tư so với giá trị sổ sách
của tài sản và tỷ lệ chi phí đầu tư so với giá trị tổng doanh thu.
Dữ liệu về mức độ tài sản của nhà quản lý một công ty cụ thể thu được bằng cách
lấy giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu công ty thuộc sở hữu của nhà quản lý và tỷ lệ cổ
phiếu của công ty được sở hữu bởi nhà quản lý.
Để kiểm tra giả thuyết về các công cụ thay thế cho phòng ngừa rủi ro, tôi sử dụng
thước đo: tỷ lệ thanh toán hiện thời và tỷ lệ thanh toán nhanh của công ty để đại diện
cho tính thanh khoản của công ty. Bên cạnh đó, cổ tức hàng năm chi trả cho các cổ
đông cũng được sử dụng đại diện cho chính sách tài chính khác được xem xét để thay
thế cho việc phòng ngừa rủi ro của công ty.
2.1.2
Giả thuyết nghiên cứu
10
Dựa trên các lập luận phát sinh từ khảo sát được trình bày, một vài giả thuyết đã
được đề xuất trong bài báo này. Đầu tiên tôi cho rằng việc phòng ngừa rủi ro có thể
làm tăng giá trị bằng cách giảm chi phí liên quan đến kiệt quệ tài chính, chi phí đại
diện của nợ và các bất hoàn hảo của thị trường vốn. Các tiền đề này được gọi là giả
thuyết tối đa hóa giá trị cổ đông và được kiểm tra trong các giả định sau.
Lập luận của việc giảm chi phí kiệt quệ tài chính ngụ ý rằng lợi ích của phòng ngừa
rủi ro càng lớn khi tỷ trọng tài sản cố định trong cơ cấu vốn của công ty càng lớn
(Myers, 1984; Stulz,1984; Smith và Stulz, 1985; Campbell và Kracaw, 1987;
Bessembinder 1991; Dobson và Soenen, 1993; Dolde, 1995; Shapiro và Titman, 1998;
Mian, 1996; Haushalter, 2000).
Lập luận về chi phí đại diện của nợ ngụ ý rằng lợi ích của phòng ngừa rủi ro càng
lớn khi vấn đề bất cân xứng thông tin càng lớn (Mayers và Smith, 1982, 1987;
MacMinn, 1987; MacMinn và Han, 1990; Bessembinder, 1991; Dobson và Soenen,
1993; Minton và Schrand, 1999; Haushalter và cộng sự, 2002).
Lập luận về việc tài trợ bên ngoài tốn kém ngụ ý rằng lợi ích của phòng ngừa rủi ro
càng lớn khi lựa chọn tăng trưởng trong cơ hội đầu tư của công ty càng nhiều (Froot và
cộng sự, 1993; Getzy và cộng sự, 1997; Gay và Nam, 1998; Mintonvà Schrand, 1999;
Allayannis và Ofek, 2001; Haushalter và cộng sự, 2002).
Giả thuyết về thuế cho thấy lợi ích của phòng ngừa rủi ro càng lớn khi xác suất thu
nhập trước thuế của công ty nằm trong vùng lũy tiến của biểu thuế càng lớn, và giá trị
thuế kết chuyển của công ty càng lớn, các khoản ưu đãi thuế đầu tư và các quy định
khác của luật thuế (Froot và cộng sự, 1993; Nance và cộng sự, 1993; Mian, 1996;
Graham và Smith, 1996).
Ngoài ra, lập luận về quy mô giao dịch kinh tế và thông tin được cung cấp ngụ ý
rằng các công ty càng lớn thì khả năng phòng ngừa càng cao (Nance và cộng sự, 1993;
Dolde, 1995; Mian, 1996; Getzy và cộng sự, 1997; Haushalter, 2000).
11
Nhóm giả định tiếp theo liên quan đến giả thuyết tối đa hóa lợi ích của nhà quản lý.
Tôi cho rằng, do thực tế là các nhà quản lý của một công ty đã đa dạng hóa trạng thái
tài sản cá nhân của mình gắn liền với việc nắm giữ cổ phiếu và vốn hóa các khoản thu
nhập nghề nghiệp của họ, họ có động lực mạnh mẽ để phòng ngừa rủi ro (Amihud và
Lev, 1981; Stulz, 1984; Smith và Stulz,1985; Tufano, 1996; Fatemi và Luft, 2002). Bài
nghiên cứu kiểm tra giả thuyết rằng các nhà quản lý sở hữu phần lớn cổ phần của công
ty muốn quản lý rủi ro hơn những người nắm giữ ít cổ phần.
Các nghiên cứu liên quan đến các chính sách tài chính được xem xét để thay thế
cho việc phòng ngừa rủi ro của công ty bởi vì các chính sách này làm giảm thuế dự
kiến, chi phí giao dịch, hoặc chi phí đại diện (Froot và cộng sự, 1993; Smithson và
Chew, 1992; Nance và cộng sự, 1993). Bài nghiên cứu cũng giả định rằng khả năng
công ty sử dụng các công cụ quản lý rủi ro là thấp khi tài sản của công ty có tính thanh
khoản và chi trả cổ tức ở mức cao.
2.1.3
Biến nghiên cứu
Một biến phụ thuộc đã được thiết kế ở dạng nhị phân, được mã hoá là “1” cho
những công ty có quản trị rủi ro và “0” cho những công ty không quản trị rủi ro. Trong
nhóm các công ty có quản trị rủi ro, không chỉ bao gồm các công ty sử dụng công cụ
phái sinh như một công cụ quản lý rủi ro cho doanh nghiệp, mà cả công ty sử dụng các
chiến lược quản trị rủi ro khác như sử dụng các khoản nợ ngoại tệ đóng vai trò như một
hình thức phòng ngừa tự nhiên cho doanh thu nước ngoài, phát hành các khoản nợ lãi
suất cố định để ổn định lãi suất thanh toán, quản trị rủi ro hoạt động, quản trị rủi ro
thiên nhiên, đa dạng hóa kinh doanh quốc tế…Công bố thông tin về phòng ngừa rủi ro,
sử dụng công cụ phái sinh hay phi phái sinh của công ty được tìm thấy ở bảng Thuyết
Minh Báo Cáo Tài Chính trong phần công cụ tài chính. Trường hợp trong bảng Thuyết
Minh Báo Cáo Tài Chính không nêu cụ thể công ty có sử dụng công cụ phái sinh để
phòng ngừa rủi ro, tôi dựa vào các công cụ được sử dụng trong công ty như là một
12
công cụ quản lý rủi ro tiền tệ, rủi ro lãi suất, rủi ro về giá để phân nhóm các công ty có
phòng ngừa rủi ro và các công ty không phòng ngừa rủi ro.
Bởi vì trong thực tế nếu chỉ phòng ngừa rủi ro với các công cụ phái sinh thì mới
phản ánh một phần nhỏ trong tổng thể hoạt động quản lý rủi ro của công ty, nếu công
cụ phái sinh được sử dụng là một biến đại diện thì kết quả nghiên cứu phản ánh không
chính xác hoạt động quản lý rủi ro. Vì ngoài quản lý rủi ro bằng công cụ phái sinh, các
công ty đều có thể sử dụng công cụ phòng ngừa rủi ro phi phái sinh cho những lý do
tương tự như những công ty sử dụng công cụ phái sinh.
Gần đây, các nghiên cứu đã chứng minh dư nợ ngoại tệ được sử dụng trong phòng
ngừa rủi ro ngoại tệ và trong một số trường hợp có thể hoạt động như một hình thức
thay thế cho các công cụ ngoại tệ phái sinh (Géczy và cộng sự, 1997; Allayannis và
Ofek, 2001; Keloharju và Niskanen, 2001; Kedia và Mozumdar, 2003; Elliot và cộng
sự, 2003; Judge, 2003, 2005). Kỹ thuật phòng ngừa rủi ro phi phái sinh bao gồm việc
sử dụng các khoản nợ ngoại tệ đóng vai trò như một hình thức phòng ngừa tự nhiên
cho doanh thu nước ngoài, ngoài ra các công ty có thể áp dụng chính sách tài chính bảo
thủ như duy trì đòn bẩy thấp hoặc giữ một lượng tiền mặt lớn… để bảo vệ công ty
chống lại những khó khăn tài chính tiềm ẩn.
13
Bảng 2.1: Tóm tắt các giả thuyết nghiên cứu
14
Thông số đo lường
Ký hiệu
Biến đại diện
S T T
Các giả thuyết kiểm định
Kỳ vọng tương quan
Quy mô công ty
Tổng tài sản Tổng doanh thu Tỷ lệ nợ/Tổng tài sản
TA TS DA
1
Tỷ lệ nợ dài hạn/tổng tài sản
LDA
Chi phí kiệt quệ tài chính
Đồng biến
Đòn bẩy tài chính
Tỷ lệ nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu LDE
Tỷ lệ EBIT/Tổng chi phí lãi vay
ICR
2
SOI
Chi phí đại diện của nợ
Tỷ lệ % cổ phiếu công ty thuộc sở hữu nhà đầu tư tổ chức
Ngịch biến
Bất cân xứng thông tin
lệ
tương đương
CEA
Tỷ tiền và tiền/Tổng tài sản
trợ bên
3
Tỷ lệ chi phí đầu tư/Tổng tài sản
IEA
Tài ngoài
Cơ hội đầu tư
Đồng biến
IES
Tỷ lệ chi phí đầu tư/Tổng doanh thu
4 Thuế
T
“1” nếu công ty được giảm thuế do kết chuyển lỗ từ các năm trước mang sang năm kiểm định
Đồng biến
Thuế kết chuyển
“0” nếu không có giảm thuế
SEM
Vốn chủ sở hữu công ty thuộc sở hữu của nhà quản lý
ích của
5
Lợi nhà quản lý
Đồng biến
SOM
Tỷ lệ % cổ phiếu công ty thuộc sở hữu nhà quản lý
DIV
Mức độ sở hữu công ty của nhà quản lý Cổ tức
QR
6
Ngịch biến
Các chính sách tài chính thay thế
Thanh khoản
LR
Tỷ lệ chi trả cổ tức Tỷ lệ (Tài sản ngắn hạn-hàng tồn kho)/nợ ngắn hạn Tỷ lệ tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn
Khi quyết định thực hiện chương trình quản lý rủi ro thì chi phí phòng ngừa rủi ro
là một vấn đề quan tâm hàng đầu đối với công ty, các chi phí này bao gồm các chi phí
giao dịch trực tiếp cũng như các chi phí đại diện để đảm bảo cho các nhà quản lý điều
hành một chương trình quản lý rủi ro phù hợp. Chi phí giao dịch của phòng ngừa rủi ro
bao gồm các chi phí giao dịch cũng như các chi phí đáng kể của các hệ thống thông tin
cần thiết để cung cấp các dữ liệu cần thiết cho việc quyết định các vị trí thích hợp để
phòng ngừa rủi ro. Các chi phí đại diện cho các hoạt động bao gồm các chi phí của hệ
thống kiểm soát nội bộ cho chương trình phòng ngừa rủi ro. Chính vì vậy, đối với các
công ty nhỏ khi chi phí biên của một chương trình phòng ngừa rủi ro vượt quá lợi ích
biên, các công ty này có thể không phòng ngừa rủi ro thậm chí ngay cả khi họ đang đối
diện với rủi ro, đơn giản chỉ vì đây không phải là một hoạt động có giá trị kinh tế. Vì
vậy, quy mô công ty tác động mạnh đến việc thực hiện phòng ngừa rủi ro của công ty,
để xem xét mức độ ảnh hưởng của quy mô đối với quyết định phòng ngừa rủi ro, bài
nghiên cứu này định lượng quy mô của một công ty bằng cách sử dụng hai biến trung
gian thay thế đó chính là: giá trị sổ sách của tài sản (Haushalter, 2000; Hoyt và Khang,
2000; Allayannis và Weston, 2001; Allayannis và Ofek, 2001) và giá trị sổ sách của
tổng doanh thu (Allayannis và Weston, 2001), và tôi dự đoán rằng hệ số biến này là
đồng biến với quyết định phòng ngừa rủi ro.
Đòn bẩy tài chính được sử dụng như là một biến đại diện cho chi phí kiệt quệ tài
chính. Ba đại diện khác nhau đã được xây dựng cho các mức độ đòn bẩy tài chính khác
nhau của một công ty. Đầu tiên, đòn bẩy tài chính được định nghĩa là tỷ số giữa giá trị
sổ sách của nợ dài hạn và giá trị sổ sách của tài sản (Tufano, 1996; Nance và cộng sự,
1993; Getzy và cộng sự, 1997), trong khi một số phương pháp xác định khác là tỷ lệ
giá trị sổ sách của nợ dài hạn giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (Hoyt và Khang, 2000;
Allayannis và Weston, 2001; Mian, 1996) và hệ số đảm bảo thanh toán lãi vay là tỷ lệ
thu nhập trước thuế và lãi vay trên tổng chi phí lãi vay (Getzy và cộng sự, 1997; Nance
15
và cộng sự, 1993). Các hệ số của tất cả các biến được dự báo là đồng biến với quyết
định phòng ngừa rủi ro.
Biến đại diện khác được sử dụng cho các vấn đề thông tin bất đối xứng là tỷ lệ phần
trăm cổ phiếu công ty thuộc sở hữu bởi nhà đầu tư là tổ chức. DeMarzo và Duffie
(1995), Tufano (1996) và Getzy et al. (1997) đã dự đoán rằng một phần lớn hơn các cổ
phiếu thuộc quyền sở hữu của các tổ chức đầu tư sẽ tỷ lệ thuận với các thông tin có
sẵn, và do đó nghịch biến với hoạt động quản trị rủi ro. Do đó, cho phép tôi dự đoán dự
đoán mối quan hệ nghịch biến giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và tỷ lệ phần trăm cổ
phiếu công ty thuộc sở hữu bởi nhà đầu tư .
Cơ hội đầu tư (tăng trưởng) được đo bằng tỷ số giữa giá trị đầu tư và giá trị sổ sách
của tài sản (Haushalter, 2000; Froot và cộng sự, 1993; DeMarzo và Duffie, 1995;
Getzy và cộng sự, 1997; Smith và Stulz, 1985). Cơ hội đầu tư cũng được xác định là tỷ
lệ chi phí đầu tư với giá trị tổng doanh thu (DeMarzo và Duffie, 1995; Froot và cộng
sự, 1993; Getzy và cộng sự, 1997; Smith và Stulz, 1985; Dolde, 1995). Các hệ số của
biến này được dự báo sẽ là đồng biến với quyết định phòng ngừa rủi ro.
Để kiểm tra giả thuyết thuế, tôi đã sử dụng biến giả bằng 1 nếu công ty được giảm
thuế do kết chuyển lỗ từ các năm trước mang sang năm 2013 và bằng 0 nếu công ty
không có giảm thuế do kết chuyển lỗ từ các năm trước mang sang năm 2013, các
khoản nợ thuế đầu tư được sử dụng để bù đắp thuế thu nhập phải nộp (Nance et al.,
1993), biến này được dự báo sẽ là đồng biến.
Mức độ tài sản công ty thuộc sở hữu của nhà quản lý được thể hiện theo hai cách:
bằng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu của công ty thuộc sở hữu của nhà điều hành và
giám đốc (Tufano, 1996; Getzy et al., 1997) và tỷ lệ cổ phiếu của công ty được nắm
giữ bởi nhà quản lý (Hoyt và Khang, 2000; Haushalter, 2000). Các ưu đãi cho các nhà
quản lý khi thực hiện phòng ngừa rủi ro sẽ tăng trong cả hai biến (Smith và Stulz,
1985), do đó các hệ số được dự báo sẽ là đồng biến.
16
Tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty được định nghĩa là cổ tức chi trả hàng năm cho các
cổ đông thông thường như một phần thu nhập sau thuế và lãi (Haushalter, 2000; Getzy
et al., 1997). Một phương pháp làm giảm xác suất của kiệt quệ tài chính có thể bao
gồm tỷ lệ cổ tức áp đặt (Nance et al. , 1993), lập luận của Haushalter (2000) cho rằng
các công ty phải đối mặt với khó khăn thanh khoản có thể trả cổ tức ít hoặc không có
cổ tức. Vì vậy, cổ tức thấp có thể bao hàm sự hạn chế của thanh khoản và công ty phải
phòng ngừa rủi ro cao hơn cho thấy một tương quan âm giữa cổ tức và phòng ngừa rủi
ro. Tôi cũng giả định rằng tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty càng cao, nhu cầu công ty
thực hiện phòng ngừa rủi ro càng thấp khi công ty chưa từng bị thiếu hụt thanh khoản.
Ngoài ra, khả năng thanh khoản của công ty đã được sử dụng như là một biến đại diện
cho các yếu tố thay thế cho phòng ngừa rủi ro, tỷ lệ thanh toán nhanh được xác định là
tài sản ngắn hạn trừ cho hàng tồn kho chia cho nợ ngắn hạn (Smith và Stulz, 1985;
Froot et al., 1993). Một biện pháp khác đo lường khả năng thanh khoản của một công
ty là tỷ lệ thanh khoản tính bằng hệ số tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn (Nance et
al., 1993). Hệ số trên cả ba biến được dự đoán là nghịch biến với quyết định phòng
ngừa rủi ro.
17
2.2 Kỹ thuật phân tích số liệu
Số liệu điều tra được phân tích bằng cách sử dụng cả phân tích đơn biến và phân tích
đa biến. Thứ nhất, thống kê mô tả được trình bày trong đó cho thấy cái nhìn sâu sắc
vào đặc tính doanh nghiệp của các công ty. Sau đó bằng cách sử dụng kiểm định t - test
cho từng mẫu độc lập, cho ta thấy có hay không sự khác biệt giữa giá trị trung bình
giữa các công ty có phòng ngừa rủi ro và không phòng ngừa rủi ro ở Việt Nam. Kiểm
định t-test độc lập cho từng mẫu cho phép tính toán sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa
các mẫu tham số nhỏ và không liên quan (Bryman và Cramer, 1997). Thêm vào đó dữ
liệu nghiên cứu có tính chất không phân loại (dữ liệu theo khoảng thời gian/ theo tỷ lệ)
do đó kiểm định t - test là thích hợp nhất để sử dụng cho phân tích đơn biến. Liên quan
đến phân tích đa biến, hồi quy logit nhị thức được sử dụng để phân biệt giữa những
giải thích có thể cho quyết định phòng ngừa rủi ro. Hồi quy logit được lựa chọn vì đây
là một phương pháp hồi quy được sử dụng khi biến phụ thuộc là biến nhị phân có sự
phân đôi và biến độc lập là bất kỳ có thể liên tục hoặc phân loại (Hosmer và Lemeshow
1989; Allison năm 1999; Menard 2001). Bên cạnh thực tế là các biến phụ thuộc trong
nghiên cứu này rời rạc và không liên tục, hồi quy logiti được lựa chọn vì nó cho phép
các nhà nghiên cứu khắc phục nhiều giả định hạn chế của hồi quy OLS Không giống
như hồi quy OLS, hồi quy logit không có giả định tuyến tính trong mối quan hệ giữa
các biến độc lập và phụ thuộc, không đòi hỏi các biến phân bố bình thường, không có
giả định hiệp phương sai không thay đổi, không cógiả định sai số phân bố bình thường,
không yêu cầu các biến độc lập theo khoảng thời gian hoặc không bị chặn, và nói
chung có những yêu cầu ít nghiêm ngặt hơn). Phân tích so sánh cũng được sử dụng như
là một phương pháp để so sánh kết quả nghiên cứu thực nghiệm tiến hành trên các
công ty Việt Nam với các công ty ở Anh, Croatia và Slovenia.
2.2.1 Thống kê mô tả
Trong các bảng 2.3, 2.3, 2.4, 2.5, 2.6 và 2.7 dưới đây tôi trình bày thống kê mô tả
các biến đã sử dụng trong phân tích đơn biến của tôi cũng như trong mô hình hồi quy
logistic cho các công ty phi tài chính ở Việt Nam, cho chúng ta cái nhìn khái quát về tất
cả các biến của mô hình nghiên cứu.
18
19
Bảng 2.2: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2011 (1)
Date: 02/04/15
Time: 21:32
Sample: 1 510
TS TA DA LDA LDE ICR SOI CEA
Mean 1441.050 1091.312 0.474104 0.092432 0.399169 207.2969 153.0546 0.070801
Median 440.9437 334.8502 0.488003 0.037491 0.082515 2.432915 38.46782 0.038035
Maximum 58232.39 26901.31 0.937345 0.719688 7.395766 66932.69 59519.15 0.486233
Minimum 0.039420 0.823054 0.038579 0.000000 0.000000 -121.3695 0.000000 8.50E-05
Std. Dev. 4134.707 2523.593 0.188758 0.125621 0.841168 3004.383 2634.038 0.082350
Skewness 8.412130 5.693820 -0.136275 1.752011 4.334108 21.59207 22.51416 1.864128
Kurtosis 94.67956 44.57220 2.309026 5.884472 26.99179 479.0383 507.9258 6.732731
Jarque-Bera 184624.2 39480.93 11.72424 437.7148 13828.31 4855143. 5460774. 591.4551
Probability 0.000000 0.000000 0.002845 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000
Sum 734935.7 556569.1 241.7930 47.14034 203.5763 105721.4 78057.86 36.10827
Sum Sq. Dev. 8.70E+09 3.24E+09 18.13552 8.032320 360.1497 4.59E+09 3.53E+09 3.451779
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt Nam
Observations 510 510 510 510 510 510 510 510
Bảng 2.3: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2011 (2)
20
Date: 02/04/15
Time: 21:34
Sample: 1 510
T IEA IES SEM SOM DIV QR LR
Mean 0.032747 0.059070 0.219608 55.83237 12.57644 16.43473 0.964453 1.519220
Median 0.011279 0.015014 0.000000 8.405605 7.531272 0.000000 0.691799 1.162907
Maximum 0.550325 1.749550 1.000000 4323.042 80.72202 116.9109 11.85416 12.99569
Minimum 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.053003 0.077959
Std. Dev. 0.056695 0.168847 0.414387 264.6140 13.98995 25.52495 1.128862 1.301952
Skewness 4.064130 6.966822 1.354614 12.03890 1.614179 1.455020 5.120900 4.114968
Kurtosis 26.64938 59.80504 2.834978 171.9140 5.947883 4.191056 38.06272 25.86717
Jarque-Bera 13288.94 72695.37 156.5519 618623.5 406.1365 210.0977 28353.63 12551.08
Probability 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000
Sum 16.70093 30.12591 112.0000 28474.51 6413.982 8381.712 491.8712 774.8022
Sum Sq. Dev. 1.636089 14.51119 87.40392 35640464 99620.82 331625.3 648.6332 862.7954
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt Nam
Observations 510 510 510 510 510 510 510 510
21
Bảng 2.4: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2012 (1)
Date: 02/03/15
Time: 21:46
Sample: 1 510
TS TA DA LDA LDE ICR SOI CEA
Mean 1560.788 1186.117 0.511978 0.099795 0.432030 232.0171 175.5130 0.076394
Median 483.2062 357.3475 0.525634 0.040519 0.092226 2.551570 42.87119 0.042372
Maximum 68187.81 30604.45 0.949691 0.743633 8.217609 76146.40 69450.58 0.511824
Minimum 0.039420 0.833895 0.038583 0.000000 0.000000 -122.9681 0.000000 9.45E-05
Std. Dev. 4555.175 2748.572 0.200059 0.135266 0.918194 3414.171 3073.676 0.088916
Skewness 8.931944 5.726234 -0.224028 1.733928 4.504172 21.66123 22.51454 1.859098
Kurtosis 108.6771 45.62060 2.248171 5.733261 29.49922 481.2457 507.9372 6.686258
Jarque-Bera 244093.9 41388.09 16.27752 414.3059 16646.38 4900161. 5461021. 582.5365
Probability 0.000000 0.000000 0.000292 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000
Sum 796001.9 604919.8 261.1090 50.89568 220.3352 118328.7 89511.64 38.96105
Sum Sq. Dev. 1.06E+10 3.85E+09 20.37210 9.313087 429.1276 5.93E+09 4.81E+09 4.024179
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt Nam
Observations 510 510 510 510 510 510 510 510
22
Bảng 2.5: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2012 (2)
Date: 02/03/15
Time: 21:48
Sample: 1 510
IEA IES SEM SOM DIV QR LR T
Mean 0.035793 0.064564 0.203922 60.67748 13.52552 17.58880 1.034495 1.631142
Median 0.012471 0.016286 0.000000 9.271235 8.019195 0.000000 0.735491 1.253070
Maximum 0.552040 1.925706 1.000000 5062.110 82.00000 125.4064 12.24857 13.42807
Minimum 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.060299 0.088691
Std. Dev. 0.062818 0.188329 0.403307 294.9539 14.95276 27.08420 1.178435 1.351235
Skewness 4.138419 7.204723 1.469695 12.65398 1.556784 1.417699 4.914362 3.955647
Kurtosis 27.00786 64.13658 3.160004 191.5267 5.570472 4.062819 35.40102 24.25601
Jarque-Bera 13703.77 83837.91 184.1443 768884.7 346.4097 194.8427 24361.64 10931.14
Probability 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000
Sum 18.25434 32.92771 104.0000 30945.51 6898.013 8970.286 527.5924 831.8823
Sum Sq. Dev. 2.008583 18.05306 82.79216 44281889 113804.8 373379.0 706.8525 929.3511
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt Nam
Observations 510 510 510 510 510 510 510 510
23
Bảng 2.6: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2013 (1)
Date: 10/01/14
Time: 20:28
Sample: 1 510
TS TA DA LDA LDE ICR SOI CEA
Mean 1697.022 1288.930 0.549350 0.106854 0.460728 239.3982 185.4766 0.082863
Median 529.2132 398.7395 0.567100 0.042900 0.103700 2.678200 46.69000 0.045100
Maximum 75772.65 30948.60 0.965900 0.779000 9.447700 77002.67 73029.00 0.568700
Minimum 0.043800 0.880100 0.039900 0.0000 0.000000 -129.7816 0.000000 0.000100
Std. Dev. 5007.527 3018.181 0.209137 0.143677 0.976298 3454.772 3232.008 0.097058
Skewness 9.097382 5.733963 -0.276315 1.681902 4.584382 21.61752 22.51449 1.892416
Kurtosis 112.5763 44.12095 2.284478 5.451295 31.12801 479.9007 507.9355 6.881697
Jarque-Bera 262182.7 38726.97 17.36917 368.1354 18599.09 4872700. 5460985. 624.5911
Probability 0.000000 0.000000 0.000169 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000
Sum 865481.5 657354.5 280.1687 54.49570 234.9713 122093.1 94593.08 42.26000
Sum Sq. Dev. 1.28E+10 4.64E+09 22.26277 10.50731 485.1578 6.08E+09 5.32E+09 4.794874
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt Nam
Observations 510 510 510 510 510 510 510 510
24
Bảng 2.7: Thống kê mô tả các biến độc lập năm 2013 (2)
Date: 10/01/14
Time: 20:33
Sample: 1 510
T IEA IES SEM SOM DIV QR LR
Mean 0.038489 0.069446 0.203922 66.46549 14.56661 18.94020 1.121317 1.762648
Median 0.013850 0.017050 0.000000 9.916475 8.610000 0.000000 0.789450 1.348600
Maximum 0.592000 2.183000 1.000000 5625.191 89.64000 126.9694 12.83110 14.06670
Minimum 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.068600 0.100900
Std. Dev. 0.066790 0.201161 0.403307 327.1317 15.98900 29.03488 1.274621 1.462034
Skewness 4.070277 7.245927 1.469695 12.73864 1.492083 1.401030 4.687691 3.817488
Kurtosis 26.25005 65.45970 3.160004 193.3899 5.192322 3.980873 32.29054 22.43435
Jarque-Bera 12895.21 87363.59 184.1443 784070.0 291.3697 187.2901 20098.96 9264.724
Probability 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000 0.000000
Sum 19.62950 35.41740 104.0000 33897.40 7428.970 9659.503 571.8717 898.9506
Sum Sq. Dev. 2.270594 20.59698 82.79216 54470699 130125.0 429099.3 826.9507 1088.010
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt Nam
Observations 510 510 510 510 510 510 510 510
2.2.2 Kiểm định t-test
T-test được sử dụng trong kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình của tổng
thể (µ) với một giá trị (µ0) cho trước, hoặc kiểm định sự khác biệt về giá trị trung
bình giữa hai tổng thể ( µ1và µ2). Trong bài nghiên cứu này, tôi sử dụng kiểm định
T-test để kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình giữa các công ty có phòng
ngừa rủi ro và không phòng ngừa rủi ro cho từng biến độc lập.
Giả thuyết của kiểm định:
H0: µ1- µ2 = 0
H1: µ1 - µ2 ≠ 0
µ1, µ2 : là trung bình của tổng thể các công ty có phòng ngừa rủi ro và không
phòng ngừa rủi ro.
Mức ý nghĩa α = 5%
Ta sử dụng cách tiếp cận P value để quyết định chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết
H0.
Nếu P ≥ α: Chấp nhận H0, nghĩa là không sự khác biệt về giá trị trung bình giữa
các công ty có phòng ngừa rủi ro và không phòng ngừa rủi ro tại biến nghiên cứu.
Nếu P < α: Bác bỏ H0, nghĩa là có sự khác biệt về giá trị trung bình giữa các
công ty có phòng ngừa rủi ro và không phòng ngừa rủi ro tại biến nghiên cứu.
2.2.3
Hồi quy logit
2.2.3.1 Kiểm định sự tự tương quan
Trước khi đưa các biến vào mô hình hồi quy để phân tích ta cần xem xét
mức độ tương quan giữa các biến để tránh trường hợp có đa cộng tuyến xảy ra,
với những cặp có hệ số tương quan > 0.8 thì sẽ có hiện tượng đa cộng tuyến
nếu đưa vào mô hình nghiên cứu.
25
Bảng 2.8 : Hệ số tương quan của các biến được đưa vào mô hình (1)
Covariance Analysis: Ordinary
Date: 02/07/15 Time: 22:26
Sample: 1 510
Included observations: 510
Correlation
TS
DA
ICR
SOI
LDA
LDE
CEA
IEA
IES
T
SEM
SOM DIV QR
LR
Probability
TA
TA
1
-----
1
TS
0.692574
0
-----
DA
0.073242
0.088991
1
0.0985
0.0446
-----
LDA
0.203817
0.040265
0.384084
1
0
0.3642
-----
0
1
LDE
0.114977
0.017039
0.471774
0.731134
0
0.0094
0.7011
0
-----
ICR
0.179567
0.424775
-0.0978
-0.042
-0.03041
1
0
0
0.0272
0.3439
0.4932
-----
SOI
-0.00943
-0.00328
-0.02395
-0.02262
-0.01834
-0.00238
1
0.8318
0.9411
0.5895
0.6103
0.6794
0.9573
-----
CEA
0.044095
0.149571
-0.27978
-0.23617
-0.21188
0.047995
0.000853
1
0
0
-----
0.3203
0.0007
0
0.2793
0.9847
26
Bảng 2.9 : Hệ số tương quan của các biến được đưa vào mô hình (2)
Covariance Analysis: Ordinary
Date: 02/07/15 Time: 22:26
Sample: 1 510
Included observations: 510
Correlation
Probability
IEA
TA
TS
DA
LDA
LDE
ICR
SOI
CEA
IES
T
SEM
SOM
DIV
QR
LR
1
IEA
0.041513
0.04842
-0.02671 0.243407
0.14676 0.031731
-0.02128 0.000123
0.3495
0.2751
0.5472
0.0009
0.4746
0.6316
0.9978
-----
0
1
IES
0.101886
-0.01704
-0.00381 0.257711 0.175516
-0.00409
-0.01404
-0.04858 0.559066
0.0214
0.701
0.9315
0.0001
0.9266
0.7518
0.2735
0
-----
0
1
T
-0.06074
-0.13897 0.057026 0.081692 0.163862
-0.03532
-0.02336
-0.2441
-0.10657
0.03084
0.1708
0.0017
0.1985
0.0653
0.0002
0.426
0.5986
0
0.0161
0.4871
-----
1
SEM
0.748287 0.341048 0.026028 0.138347 0.067762
-0.00536
-0.00929
-0.0254 0.021809 0.059281
-0.01887
0
0
0.5576
0.0017
0.1264
0.9039
0.8342
0.5672
0.6232
0.1813
0.6707
-----
1
SOM
0.02085
-0.03584 0.002918
-0.00941
-0.0104
-0.05048
-0.04008
-0.12609
-0.0592
-0.07124 0.020867 0.283131
0.6385
0.4193
0.9476
0.8321
0.8148
0.2552
0.3664
0.0043
0.182
0.1081
0.6382
0
-----
1
DIV
-0.05583 0.054599
-0.02995
-0.08986
-0.09282 0.044111
-0.02769 0.234024 0.074609
-0.05573
-0.31384
-0.07848
-0.07152
0.2081
0.2184
0.4997
0.0425
0.0361
0.3201
0.5326
0.0924
0.209
0
0.0766
0.1067
-----
0
QR
-0.02168
-0.03973
-0.48227 0.009499
-0.07145 0.058687
-0.0196 0.382664 0.004707
-0.00514
-0.12407
-0.03373
-0.07916 0.06289
1
0.6252
0.3706
0.8306
0.107
0.1858
0.6588
0.9156
0.9079
0.005
0.4473
0.0741
0.1561
-----
0
0
LR
-0.02245
-0.06865
-0.49515 0.050572
-0.06253 0.054306 0.003238
0.295
-0.056
-0.04103
-0.10168 0.009525 0.016032 0.05022 0.87989
1
0.613
0.1215
0.2543
0.1585
0.2208
0.9419
0.2068
0.3552
0.0216
0.8301
0.718
0.2576
0
-----
0
0
27
Kết quả sau khi phân tích tương quan (Correlation Analysic) ở bảng 2.8 và
2.9 cho ta thấy tất cả hệ số tương quan của các cặp đều < 0.8 vì vậy không có hiện
tượng đa cộng tuyến xảy ra.
2.2.3.2 Mô hình hồi quy logit
Hồi qui logit là một kỹ thuật phân tích hồi qui trong đó biến số phụ thuộc (Y) là
một biến số nhị phân (dichotomous – binary variable), theo đó Y được mã hoá là 1
và 0 (Y = 1, thành công; Y = 0, thất bại). Biến số độc lập trong hồi qui logit có thể
là biến số rời hoặc liên tục, biến số đơn biến hoặc đa biến.
Mô hình hồi quy logit có dạng như sau:
𝐏𝐢 =
𝟏 𝟏 + 𝐞−𝐙𝐢
28
Zi = β0+ β1X1+ β2X2+ β3X3+… βiXi + εi
Với: Pi là xác suất để biến Y nhận giá trị là 1
X1,…,Xi là các biến số độc lập
β0,…,βi là các hệ số hồi quy
εi là sai số giữa ước lượng và thực tế (sai số trong việc bỏ sót biến giải thích
hay sai số trong đo lường)
Giả thuyết của kiểm định:
H0: β1=β2=β3=β4=β5=β6=0
H1: β1≠β2≠β3≠β4≠β5≠β6≠ 0
Mức ý nghĩa α = 5%
Kết quả tính toán kiểm định được dựa trên phần mềm Eviews. Sau khi chạy dữ
liệu thu được các hệ số của mô hình cùng với giá trị kiểm định P- value tương ứng:
Nếu P ≥ α: Chấp nhận H0, nghĩa là biến độc lập không có ý nghĩa thống kê và
không có tác động đến biến phụ thuộc.
Nếu P < α: Bác bỏ H0, nghĩa là biến độc lập có ý nghĩa thống kê và có tác động
đến biến phụ thuộc.
Đối với mô hình hồi quy logit thì các giá trị 0 và 1 luôn là giá tri tiệm cận và vì
vậy xác suất được ước lượng sẽ không bao giờ đạt được mức tuyệt đối là 0 hay 1,
mặc dù các giá trị ước lượng này có thể là rất gần tiệm cận.
Trong mô hình logit chúng ta không nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của các
biến độc lập đối Xi đối với Y mà xem xét ảnh hưởng của các biến độc lập Xi đến
xác suất Y nhận giá trị là 1.
Hồi quy logit đa biến được ước lượng trong bài nghiên cứu để phân biệt những
giải thích khả thi cho quyết định phòng ngừa rủi ro. Các biến kiểm tra trong phân
tích đa biến dựa trên các yếu tố cơ bản trong các tài liệu nghiên cứu tôi đã trình bày
trong phần trước là cơ sở lý luận quan trọng cho quyết định phòng ngừa rủi ro của
công ty. Trong mô hình logit của tôi, tôi đã kiểm định xem quyết định ngừa rủi ro
có phải là hàm số của 6 yếu tố - đại diện cho chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại
diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế và yếu tố thay thế cho phòng ngừa rủi ro.
Bởi vì nhiều yếu tố đại diện để đo lường đặc điểm công ty, tôi đã ước lượng hồi quy
logit riêng biệt, sử dụng tất cả các kết hợp có thể của các biến đại diện cho mỗi cấu
trúc của hàm số phòng ngừa rủi ro dự đoán.
Năm yếu tố đầu tiên được kỳ vọng có tác động dương lên quyết định phòng
ngừa rủi ro của công ty. Đó là các yếu tố liên quan đến chi phí kiệt quệ tài chính,
chi phí đại diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế và các lợi ích của nhà quản lý,
nếu công ty nhận được các lợi ích từ hoạt động quản lý rủi ro có giá trị càng cao thì
khả năng công ty sẽ tham gia vào các hoạt động phòng ngừa rủi ro càng lớn.
Yếu tố thứ 6 là biến đại diện cho các chính sách tài chính thay thế cho quyết
định phòng ngừa rủi ro, kỳ vọng dự kiến sẽ tương quan âm với quyết định phòng
ngừa rủi ro của công ty. Vì khi theo đuổi các chính sách này thì công ty sẽ hạn chế
hoặc không muốn chi trả các khoản chi phí để tổ chức thực hiện hoạt động phòng
ngừa rủi ro.
Biến phụ thuộc được chuẩn hoá là 1 nếu công ty phòng ngừa rủi ro và 0 nếu
ngược lại. Mối tương quan giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và các yếu tố tiềm
năng của nó có thể được thể hiện trong hàm số sau:
29
Y = f (FC, AC, CEF, T, MU, HS)
Trong đó:
30
Y
: Biến nhị phân nhận giá trị là 1 nếu công ty có phòng ngừa rủi ro và 0
nếu công ty không phòng ngừa rủi ro.
FC
: Đại diện cho quy mô và xác suất kiệt quệ tài chính.
AC
: Chi phí đại diện của nợ.
CEF : Biến đại diện cho chi phí tài trợ bên ngoài.
T
: Biến nhị phân bằng 1 nếu công ty được giảm thuế do kết chuyển lỗ từ
các năm trước mang sang năm kiểm định và bằng 0 nếu công ty không có giảm thuế
do kết chuyển lỗ từ các năm trước mang sang năm kiểm định.
MU
: Biến đại diện cho lợi ích nhà quản lý.
HS
: Biến đại diện cho các chính sách tài chính thay thế cho quyết định
phòng ngừa rủi ro.
Mỗi biến độc lập trong hàm số trên được đo lường bởi hai hay nhiều biến đại
diện, vì vậy ngoài các mô hình được trình bày, tôi thiết lập và chạy mô hình với các
biến đại diện đa dạng hữu hiệu cho việc đo lường các đặc điểm của công ty, tôi đã
ước lượng các hồi quy logit riêng biệt cho từng biến độc lập và sử dụng tất cả các
kết hợp có thể của các biến đại diện cho mỗi cấu trúc dự đoán, nhằm đưa ra lời giải
thích phù hợp cho quyết định phòng ngừa rủi ro trong các công ty.
31
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
3.1 Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro
trong năm tài chính 2011
3.1.1 Kiểm định đơn biến
Kết quả kiểm định đơn biến đã chỉ ra rằng: tổng tài sản và tổng doanh thu đại
diện cho quy mô công ty, tỷ lệ nợ dài hạn chia cho tổng tài sản và tỷ lệ nợ dài hạn
chia cho vốn chủ sở hữu đại diện cho đòn bẩy tài chính, vốn chủ sở hữu công ty
thuộc sở hữu nhà quản lý đại diện cho lợi ích nhà quản lý có khả năng giải thích cho
quyết định phòng ngừa rủi ro tại các công ty phi tài chính Việt Nam, được thể hiện
ở các bảng 3.1, 3.2, 3.3, 3.4, 3.5.
Ta thấy giá trị trung bình tổng tài sản của các công ty phòng ngừa rủi ro cao
hơn các công ty không phòng ngừa rủi ro, ta có thế thấy ở bảng 3.1 và với P =
0.0003 < 5% ta bác bỏ giả thuyết H0 hay với mức ý nghĩa 5% Value = -3.650735
nằm ngoài khoảng ±1,96 ta cũng bác bỏ bác bỏ giả thuyết H0, như vậy ta có thể kết
luận tổng tài sản ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro. Tương tự ở bảng 3.2
với P = 0.0001 < 5%, cho ta thấy giá trị trung bình tổng doanh thu của các công ty
phòng ngừa rủi ro cao hơn các công ty không phòng ngừa rủi ro, như vậy tổng
doanh thu ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro, cụ thế hơn là các công ty có
tổng tài sản lớn, tổng doanh thu cao hay công ty có quy mô lớn càng quyết định
phòng ngừa rủi ro.
Biến đại diện cho đòn bẩy tài chính là LDA, LDE điều cho thấy sự khác nhau
về mặt thống kê giữa các công ty có phòng ngừa rủi ro và công ty không phòng
ngừa rủi ro, các công ty có đòn bẩy tài chính càng lớn thì càng thực hiện phòng
ngừa rủi ro (bảng 3.3 và bảng 3.4).
Kiểm định thống kê đối với giả thuyết lợi ích của nhà quản lý cho ta thấy vốn
chủ sở hữu của nhà quản lý càng cao thì các nhà quản lý càng thực hiện phòng ngừa
rủi ro, với P = 0.0278 và giá trị trung bình của các công ty có phòng ngừa rủi ro là
90.55344 lớn hơn giá trị trung bình của các công ty không phòng ngừa rủi ro
36.73050 (bảng 3.5).
Các kết quả khác của các kiểm định đơn biến cho thấy không có sự khác biệt về
mặt thống kê giữa các công ty có phòng ngừa rủi ro và công ty không phòng ngừa
rủi ro đối với chi phí đại diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, ưu đãi về thuế.
Ngoài ra, chúng ta nên loại bỏ giả thuyết liên quan đến chính sách tài chính thay thế
cho các chiến lược quản lý rủi ro, phát hiện của tôi đã chỉ ra rằng các yếu tố này
không có ý nghĩa thóng kê, hay tôi có thể giải thích thanh khoản không phải là một
thay thế cho phòng ngừa rủi ro, mà là một thước đo về sự sẵn có của các quỹ nội bộ
trong công ty.
32
Bảng 3.1: T-test của biến độc TA năm 2011
33
Test for Equality of Means of TA
Categorized by values of Y
Date: 02/04/15 Time: 21:15
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -3.650735 0.0003
Satterthwaite-Welch t-test* 295.0214 -3.372037 0.0008
Anova F-test (1, 508) 13.32786 0.0003
Welch F-test* (1, 295.021) 11.37063 0.0008
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 2.22E+08 2.22E+08
508 Within 8.48E+09 16691540
509 Total 8.70E+09 17095805
Category Statistics
Std. Err.
Y of Mean Count Mean Std. Dev.
0 200.2304 329 951.1760 3631.851
1 357.0250 181 2331.485 4803.280
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 183.0879 510 1441.050 4134.707
Bảng 3.2 : T-test của biến độc TS năm 2011
34
Test for Equality of Means of TS
Categorized by values of Y
Date: 02/04/15 Time: 21:15
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -3.948960 0.0001
Satterthwaite-Welch t-test* 270.7521 -3.533475 0.0005
Anova F-test (1, 508) 15.59428 0.0001
Welch F-test* (1, 270.752) 12.48545 0.0005
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 96544328 96544328
508 Within 3.15E+09 6191008.
509 Total 3.24E+09 6368519.
Category Statistics
Std. Err.
Y of Mean Count Mean Std. Dev.
0 329 114.4895 768.5966 2076.651
1 181 230.4704 1677.905 3100.662
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 111.7466 1091.312 2523.593
Bảng 3.3 : T-test của biến độc LDA năm 2011
35
Test for Equality of Means of LDA
Categorized by values of Y
Date: 02/04/15 Time: 21:19
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -1.970432 0.0493
Satterthwaite-Welch t-test* 352.4998 -1.936459 0.0536
Anova F-test (1, 508) 3.882602 0.0493
Welch F-test* (1, 352.5) 3.749875 0.0536
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 0.060925 0.060925
508 Within 7.971395 0.015692
509 Total 8.032320 0.015781
Category Statistics
Std. Err.
Y Count Mean Std. Dev. of Mean
0 329 0.084325 0.122535 0.006756
1 181 0.107168 0.130096 0.009670
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 0.092432 0.125621 0.005563
Bảng 3.4 : T-test của biến độc LDE năm 2011
36
Test for Equality of Means of LDE
Categorized by values of Y
Date: 02/04/15 Time: 21:18
Sample: 1 510
Included observations: 510
Method df Value Probability
t-test 508 -2.035959 0.0423
Satterthwaite-Welch t-test* 268.8862 -1.816953 0.0703
Anova F-test (1, 508) 4.145129 0.0423
Welch F-test* (1, 268.886) 3.301320 0.0703
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
Source of Variation df Sum of Sq. Mean Sq.
Between 1 2.914930 2.914930
Within 508 357.2348 0.703218
Total 509 360.1497 0.707563
Category Statistics
Std. Err.
Y Count Mean Std. Dev. of Mean
0 329 0.343094 0.695834 0.038363
1 181 0.501096 1.049926 0.078040
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 0.399169 0.841168 0.037248
Bảng 3.5 : T-test của biến độc SEM năm 2011
37
Test for Equality of Means of SEM
Categorized by values of Y
Date: 02/04/15 Time: 21:17
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -2.206228 0.0278
Satterthwaite-Welch t-test* 320.0295 -2.097340 0.0367
Anova F-test (1, 508) 4.867444 0.0278
Welch F-test* (1, 320.029) 4.398837 0.0367
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 338251.0 338251.0
508 Within 35302213 69492.54
509 Total 35640464 70020.56
Category Statistics
Std. Err.
Y of Mean Count Mean Std. Dev.
0 329 13.55740 36.73050 245.9089
1 181 21.78898 90.55344 293.1407
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 11.71730 55.83237 264.6140
3.1.2 Kiểm định đa biến
Để kiểm tra lại mức độ chính xác về sự ảnh hưởng của các yếu tố đã được trình
bày thông qua kiểm định t-test, tôi tiến hành kiểm định đa biến bằng phương pháp
hồi quy logit, kết quả phân tích đa biến cho ta thấy các biến đại diện cho chi phí đại
diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế và yếu tố thay thế cho phòng ngừa rủi ro
không có khả năng giải thích cho quyết định phòng ngừa rủi ro của các công ty Việt
Nam trừ chi phí kiệt quệ tài chính được đại diện bởi quy mô công ty (tổng tài sản,
tổng doanh thu) và đòn bẩy tài chính (tỷ lệ nợ dài hạn chia cho vốn chủ sở hữu).
Sau đâu là các bảng hồi quy logit đưa ra bằng chứng thực nghiệm về kết quả nghiên
cứu.
38
Bảng 3.6 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TA,
SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2011
39
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 02/04/15 Time: 21:35
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 7 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Prob. Variable Coefficient Std. Error z-Statistic
0.0076 TA 0.000117 4.39E-05 2.667830
0.7653 SOI -8.00E-05 0.000268 -0.298479
0.8101 CEA -0.288599 1.200707 -0.240358
0.6891 T -0.100294 0.250702 -0.400054
0.9540 SEM 4.17E-05 0.000722 0.057712
0.1641 DIV 0.005400 0.003881 1.391510
0.0000 C -0.803429 0.167894 -4.785329
McFadden R-
0.354902 squared 0.027562 Mean dependent var
0.469491 S.D. dependent var 0.478953 S.E. of regression
110.8724 Akaike info criterion 1.292453 Sum squared resid
-322.5755 Schwarz criterion 1.350572 Log likelihood
Hannan-Quinn
645.1511 criter. 1.315240 Deviance
-331.7185 Restr. deviance 663.4370 Restr. log likelihood
-0.632501 LR statistic 18.28595 Avg. log likelihood
Prob(LR statistic) 0.005556
510 Obs with Dep=0 329 Total obs
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
Obs with Dep=1 181
Bảng 3.7 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TS,
SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2011
40
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 02/04/15 Time: 21:37
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 6 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
TS 0.000145 5.10E-05 2.838927 0.0045
SOI -7.71E-05 0.000241 -0.320475 0.7486
CEA -0.557151 1.220194 -0.456608 0.6480
T -0.054193 0.251346 -0.215611 0.8293
SEM 0.000579 0.000539 1.074485 0.2826
DIV 0.004641 0.003888 1.193661 0.2326
C -0.807255 0.167604 -4.816450 0.0000
McFadden R-squared 0.029092 Mean dependent var 0.354902
S.D. dependent var 0.478953 S.E. of regression 0.470229
Akaike info criterion 1.290463 Sum squared resid 111.2212
Schwarz criterion 1.348583 Log likelihood -322.0681
Hannan-Quinn criter. 1.313250 Deviance 644.1363
Restr. deviance 663.4370 Restr. log likelihood -331.7185
LR statistic 19.30073 Avg. log likelihood -0.631506
Prob(LR statistic) 0.003685
Obs with Dep=0 329 Total obs 510
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
Obs with Dep=1 181
Bảng 3.8 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập LDA,
SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2011
41
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 02/04/15 Time: 21:38
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 6 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
LDA 1.414968 0.755768 1.872226 0.0612
SOI -7.25E-05 0.000217 -0.334002 0.7384
CEA 0.538758 1.206038 0.446718 0.6551
T -0.157721 0.249941 -0.631033 0.5280
SEM 0.000986 0.000607 1.625540 0.1040
DIV 0.004963 0.003864 1.284474 0.1990
C -0.866699 0.185792 -4.664878 0.0000
McFadden R-squared 0.018352 Mean dependent var 0.354902
S.D. dependent var 0.478953 S.E. of regression 0.474692
Akaike info criterion 1.304435 Sum squared resid 113.3424
Schwarz criterion 1.362554 Log likelihood -325.6308
Hannan-Quinn criter. 1.327221 Deviance 651.2616
Restr. deviance 663.4370 Restr. log likelihood -331.7185
LR statistic 12.17541 Avg. log likelihood -0.638492
Prob(LR statistic) 0.058168
Obs with Dep=0 329 Total obs 510
Obs with Dep=1 181
Nam
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Bảng 3.9 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập LDE,
SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2011
42
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 02/04/15 Time: 21:39
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 6 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
0.112722 2.113753 0.238266 LDE 0.0345
0.000207 -0.343561 -7.11E-05 SOI 0.7312
1.197174 0.434740 0.520459 CEA 0.6638
0.251729 -0.764217 -0.192376 T 0.4447
0.000618 1.725607 0.001067 SEM 0.0844
0.003867 1.289049 0.004985 DIV 0.1974
0.173328 -4.767939 -0.826419 C 0.0000
McFadden R-squared 0.020011 Mean dependent var 0.354902
S.D. dependent var 0.478953 S.E. of regression 0.473816
Akaike info criterion 1.302276 Sum squared resid 112.9245
Schwarz criterion 1.360396 Log likelihood -325.0804
Hannan-Quinn criter. 1.325063 Deviance 650.1608
Restr. deviance 663.4370 Restr. log likelihood -331.7185
LR statistic 13.27617 Avg. log likelihood -0.637413
Prob(LR statistic) 0.038854
Obs with Dep=0 329 Total obs 510
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2011 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
Obs with Dep=1 181
43
3.2 Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro
trong năm tài chính 2012
3.2.1 Kiểm định đơn biến
Kết quả kiểm định đơn biến cho năm 2012 đã chỉ ra rằng: Tổng tài sản và tổng
doanh thu đại diện cho quy mô công ty, tỷ lệ nợ dài hạn chia cho tổng tài sản đại
diện cho đòn bẩy tài chính, thuế, vốn chủ sở hữu công ty thuộc sở hữu nhà quản lý
đại diện cho lợi ích nhà quản lý có khả năng giải thích cho quyết định phòng ngừa
rủi ro. Ta thấy sang năm 2012 thì biến thuế kết chuyển lại có ảnh hưởng đến quyết
định hòng ngừa rủi ro, trong khi đó trong năm 2011, biến này hoàn toàn không có ý
nghĩa thống kê ở cả kiểm định đơn biến và đa biến. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng
thống kê giá trị trung bình rằng các công ty không được giảm thuế do kết chuyển lỗ
từ 2011 sang 2012 là 0.233227 cao hơn các công ty được giảm thuế do kết chuyển
lỗ 0.157360, vậy kết quả cho mối tương quan âm giữa quyết định phòng ngừa rủi ro
và thuế kết chuyển, hoàn tàn trái ngược với giả thuyết kiểm định ban đầu (bảng
3.13)
Bảng 3.10 : T-test của biến độc TA năm 2012
44
Test for Equality of Means of TA
Categorized by values of Y
Date: 02/03/15 Time: 21:51
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -3.151622 0.0017
Satterthwaite-Welch t-test* 375.2087 -3.056733 0.0024
Anova F-test (1, 508) 9.932723 0.0017
Welch F-test* (1, 375.209) 9.343616 0.0024
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 2.03E+08 2.03E+08
508 Within 1.04E+10 20391756
509 Total 1.06E+10 20749622
Category Statistics
Std. Err.
Y Count of Mean Mean Std. Dev.
0 313 241.2370 1060.826 4267.919
1 197 347.9934 2355.145 4884.321
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 201.7066 1560.788 4555.175
Bảng 3.11 : T-test của biến độc TS năm 2012
45
Test for Equality of Means of TS
Categorized by values of Y
Date: 02/03/15 Time: 21:52
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -3.265760 0.0012
Satterthwaite-Welch t-test* 328.8009 -3.052415 0.0025
Anova F-test (1, 508) 10.66519 0.0012
Welch F-test* (1, 328.801) 9.317235 0.0025
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 79070277 79070277
508 Within 3.77E+09 7413868.
509 Total 3.85E+09 7554647.
Category Statistics
Std. Err.
Y of Mean Count Mean Std. Dev.
0 313 133.7348 873.7377 2366.011
1 197 228.7066 1682.436 3210.050
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 121.7088 1186.117 2748.572
Bảng 3.12 : T-test của biến độc LDA năm 2012
46
Test for Equality of Means of LDA
Categorized by values of Y
Date: 02/03/15 Time: 21:53
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -1.956537 0.0509
Satterthwaite-Welch t-test* 385.2862 -1.911994 0.0566
Anova F-test (1, 508) 3.828039 0.0509
Welch F-test* (1, 385.286) 3.655722 0.0566
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 0.069654 0.069654
508 Within 9.243433 0.018196
509 Total 9.313087 0.018297
Category Statistics
Std. Err.
Y Count of Mean Mean Std. Dev.
0 313 0.007314 0.090524 0.129397
1 197 0.010203 0.114526 0.143203
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 0.005990 0.099795 0.135266
Bảng 3.13 : T-test của biến độc T năm 2012
47
Test for Equality of Means of T
Categorized by values of Y
Date: 02/03/15 Time: 21:58
Sample: 1 510
Included observations: 510
Value Probability df Method
2.075105 0.0385 508 t-test
Satterthwaite-Welch t-test* 460.9518 2.146084 0.0324
Anova F-test (1, 508) 4.306059 0.0385
Welch F-test* (1, 460.952) 4.605675 0.0324
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 0.695889 0.695889
508 Within 82.09627 0.161607
509 Total 82.79216 0.162656
Category Statistics
Std. Err.
Mean Y Count Std. Dev. of Mean
0.233227 0 313 0.423563 0.023941
0.157360 1 197 0.365068 0.026010
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
0.203922 All 510 0.403307 0.017859
Bảng 3.14: T-test của biến độc SEM năm 2012
48
Test for Equality of Means of SEM
Categorized by values of Y
Date: 02/03/15 Time: 21:58
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -2.184572 0.0294
Satterthwaite-Welch t-test* 400.9830 -2.159668 0.0314
Anova F-test (1, 508) 4.772355 0.0294
Welch F-test* (1, 400.983) 4.664164 0.0314
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 412130.0 412130.0
508 Within 43869759 86357.79
509 Total 44281889 86997.82
Category Statistics
Std. Err.
Y of Mean Count Mean Std. Dev.
0 313 16.28093 38.12507 288.0390
1 197 21.58165 96.50948 302.9128
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 13.06078 60.67748 294.9539
3.2.2 Kiểm định đa biến
Kết quả thực nghiệm đa biến cho ta thấy chỉ có tổng tài sản và tổng doanh thu
đại diện cho quy mô công ty, tỷ lệ nợ dài hạn chia cho tổng tài sản đại diện cho đòn
bẩy tài chính có ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro, thuế và lợi ích nhà
quản lý đã không có ý nghĩa thống kê khi tiến hành phân tích đa biến (bảng 3.15,
3.16 và 3.17) . Như vậy ta có thể loại bỏ hoàn toàn giả thuyết liên quan đến chi phí
đại diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế, bất cân xứng thông tin, lợi ích của
nhà quản lý và các chính sách tài chính thay thế cho phòng ngừa rủi ro.
Bằng chứng thự nghiệm cho cả hai năm 2011 và 2012 đã cho chúng ta một kết
luận chi phí kiệt quệ tài chính ảnh hưởng đồng biến đến quyết định phòng ngừa rủi
ro tại các công ty Việt Nam.
49
Bảng 3.15 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TA,
SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2012
50
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 02/03/15 Time: 22:16
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 6 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
TA 7.91E-05 3.74E-05 2.113540 0.0346
SOI -7.66E-05 0.000275 -0.278632 0.7805
CEA 0.498553 1.070997 0.465504 0.6416
T -0.334655 0.254860 -1.313094 0.1892
SEM 0.000440 0.000707 0.622892 0.5334
DIV 0.004767 0.003578 1.332293 0.1828
C -0.655281 0.161660 -4.053453 0.0001
McFadden R-squared 0.027322 Mean dependent var 0.386275
S.D. dependent var 0.487373 S.E. of regression 0.477099
Akaike info criterion 1.325105 Sum squared resid 114.4947
Schwarz criterion 1.383224 Log likelihood -330.9017
Hannan-Quinn criter. 1.347892 Deviance 661.8035
Restr. deviance 680.3935 Restr. log likelihood -340.1967
LR statistic 18.58998 Avg. log likelihood -0.648827
Prob(LR statistic) 0.004915
Obs with Dep=0 313 Total obs 510
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
Obs with Dep=1 197
Bảng 3.16 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TS,
SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2012
51
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 02/03/15 Time: 22:20
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 6 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
8.79E-05 4.25E-05 2.067146 TS 0.0387
SOI -7.36E-05 0.000243 -0.302748 0.7621
CEA 0.358400 1.079612 0.331971 0.7399
T -0.306210 0.255444 -1.198734 0.2306
SEM 0.000781 0.000591 1.319884 0.1869
DIV 0.004186 0.003578 1.170121 0.2420
C -0.647058 0.160626 -4.028356 0.0001
McFadden R-squared 0.026759 Mean dependent var 0.386275
S.D. dependent var 0.487373 S.E. of regression 0.478871
Akaike info criterion 1.325856 Sum squared resid 115.3464
Schwarz criterion 1.383975 Log likelihood -331.0933
Hannan-Quinn criter. 1.348643 Deviance 662.1865
Restr. deviance 680.3935 Restr. log likelihood -340.1967
LR statistic 18.20695 Avg. log likelihood -0.649202
Prob(LR statistic) 0.005735
Obs with Dep=0 313 Total obs 510
Obs with Dep=1 197
Nam
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt
Bảng 3.17 : Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập LDA,
SOI, CEA, T, SEM, DIV năm 2012
52
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 02/03/15 Time: 22:21
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 7 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
LDA 1.494328 0.701492 2.130213 0.0332
SOI -7.13E-05 0.000236 -0.302726 0.7621
CEA 1.213442 1.093265 1.109925 0.2670
T -0.378143 0.255620 -1.479315 0.1391
SEM 0.001081 0.000639 1.693042 0.0904
DIV 0.004628 0.003580 1.292619 0.1961
C -0.771709 0.182299 -4.233209 0.0000
McFadden R-squared 0.025931 Mean dependent var 0.386275
S.D. dependent var 0.487373 S.E. of regression 0.479272
Akaike info criterion 1.326961 Sum squared resid 115.5397
Schwarz criterion 1.385080 Log likelihood -331.3749
Hannan-Quinn criter. 1.349747 Deviance 662.7499
Restr. deviance 680.3935 Restr. log likelihood -340.1967
LR statistic 17.64359 Avg. log likelihood -0.649755
Prob(LR statistic) 0.007187
Obs with Dep=0 313 Total obs 510
Obs with Dep=1 197
Nam
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2012 của các công ty phi tài chính tại Việt
53
3.3 Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro
trong năm tài chính 2013
3.3.1 Kiểm định đơn biến
Kết quả kiểm định thực nghiệm so sánh bình quân cho những công ty phòng
ngừa và không phòng ngừa rủi ro ở Việt Nam trong năm 2013, tôi thấy những công
ty có phòng ngừa rủi ro có giá trị trung bình khác với công ty không phòng ngừa rủi
ro liên quan đến biến đại diện cho quy mô công ty và biến tỷ lệ chi trả cổ tức.
Những công ty phòng ngừa rủi ro có quy mô lớn hơn, cho ta thấy một mối tương
quan dương giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và biến giải thích này, theo đó các
công ty có quy mô càng lớn thì lại càng phòng ngừa rủi ro (xem bảng 3.18, bảng
3.19). Vì vậy giả định của tôi liên quan đến quy mô công ty được chấp nhận trong
trường hợp của các công ty ở Việt Nam.
Tỷ lệ chi trả cổ tức của các công ty có phòng ngừa rủi ro cao hơn các công ty
không phòng ngừa, như vậy các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao càng có nhu
cầu thực hiện phòng ngừa rủi ro, điều này hoàn toàn trái với dự đoán của tôi cũng
như phát hiện của những nghiên cứu được trích dẫn, kết quả cho thấy một mối
tương quan dương giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và tỷ lệ chi trả cổ tức, theo đó
các công ty chi trả cổ tức cao khi công ty chưa từng bị thiếu hụt thanh khoản thì lại
càng phòng ngừa rủi ro (xem bảng 3.20).
Dưới đây là các bảng kết quả kiểm định t-test cho từng biến độc lập đại diện
cho chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế,
bất cân xứng thông tin, lợi ích của nhà quản lý và các yếu tố thay thế cho phòng
ngừa rủi ro:
Bảng 3.18: T-test của biến độc lập TA năm 2013
54
Test for Equality of Means of TA
Categorized by values of Y
Date: 10/01/14 Time: 20:47
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Method Value Probability
508 t-test -1.984612 0.0477
Satterthwaite-Welch t-
test* 446.8753 -1.966162 0.0499
Anova F-test (1, 508) 3.938685 0.0477
Welch F-test* (1, 446.875) 3.865794 0.0499
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Source of Variation Sum of Sq. Mean Sq.
1 Between 98196902 98196902
508 Within 1.27E+10 24931391
509 Total 1.28E+10 25075331
Category Statistics
Std. Err.
Y Count Mean Std. Dev. of Mean
0 294 1320.911 4861.386 283.5218
1 216 2208.953 5167.275 351.5885
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 1697.022 5007.527 221.7370
Bảng 3.19: T-test của biến độc lập TS năm 2013
55
Test for Equality of Means of TS
Categorized by values of Y
Date: 10/01/14 Time: 20:47
Sample: 1 510
Included observations: 510
Method df Value Probability
t-test 508 -2.454207 0.0145
Satterthwaite-Welch t-
test* 373.1771 -2.340893 0.0198
Anova F-test (1, 508) 6.023132 0.0145
Welch F-test* (1, 373.177) 5.479778 0.0198
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
Source of Variation df Sum of Sq. Mean Sq.
Between 1 54331047 54331047
Within 508 4.58E+09 9020397.
Total 509 4.64E+09 9109416.
Category Statistics
Std. Err.
Y Count Mean Std. Dev. of Mean
0 294 1009.166 2559.324 149.2628
1 216 1669.721 3519.494 239.4712
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 1288.930 3018.181 133.6473
Bảng 3.20: T-test của biến độc DIV năm 2013
56
Test for Equality of Means of DIV
Categorized by values of Y
Date: 10/01/14 Time: 20:38
Sample: 1 510
Included observations: 510
df Value Method Probability
508 -2.584212 t-test 0.0100
Satterthwaite-Welch t-
433.1340 -2.541553 test* 0.0114
(1, 508) 6.678152 Anova F-test 0.0100
(1, 433.134) 6.459491 Welch F-test* 0.0114
*Test allows for unequal cell variances
Analysis of Variance
df Sum of Sq. Source of Variation Mean Sq.
1 5567.732 Between 5567.732
508 423531.5 Within 833.7235
509 429099.3 Total 843.0241
Category Statistics
Std. Err.
Y Count Mean Std. Dev. of Mean
0 294 16.10811 27.49142 1.603332
1 216 22.79499 30.65855 2.086050
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
All 510 18.94020 29.03488 1.285686
Theo kết quả kiểm định so sánh bình quân cho những công ty phòng ngừa và
không phòng ngừa rủi ro ở Việt Nam trong năm 2013, tôi thấy những công ty có
phòng ngừa rủi ro có giá trị trung bình khác với công ty không phòng ngừa rủi ro
liên quan đến biến đại diện cho quy mô công ty và biến tỷ lệ chi trả cổ tức. Những
công ty phòng ngừa rủi ro có quy mô lớn hơn, cho ta thấy một mối tương quan
dương giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và biến giải thích này, theo đó các công ty
có quy mô càng lớn thì lại càng phòng ngừa rủi ro (xem bảng 3.18, bảng 3.19). Vì
vậy giả định của tôi liên quan đến quy mô công ty được chấp nhận trong trường hợp
của các công ty ở Việt Nam.
Tỷ lệ chi trả cổ tức của các công ty có phòng ngừa rủi ro cao hơn các công ty
không phòng ngừa, như vậy các công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao càng có nhu
cầu thực hiện phòng ngừa rủi ro, điều này hoàn toàn trái với dự đoán của tôi cũng
như phát hiện của những nghiên cứu được trích dẫn, kết quả cho thấy một mối
tương quan dương giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và tỷ lệ chi trả cổ tức, theo đó
các công ty chi trả cổ tức cao khi công ty chưa từng bị thiếu hụt thanh khoản thì lại
càng phòng ngừa rủi ro (xem bảng 3.20).
Nhưng kết quả kiểm định so sánh bình quân về tính thanh khoản được đại diện
bởi tỷ lệ thanh toán nhanh và tỷ lệ thanh toán hiện hành lại không có sự khác nhau
giữa các công ty có phòng ngừa rủi ro và không phòng ngừa rủi ro. Do đó giả định
của tôi liên quan đến yếu tố thay thế cho quản lý ro bị từ chối trong trường hợp của
các công ty Việt Nam. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng kết quả này không được
hổ trợ bởi việc phân tích mối tương quan, cho thấy không có bằng chứng đáng kể
giữa tỷ lệ chi trả cổ tức, tỷ lệ thanh toán nhanh và phòng ngừa rủi ro. Chúng ta nên
từ chối giả thuyết của liên quan đến chính sách tài chính thay thế cho các chiến lược
quản lý rủi ro. Phát hiện của tôi đưa ra những dấu hiệu ngược lại với những gì tôi đã
dự đoán, cho thấy rằng các công ty Việt Nam càng có tỷ lệ chi trả cổ tức cao thì lại
càng thực hiện phòng ngừa rủi ro, và tính thanh khoản lại không ảnh hưởng đến
quyết định phòng ngừa rủi ro. Theo nghiên cứu của Froot và cộng sự (1993) tác giả
cũng đã đưa ra kết luận về mối tương quan dương giữa thanh khoản và phòng ngừa
57
rủi ro, như vậy tôi có thể giải thích rằng vấn đề chi trả cổ tức cao hay khả năng
thanh khoản cao không phải là một sự thay thế cho phòng ngừa rủi ro mà là một
thước đo cho tính sẵn có của các quỹ nội bộ trong công ty. Có thể lập luận rằng mối
tương quan dương giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và tỷ lệ chi trả cổ tức không
phải là yếu tố cơ bản của việc thay thế sự phòng ngừa rủi ro.
Kết quả phân tích đơn biến đối với các biến độc lập còn lại cho thấy các công ty
phòng ngừa rủi ro có trung bình khác với các công ty không phòng ngừa rủi ro, tuy
nhiên kết quả kiểm định t-test trung bình lại chỉ ra rằng mức độ khác nhau này
không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Vì vậy kiểm định đơn biến đưa đến nhận
định rằng các công ty phòng ngừa rủi ro không có sự khác biệt về mặt thống kê so
với các công ty không phòng ngừa rủi ro về chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại
diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế và lợi ích của nhà quản lý. Vì vậy, chúng
ta nên từ chối các giả thuyết nghiên cứu liên quan đến tối đa hóa giá trị cổ đông
cũng như tối đa hóa lợi ích của nhà quản lý và yếu tố thay thế cho phòng ngừa rủi ro
trong trường hợp các công ty ở Việt Nam.
58
3.3.2 Kiểm định đa biến
Kết quả mô hình hồi quy đa biến đã tiết lộ rằng quyết định phòng ngừa rủi ro
trong năm 2013 của công ty Việt Nam có liên quan đến tổng tài sản, tổng doanh thu
và tỷ lệ chi trả cổ tức, hoàn toàn phù hợp với kết quả kiểm định t-test (bảng 3.21 và
bảng 3.23).
59
Bảng 3.21: Kết quả hồi quy đa biến Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TS,
SOI, IEA, T, SOM, DIV năm 2013
60
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 10/11/14 Time: 11:06
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 7 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
8.05E-05 3.53E-05 2.278490 0.0227 TS
-7.80E-05 0.000333 -0.234453 0.8146 SOI
1.074198 1.355753 0.792326 0.4282 IEA
0.293455 0.240085 1.222298 0.2216 T
0.007146 0.005706 1.252452 0.2104 SOM
0.008867 0.003301 2.686207 0.0072 DIV
-0.782753 0.177935 -4.399092 0.0000 C
McFadden R-
0.423529 squared 0.023640 Mean dependent var
0.489393 S.D. dependent var 0.494603 S.E. of regression
120.4713 Akaike info criterion 1.358045 Sum squared resid
-339.3015 Schwarz criterion 1.416164 Log likelihood
Hannan-Quinn
678.6029 criter. 1.380832 Deviance
-347.5169 Restr. deviance 695.0338 Restr. log likelihood
-0.665297 LR statistic 16.43083 Avg. log likelihood
Prob(LR statistic) 0.011619
294 Total obs 510 Obs with Dep=0
Obs with Dep=1 216
Nam
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt
Bảng 3.22: Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TA, SOI, IEA, T, SOM, DIV
năm 2013
61
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 10/11/14 Time: 10:51
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 7 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Prob. Variable Coefficient Std. Error z-Statistic
0.0517 TA 4.75E-05 2.44E-05 1.945231
0.8145 SOI -7.73E-05 0.000330 -0.234656
0.4219 IEA 1.088407 1.355096 0.803196
0.2779 T 0.258936 0.238658 1.084971
0.2415 SOM 0.006685 0.005708 1.171304
0.0041 DIV 0.009508 0.003313 2.869476
0.0000 C -0.757395 0.176890 -4.281721
McFadden R-
0.423529 squared 0.021978 Mean dependent var
0.489152 S.D. dependent var 0.494603 S.E. of regression
120.3527 Akaike info criterion 1.360311 Sum squared resid
-339.8793 Schwarz criterion 1.418430 Log likelihood
Hannan-Quinn
679.7586 criter. 1.383098 Deviance
-347.5169 Restr. deviance 695.0338 Restr. log likelihood
-0.666430 LR statistic 15.27513 Avg. log likelihood
Prob(LR statistic) 0.018221
294 Total obs 510 Obs with Dep=0
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
Obs with Dep=1 216
Bảng 3.23: Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TA, SOI, IES, T, SOM, DIV
năm 2013
62
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 10/11/14 Time: 16:48
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 6 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Variable Coefficient Std. Error z-Statistic Prob.
TA 4.93E-05 2.42E-05 2.035884 0.0418
SOI -7.65E-05 0.000307 -0.249156 0.8032
IES -0.527212 0.534154 -0.987004 0.3236
T 0.247198 0.237957 1.038835 0.2989
SOM 0.005962 0.005714 1.043451 0.2967
DIV 0.009456 0.003315 2.852098 0.0043
C -0.669245 0.170287 -3.930096 0.0001
McFadden R-squared 0.022642 Mean dependent var 0.423529
S.D. dependent var 0.494603 S.E. of regression 0.489220
Akaike info criterion 1.359406 Sum squared resid 120.3859
Schwarz criterion 1.417525 Log likelihood -339.6485
Hannan-Quinn criter. 1.382192 Deviance 679.2969
Restr. deviance 695.0338 Restr. log likelihood -347.5169
LR statistic 15.73685 Avg. log likelihood -0.665977
Prob(LR statistic) 0.015238
Obs with Dep=0 294 Total obs 510
Obs with Dep=1 216
Nam
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt
Bảng 3.24: Kết quả hồi quy đa biến với biến độc lập TS, SOI, IEA, T, SOM, QR
năm 2013
63
Dependent Variable: Y
Method: ML - Binary Logit (Quadratic hill climbing)
Date: 10/11/14 Time: 11:25
Sample: 1 510
Included observations: 510
Convergence achieved after 7 iterations
Covariance matrix computed using second derivatives
Prob. Variable Coefficient Std. Error z-Statistic
0.0251 TS 7.91E-05 3.53E-05 2.239105
0.7759 SOI -7.52E-05 0.000264 -0.284659
0.3784 IEA 1.189317 1.350277 0.880795
0.7576 T 0.070661 0.228937 0.308647
0.3113 SOM 0.005732 0.005661 1.012588
0.5068 QR -0.049907 0.075184 -0.663806
0.0074 C -0.491673 0.183444 -2.680233
McFadden R-
0.423529 squared 0.013786 Mean dependent var
0.492769 S.D. dependent var 0.494603 S.E. of regression
122.1391 Akaike info criterion 1.371475 Sum squared resid
-342.7261 Schwarz criterion 1.429594 Log likelihood
Hannan-Quinn
685.4522 criter. 1.394261 Deviance
-347.5169 Restr. deviance 695.0338 Restr. log likelihood
-0.672012 LR statistic 9.581601 Avg. log likelihood
Prob(LR statistic) 0.143414
294 Total obs 510 Obs with Dep=0
Nguồn: số liệu báo cáo tài chính năm 2013 của các công ty phi tài chính tại Việt
Nam
Obs with Dep=1 216
Trong giả định nghiên cứu, tôi cho rằng các công ty có quy mô lớn thì càng thực
hiện phòng ngừa rủi ro hơn, chúng ta cũng thấy trong thực tế các công ty luôn luôn
xem xét lợi ích kinh tế từ hoạt động quản lý rủi ro mang lại, do đó một trong những
yếu tố quan trọng trong các lý do quản trị rủi ro của công ty là gắn liền với chi phí
của việc thực hiện và quản lý các hoạt động quản trị rủi ro. Đối với nhiều công ty,
đặc biệt là các công ty nhỏ, chi phí biên của một chương trình phòng ngừa rủi ro có
thể vượt quá lợi ích biên. Từ sự thật này cho thấy có thể công ty phải chi trả một
khoản chi phí khá lớn liên quan đến điều hành một chương trình quản trị rủi ro của
công ty. Vì vậy nhiều công ty có thể không phòng ngừa rủi ro ở tất cả thậm chí ngay
cả khi họ đối diện với rủi ro về tài chính đơn giản chỉ vì nó không phải là một hoạt
động có giá trị kinh tế. Trên cơ sở kết quả thực nghiệm có thể được lập luận rằng
chỉ có các công ty lớn với rủi ro đủ lớn có thể sẽ được hưởng lợi từ một chương
trình phòng rủi ro chính thức. Để kiểm tra tính bền vững về vai trò của quy mô tác
động đồng biến đến quyết định phòng ngừa rủi ro, tôi thay thế biến tổng doanh thu
đại diện cho quy mô công ty bằng biến tổng tài sản, lại cho chúng ta kết quả rất
đáng ngạc nhiên là gần như tổng tài sản không có ảnh hưởng đến quyết định phòng
ngừa rủi ro với P = 0.0517 (bảng 3.22). Tuy nhiên vẫn mô hình trên nhưng khi tôi
và kết hợp với các biến đại diện khác cho chi phí đại diện của nợ, chi phí tài trợ bên
ngoài thì kết quả lại có ý nghĩa thống kê đối với tổng tài sản với P = 0.0418 (xem
bảng 3.23), như vậy tôi có thể kết luận rằng tổng tài sản có ảnh hưởng đến quyết
định phòng ngừa rủi ro, nhưng mức độ ảnh hưởng rất thấp. Kết quả thực nghiệm
của bào nghiên cứu đã phát hiện mối quan hệ đồng biến giữa quy mô công ty và
quyết định phòng ngừa rủi ro nhưng mối quan hệ này không mạnh mẽ và bền vững.
Tương tự như kiểm định đơn biến, đòn bẩy tài chính đại diện cho chi phí kiệt
quệ tài chính cũng đã không chứng minh được là có ảnh hưởng đến đến quyết định
phòng ngừa rủi ro. Tôi cũng đã thay thế biến tỷ số khả năng chi trả lãi bởi biến tỷ lệ
nợ trên tổng tài sản để kiểm định lại khả năng giải thích của đòn bẩy tài chính đối
với quyết định phòng ngừa rủi ro, nhưng kết quả vẫn không có ý nghĩa thống kê.
64
Bằng chứng thực nghiệm của tôi cho thấy kết quả không phù hợp với những dự
đoán xuất phát từ mô hình chi phí đại diện của nợ có liên quan đến mức độ bất cân
xứng thông tin hiện diện trong công ty, bởi vì mối tương quan giữa biến phụ thuộc
và tỷ lệ cổ phiếu công ty thuộc sở hữu của nhà đầu tư tổ chức trong mô hình là
không có ý nghĩa để dự đoán cho quyết định phòng ngừa rủi ro (xem bảng 3.21).
Hoàn toàn trái với dự đoán của tôi cũng như những phát hiện của DeMarzo và
Duffie (1995), Tufano (1996) và Getzy et al. (1997) đã chứng minh rằng nếu phần
lớn các cổ phiếu thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư tổ chức sẽ tỷ lệ thuận với các
thông tin có sẵn, và do đó nghịch biến với hoạt động quản trị rủi ro, hay nói cách
khác các công ty bất cân xứng thông tin lớn hơn thì sẽ có động lực quản lý rủi ro
hơn.
Tỷ lệ chi phí đầu tư trên tổng tài sản dùng để kiểm soát cơ hội đầu tư của công
ty, theo dự đoán của tôi là các công ty có phòng ngừa rủi ro có nhiều khả năng có cơ
hội đầu tư lớn hơn, cũng như lập luận về lý thuyết của Froot và cộng sự (1993), hay
bằng chứng thực nghiệm của Bessembinder (1991), Nance và cộng sự (1993), với
giả thuyết chính là, nếu việc tiếp cận tài chính bên ngoài tốn kém, các công ty có dự
án đầu tư đòi hỏi tài trợ sẽ thực hiện phòng ngừa rủi ro cho dòng tiền của họ để
tránh tình trạng thiếu hụt quỹ, do đó có thể đưa đến tăng chi phí khi tham gia thị
trường vốn. Nhưng kết quả thực nghiệm của mô hình hồi quy logit cho thấy hoàn
toàn không có ý nghĩa thống kê giữa các quyết định phòng ngừa rủi ro và tỷ lệ chi
đầu tư trên tài sản (xem bảng 3.21). Tôi cũng đã kiểm tra tính chắc chắn của kết
luận này bằng cách thay thế tỷ lệ chi phí đầu tư trên tài sản với biến đại diện khác
là, tỷ lệ chi phí đầu tư trên tổng doanh thu và giả thuyết sự tốn kém từ việc tài trợ
bên ngoài cũng không có ý nghĩa thống kê. Các kết quả hiểm định này đều cho thấy
thị trường vốn không hoàn hảo không có ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi
ro tại các công ty ở Việt Nam.
Tôi đã kiểm định các kết hợp khác nhau của các biến đại diện để kiểm tra lại khả
năng giải thích của nhân tố thuế được kết chuyển, nhưng kết quả nhân tố thuế hoàn
toàn không có ý nghĩa thống kê. Như vậy chúng ta có thể kết luận rằng thuế mang
65
sang năm 2013 do thua lỗ của các năm trước không có tác động đến quyết định
phòng ngừa rủi ro trong các công ty Việt Nam.
Biến đại diện cho lợi ích của nhà quản lý cũng không có ý nghĩa thống kê trong
các công ty phi tài chính tại Việt Nam. Tôi dự đoán rằng, các nhà quản lý công ty có
khả năng đa dạng hóa giá trị tài sản của họ kết hợp với nắm giữ cổ phiếu và vốn hóa
các khoản thu nhập gắn liền với vị trí việc làm của mình. Do đó nhà quản lý sẽ có
động cơ để tự phòng ngừa rủi ro tài sản riêng của họ trên chi phí của các cổ đông.
Tuy nhiên trái với dự đoán của tôi, kết quả kiểm định dẫn đến kết luận rằng các
công ty có tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ bởi nhà quản lý không có ảnh hưởng đến quyết
định phòng ngừa rủi ro (xem hình 3.21). Vì vậy chúng ta nên loại bỏ giả thuyết liên
quan đến tối đa hóa lợi ích nhà quản lý.
Bằng chứng thực nghiệm về các chính sách tài chính được xem xét để thay thế
cho việc phòng ngừa rủi ro hoàn toàn trái ngược với lập luận của tôi rằng tỷ lệ chi
trả cổ tức của công ty càng cao, nhu cầu công ty thực hiện phòng ngừa rủi ro càng
thấp khi công ty chưa từng bị thiếu hụt thanh khoản, cũng như lập luận của
Haushalter (2000) các công ty phải đối mặt với khó khăn thanh khoản có thể trả cổ
tức ít hoặc không có cổ tức. Nghiên cứu đã phát hiện mối tương quan đồng biến và
có ý nghĩa thống kê giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và các quyết định tài chính
liên quan đến công cụ thay thế phòng ngừa rủi ro. Các công ty ở Việt Nam chỉ trả
cổ tức cao, chứng tỏ không hề thiếu hụt về thanh khoản lại càng có động lực phòng
ngừa rủi ro, như vậy các chính sách tài chính được xem xét để thay thế cho việc
phòng ngừa rủi ro có ảnh hưởng đến quyết định thực hiện phòng ngừa rủi ro. Tuy
nhiên khả năng thanh khoản trong các công ty lại không có ý nghĩa thống kê đối với
quyết định phòng ngừa rủi ro (xem bảng 3.24), tôi cũng có thể lập luận rằng các
công ty đạt được hiệu quả từ việc thực hiện kỹ thuật phòng ngừa rủi ro là đã cải
thiện tính thanh khoản trong công ty họ từ đó đưa đến quyết định công ty chi trả cổ
tức với mức cao, như vậy thật khó để phân biệt mối quan hệ nhân quả giữa phòng
ngừa rủi ro, tính thanh khoản và tỷ lệ chi trả cổ tức, dù là tỷ lệ chi trả cổ tức ảnh
hưởng quyết định thực hiện phòng ngừa rủi ro hay việc thực hiện phòng ngừa rủi ro
66
làm nâng cao thanh khoản. Kết quả nghiên cứu này có thể được hiểu có sự tác động
tích cực của nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro đến hoạt động của các công ty Việt Nam.
Tuy nhiên tỷ lệ thanh toán nhanh và tỷ lệ thanh toán hiện hành đại diện cho khả
năng thanh khoản của công ty lại không có ý nghĩa thống kê trong bài nghiên cứu
của tôi, phù hợp với nghiên cứu của Danijela Milos Sprcic và Zeljko Sevic (2012)
trong các công ty tại Croatia và Slovenia.
Nhìn chung, có thể kết luận rằng các bằng chứng dựa trên kết quả thực nghiệm
đơn biến và đa biến giữa quyết định phòng ngừa rủi ro của các công ty phi tài chính
Việt Nam về chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện của nợ, sự không hoàn hảo
của thị trường vốn và tài trợ bên ngoài tốn kém, thuế, lợi ích nhà quản lý và nghiệp
vụ thay thế phòng ngừa rủi ro, không cung cấp bất kỳ sự ủng hộ nào cho bất kỳ giả
thuyết thử nghiệm ngoại trừ nhân tố - quy mô công ty được đo bằng tổng doanh thu
và nhân tố tỷ lệ chi trả cổ tức, tuy nhiên các nhân tố này có ảnh hưởng nhưng không
mạnh mẽ và bền vững.
Bên cạnh đó, khi tìm hiểu các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, tôi nhận thấy hầu hết các công không sử dụng các công cụ
phái sinh để phòng ngừa rủi ro, thay vào việc sử dụng các công cụ phái sinh, họ
phòng ngừa rủi bằng cách duy trì cơ cấu nợ và tài sản, duy trì một lượng tiền mặt
lớn, bên cạnh hợp đồng xuất khẩu công ty sẽ phát hành hợp đồng nợ để phòng ngừa
rủi ro về tỷ giá.
67
68
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN
Bài nghiên cứu này sử dụng một bộ dữ liệu độc đáo để kiểm tra các yếu tố quyết
định các công ty phòng ngừa rủi ro cho một mẫu các công ty phi tài chính Việt
Nam. Dữ liệu về phòng ngừa rủi ro được lấy từ báo cáo tài chính từ năm 2011-2013
của các công ty. Khác với hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực này,
bài nghiên cứu này cho phép phòng ngừa rủi ro được định nghĩa rộng hơn việc chỉ
sử dụng các công cụ phái sinh đó là bao gồm cả các công cụ phi phái. Hơn thế nữa
nguồn dữ liệu tôi nghiên cứu trong khoảng thời gian 3 năm, sẽ cho chúng ta bằng
chứng thực nghiệm chính xác và hoàn chỉnh hơn. Các bằng chứng từ kiểm định đơn
biến và đa biến trong nghiên cứu của tôi đã cho thấy kết luận quan trọng rằng các
nhân tố cơ bản phòng ngừa rủi ro được khảo sát có khả năng dự đoán rất ít trong
việc giải thích các quyết định quản lý rủi ro trong các công ty ở Việt Nam. Các bằng
chứng thực nghiệm đơn biến và đa biến được thực hiện trong 3 năm từ 2011-2013
để kiểm tra ảnh hưởng giữa quyết định phòng ngừa rủi ro với chi phí kiệt quệ tài
chính, chi phí đại diện của nợ, chi phí tài trợ bên ngoài, thuế, lợi ích quản lý và sự
thay thế phòng ngừa rủi ro không cung cấp bất kỳ sự ủng hộ nào cho bất kỳ giả
thuyết được thực nghiệm ngoại trừ giả thuyết quy mô công ty được kiểm định bởi
biến đại diện là tổng tài sản và tổng doanh thu, hai biến này ảnh hưởng đến quyết
định phòng ngừa rủi ro tại các công ty Việt Nam trong toàn bộ giai đoạn nghiên
cứu. Tuy nhiên biến đại diện cho đòn bẩy tài chính và biến tỷ lệ chi trả cổ tức vẫn
có ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro nhưng thay đổi theo thời gian tôi
nghiên cứu, cho chúng ta thấy các yếu tố này không bền vững.
Mặc dù chi phí để thực hiện quản lý rủi ro là khá cao, nhưng đối với các công ty
có quy mô đủ lớn có thể sẽ được hưởng lợi từ một chương trình phòng rủi ro chính
thức. Vì khi đó lợi ích biên đủ lớn so với chi phí biên, thì hoạt động quản lý rủi ro
đối với các công ty này là một hoạt động có giá trị kinh tế và họ sẵn sàng thực hiện.
Nhưng nhìn chung, các dữ liệu nghiên cứu có ý nghĩa thống kê nhưng lại cung cấp
một sự hỗ trợ khá yếu cho dự đoán của các lý thuyết được kiểm định. Các giả thuyết
đã được thực nghiệm chứng minh tại Việt Nam về quy mô của công ty đã thể hiện
mối quan hệ đồng biến trong việc giải thích quyết định phòng ngừa rủi ro.
Đối với chi phí của kiệt quệ tài chính thì kết quả kiểm định trong năm 2011,
2012 đã ủng hộ hoàn toàn cho giả thuyết nghiên cứu được đại diện bởi biến LDE (tỷ
lệ nợ dài hạn chia cho vốn chủ sở hữu) và biến LDA (tỷ lệ nợ dài hạn chia cho tổng
tài sản) hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Amrit Judge (2006), tác giả đã tìm
thấy bằng chứng mạnh mẽ về sự liên kết giữa quyết định phòng ngừa rủi ro và chi
phí dự kiến của kiệt quệ tài chính ở các công ty Anh. Tuy nhiên trong năm 2013
biến đại diện cho đòn bẩy tài chính này lại không có ý nghĩa thống kê khi nghiên
cứu ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro. Chúng ta cũng thấy có thể do nền
kinh tế Việt Nam trong năm 2011, 2012 còn bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế,
vì thế vấn đề đòn bẩy tài chính rất nhạy cảm đối với kiệt quệ tài chính và các nhà
quản lý tăng cường bảo vệ công ty trước nguy cơ tài chính tiềm ẩn nên thúc đẩy
việc phòng ngừa rủi ro, năm 2013 nền kinh tế Việt Nam tương đối ổn định và phát
triển, vì thế nhà quản lý ít ngại đối với chi phí kiệt quệ tài chính . Như vậy bằng
chứng thực nghiệm cũng cho thấy sự ít quan trọng của đòn bẩy tài chính trong việc
phòng ngừa rủi ro cho các công ty Việt Nam.
Cần lưu ý rằng biến tỷ lệ chi phí đầu tư chia trên tổng tài sản được sử dụng đại
diện cho cơ hội đầu tư tăng trưởng để kiểm tra giả thuyết chi phí tài trợ bên ngoài
đã không thể hiện sự khác biệt đáng kể về thống kê trong kiểm định đơn biến giữa
công ty phòng ngừa rủi ro và không phòng ngừa. Đồng thời biến này cũng không có
ý nghĩa thống kê trong kiểm định đa biến, như vậy quyết định phòng ngừa rủi ro
không liên quan đến các cơ hội đầu tư tăng trưởng của các công ty Việt Nam.
Ngoài ra công ty mà các nhà quản lý đầu tư nhiều hay ít vào các cổ phiếu của
công ty cũng không có ý nghĩa cho quyết định phòng rủi ro tại các công ty Việt
Nam. Chúng ta cũng dễ dàng thấy rằng, ở Việt Nam các nhà quản lý của công ty đa
phần chính là chủ sở hữu của công ty, do đó họ ít có động cơ tối đa hóa lợi ích của
cá nhân mà không chú trọng đến lợi nhuận của cả công ty. Điều này trái ngược với
kết quả nghiên cứu của Danijela Milos Sprcic và Zeljko Sevic (2012) tại Croatia,
69
nhưng hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Getzy và cộng sự (1997), Haushalter
(2000) đã không tìm được bằng chứng cho thấy phòng ngừa rủi ro doanh nghiệp bị
ảnh hưởng bởi cổ phần của nhà quản lý. Hay vấn đề bất cân xứng thông tin cũng
không tác động đến quyết định phòng rủi ro tại các công ty Việt Nam.
Có thể nói rằng nghiên cứu này của tôi góp phần vào các lý thuyết hiện tại, nó
chỉ ra rằng lý thuyết khá nổi tiếng và được chấp nhận về phòng ngừa rủi ro lại ít
đúng trong hành vi quản trị rủi ro tại các công ty ở Việt Nam. Do đó, kết quả thực
nghiệm phân tích trong bài báo này cũng cho thấy một so sánh rộng hơn giữa các
quốc gia trong khu vực. Tôi cho rằng quyết định thực hiện phòng ngừa rủi ro có thể
được thúc đẩy bởi các yếu tố ảnh hưởng khác và không chỉ là những yếu tố được
nêu ra trong các tài liệu quản lý rủi ro và được khám phá trong nghiên cứu này. Qua
bài nghiên cứu tôi cũng thấy rằng các công ty phi tài chính Việt Nam quản lý rủi ro
tài chính chủ yếu với các công cụ quản lý rủi ro đơn giản như duy trì đòn bẩy thấp
hoặc lượng tiền mặt lớn, hay phát hành hợp đồng nợ ngoại tệ để phòng ngừa tự
nhiên cho doanh thu nước ngoài… hầu như tất cả các công ty phi tài chính ở Việt
Nam rất ít sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro, trong khi các những
công ty đang tham gia trên thị trường tài chính châu Âu, đặc biệt thị trường chứng
khoán phái sinh, đã phát triển đáng kể trong những năm gần đây. Do đó, có thể kỳ
vọng rằng các công ty Việt Nam sẽ phát triển thị trường các công cụ phái sinh và
mở rộng các công cụ quản trị rủi ro.
Hiện nay ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại đang cung cấp một số sản
phẩm phái sinh, tùy theo nhu cầu công ty có thể lựa chọn cho mình công cụ bảo
hiểm rủi ro tỷ giá: giao dịch kỳ hạn (Forward), giao dịch quyền chọn (Option) hay
hợp đồng tương lai (Future). Ví dụ, với dịch vụ “Option”, công ty có thể mua quyền
chọn bán ngoại tệ với tỷ giá xác định, trong khoảng thời gian nhất định để bảo vệ
nguồn vốn và các khoản phải thu của mình. Hoặc, công ty mua quyền chọn mua
ngoại tệ với tỷ giá xác định, trong khoảng thời gian nhất định để phòng ngừa rủi ro
từ những biến động mạnh về tỷ giá đối với các khoản phải trả trong tương lai. Các
công ty Việt Nam chưa coi nghiệp vụ phòng tránh rủi ro tỷ giá quan trọng một phần
70
cũng là do cơ chế chính sách tỷ giá, và đây không phải trường hợp ngoại lệ khi công
ty chưa mặn mà sử dụng công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhưng không nên để tình
trạng này kéo dài mãi, đến lúc nào đó, nhất là kinh tế thế giới vẫn còn tiềm ẩn nhiều
bất ổn, Ngân hàng Nhà Nước có thể nới biên độ hoặc điều chỉnh tỷ giá tương đối
thường xuyên hơn, chắc chắn công ty phải tăng cường sử dụng các công cụ phòng
ngừa rủi ro tỷ giá để tránh thiệt hại.
Bên cạnh những đóng góp bài nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế thiếu sót, như
bài nghiên cứu của Danijela Milos Sprcic, Zeljko Sevic (2012), bên cạnh thu thập
dữ liệu từ báo cáo tài chính tác giả còn gửi bảng câu hỏi khảo sát cho các nhà quản
lý công ty để xác định công ty có phòng ngừa rủi ro hay không. Tuy nhiên ở Việt
Nam do đa phần đối tượng được khảo sát chưa chú trọng nhiều đến vai trò của dữ
liệu khảo sát, và một phần do tâm lý hành vi nên khi trả lời các câu hỏi khảo sát sẽ
không đưa đến một kết quả chính xác, vì vậy bài nghiên cứu của tôi thay thế nguồn
dữ liệu khảo sát, bằng nguồn dữ liệu thu thập từ bảng thuyết minh báo cáo tài chính
tại mục quản lý rủi ro để phân biệt các công ty có phòng ngừa rủi ro và không
phòng ngừa rủi ro.
Sẽ rất đáng giá nếu tiến hành một phân tích toàn diện và chi tiết về lý do tại sao
kết quả nghiên cứu của tôi đã chỉ ra mối quan hệ giữa quyết định thực hiện phòng
ngừa rủi ro và một số lý thuyết về phòng ngừa rủi ro lại trái ngược với dự đoán. Sự
tiến bộ trong nghiên cứu của tôi là nó cung cấp một sự thúc đẩy cho những nghiên
cứu sau này giải quyết những vấn đề của những lý thuyết phòng ngừa rủi ro hiện tại,
điều này đã được chứng minh đầy đủ trong việc giải thích các quyết định quản lý rủi
ro tại các công ty Việt Nam. Phương pháp định tính như những loại nghiên cứu giải
thích chuyên sâu cần được sử dụng bởi vì chúng cho phép các nhà nghiên cứu mở
rộng lý thuyết hiện tại và kiểm định một giả thiết mới, và tạo ra kết quả tổng quát.
Tôi tin rằng phương pháp nghiên cứu giải thích chuyên sâu sẽ tạo ra một phân tích
toàn diện hơn về cơ sở lý luận quản trị rủi ro doanh nghiệp tại các công ty ở Việt
Nam và từ đó tìm câu trả lời cho các câu hỏi mà nghiên cứu này còn bỏ ngỏ.
71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Danh mục tài liệu tiếng Việt
Nguyễn Thị Ngọc Trang, 2007. Quản trị rủi ro tài chính. NXB Thống Kê.
Danh mục tài liệu tiếng Anh
Allayannis, G., Ofek, E., 2001. Exchange rate exposure, hedging, and the user of
foreign currency derivatives. Journal of International Money and Finance, Vol.20,
No.2, pp.273–296.
Allayannis, G., Weston, J., 2001. The use of foreign currency derivatives and
firm market value. The Review of Financial Studies, Vol.14,No.1, pp.243–276.
Allison, P.D., 1999. Comparing logit and probit coefficients across groups.
Sociological Methods and Research,Vol.28, No.2, pp.186–208.
Amihud, Y., Lev, B., 1981. Risk reduction as a managerial motive for
conglomerate mergers. Bell Journal of Economics,Vol.12, No.2,pp.605–617.
Amrit Judge, 2006. Why and How UK Firms Hedge. European Financial
Management Journal, Vol.12, No.3, pp.407-441.
Barclay, M., Smith, C., 1995b. The priority structure of corporate
liabilities.Journal of Finance,Vol. 50,No.3, pp.899–917.
Bessembinder, H., 1991. Forward contracts and firm value: investment incentive
and contracting effects. The Journal of Financialand Quantitative Analysis, Vol.26,
No.4, pp.519–532
Breeden, D., Viswanathan, S., 1996. Why do Firms Hedge? An Asymmetric
Information Model. Working Paper (Duke University).
Danijela Milos Sprcic, Zeljko Sevic, 2012. Determinants of corporate hedging
decision: Evidence from Croatian and Slovenian companies. Research
in
International Business and Finance, Vol.26, No.1, pp.1-25.
DeMarzo, P.M., Duffie, D., 1995. Corporate incentives for hedging and hedge
accounting. Review of Financial Studies, Vol.8, No.3, pp.743–77.
Froot, K.A., Scharfstein, D.S., Stein, J.C., 1993. Risk management: coordinating
corporate investment and financing policies. Journal of Finance, Vol.48, No.5,
pp.1629–1658.
Gay, G.D., Nam, J., 1998. The underinvestment problem and corporate
derivatives use. Financial Management, Vol.27, No.4, pp.53–69.
Graham, J.R., Smith Jr., C.W., 1996. Tax incentives to hedge. The
Journal of Finance 54 (6), 2241–2262.
Getzy, C., Minton, B.A., Schrand, C., 1997. Why firms use currency derivatives.
The Journal of Finance, Vol.52, No.4, pp.1323–1354.
Haushalter, G.D., 2000. Financing policy, basis risk, and corporate hedging:
evidence from oil and gas producers. The Journal of Finance, Vol.55, No.1,
pp.107–152.
MacMinn, R.D., Han, L.M., 1990. Limited liability, corporate value, and the
demand for liability insurance. The Journal of Risk and Insurance,Vol.57, No.4,
pp.581–607.
MacMinn, R.D., 1987. Insurance and corporaterisk management. Journal of Risk
and Insurance,Vol.54,No.4, pp.658–677.
Mayers, D., Smith Jr., C.W., 1982. On thecorporate demand forinsurance.The
Journal of Business,Vol.55, No.2, pp.281–296.
Mayers, D., Smith Jr., C.W.,1987. Corporate insurance and the underinvestment
problem. Journal of Risk andInsurance,Vol.54, No.1, pp.45–54.
Myers, C.S., 1984. The capital structure puzzle. Journal of Finance,Vol.39,
No.3, pp.575–592.
Nance, D.R.,Smith,C.W.,Smithson, 1993.Onthe determinants of corporate
hedging. Journal of Finance, Vol.48, No.1, pp.267–284.
Sharpe, W.F., 1964. Capital asset prices: a theory of market equilibrium under
conditions of risk. Journal of Finance, Vol.19, No.3, pp.425–442.
Smith, C.W., Stulz, R.M., 1985. Thedeterminants of firms hedging policies.
Journal of Financial and Quantitative Analysis, Vol.20, No.4, pp.391–405.
Smithson, C.W., Chew Jr., D.H., 1992. The uses of hybrid debt in managing
corporate risk.Journal of Applied Corporate Finance, Vol.4, No.4, pp.89–112.
Stulz, R., 1984. Optimal hedging policies. The Journal of Financial and
Quantitative Analysis, Vol.19, No.2, pp.127–140.
Tufano, P., 1996. Who manages risk? An empirical examination of risk
management practices in the gold mining industry. Journal of Finance, Vol.51,
No.4, pp.1097–1137.