
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KHOA QUỐC TẾ HỌC
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN
DI TÍCH VÀ THẮNG CẢNH Ở VIỆT NAM
(Tài liệu dùng cho sinh viên người nước ngoài
Chuyên ngành: Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam)
Biên soạn: Nguyễn Ngọc Chinh
(Lưu hành nội bộ)
Đà Nẵng, tháng 11 năm 2015

2
Lời nói đầu
Tập bài giảng cho học phần “Di tích và thắng cảnh ở Việt Nam” là tập bài
giảng bao gồm 8 bài được giảng dạy bao gồm lý thuyết, thảo luận và đi thực tế trong
30 tiết (2 tín chỉ), gồm: Dẫn nhập - 4 tiết; Đặc điểm và vai trò của hệ thống di tích,
danh thắng Việt Nam - 4 tiết; Hệ biểu tượng trong hệ thống di tích danh thắng Việt
Nam - 4 tiết; Một số di tích danh thắng tiêu biểu Bắc bộ - 4 tiết; Một số di tích danh
thắng tiêu biểu Trung bộ - 4 tiết; Một số di tích danh thắng tiêu biểu Nam bộ - 2 tiết;
Một số di tích danh thắng tiêu biểu của Đà Nẵng - Quảng Nam - 2 tiết; Giải pháp bảo
tồn và phát triển di tích danh thắng - 2 tiết; và Ôn tập thảo luận - 4 tiết.
Mỗi bài, ngoài phần lý thuyết, còn có phần bài tập nhằm củng cố kiến thức đã
học.
Đây là tập bài giảng được tích lũy, bổ sung và điều chỉnh qua quá trình lên lớp,
giảng dạy sinh viên ngành Tiếng Việt và Văn hóa học các khóa 2008, 2009, 2010,
2011 và 2012. Trong quá trình biên tập chắc hẳn còn những thiếu sót và sẽ được hiệu
chỉnh trong những lần tiếp theo.
Người biên soạn
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chinh

3
MỤC LỤC
Dẫn nhập
4
Đặc điểm và vai trò của hệ thống di tích, danh thắng Việt Nam
10
Hệ biểu tượng trong hệ thống di tích danh thắng Việt Nam
20
Một số di tích danh thắng tiêu biểu Bắc bộ
29
Một số di tích danh thắng tiêu biểu Trung bộ
46
Một số di tích danh thắng tiêu biểu Nam bộ
51
Một số di tích danh thắng tiêu biểu của Đà Nẵng – Quảng Nam
55
Giải pháp bảo tồn và phát triển di tích danh thắng
96
Tài liệu tham khảo
124

4
Bài 1 (4 tiết)
DẪN NHẬP
1.Di tích là gì
Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý
nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử
Di tích: Cái của thời xưa còn để lại (tr 246, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng
và Trung tâm Từ điển học, 1997)
2.Di tích lịch sử, di tích văn hoá, di tích cách mạng, di tích khảo cổ, di tích kiến
trúc nghệ thuật
Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Di
tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau đây:
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá
trình dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ
Loa, cố đô Hoa Lư, chùa Thiên Mụ, Cột cờ...
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng
dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích
lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Đền Mẫu Đợi, Lam Kinh, đền Đồng Nhân...
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời
kỳ cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích chiến
thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó...
Năm 2014, ở Việt Nam có hơn 32.839 di tích, trong đó hơn 3.591 di tích quốc
gia, 4.404 di tích cấp tỉnh. Trong số di tích cấp quóc gia có 62 di tích đặc biệt, 8 di sản
thế giới. Di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng.
Di tích cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích
lịch sử - văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng
như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc
có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với
mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật
lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong phú, có
mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng
theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích này vừa khó
bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt.
Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai
đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này
như Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người

5
Xưa, thánh địa Mỹ Sơn. Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1,3% các di tích được xếp
hạng.
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc
đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc
của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá
trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di tích
tiêu biểu loại này như phố cổ Hội An, nhà thờ Phát Diệm, chùa Keo,... Năm 2010, di
tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44.2% tổng số di tích được xếp hạng.
3.Thắng cảnh là gì
Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa
điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch
sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:
Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên
nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Các di tích quốc gia đặc
biệt tiêu biểu thuộc loại này như 3 danh lam thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích
Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha.
Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa
dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích
vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này
như vịnh Hạ Long, cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển
thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp
hạng.
Ở mỗi quốc gia, cùng với những di tích lịch sử - văn hóa, không nhiều thì ít,
còn những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban tặng, đó là các danh lam thắng cảnh.
Về cụm từ danh lam thắng cảnh, trước hết, chữ lam được gọi rút gọn từ chữ
tăng già lam, hoặc tịnh lam, có nghĩa là ngôi chùa. Ở thời Lý, các ngôi chùa được phân
ra làm ba hạng: Đại danh lam (chùa nổi tiếng nhất), trung danh lam (chùa nổi tiếng
vừa) và tiểu danh lam (chùa ít nổi tiếng). Cũng ở thời Lý, nơi nào có núi cao, cảnh
đẹp, thường được dựng chùa thờ phật. Từ đó hình thành nên khái niệm danh lam thắng
cảnh, như vậy danh lam thắng cảnh là nơi có cảnh đẹp và chùa nổi tiếng. Cho đến nay,
phần lớn các danh lam thắng cảnh ở nước ta đều có chùa thờ phật.
4.Di tích và thắng cảnh trên thế giới và ở Việt Nam
4.1.Di tích và thắng cảnh ở Việt Nam
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam
thắng cảnh (gọi chung là di tích) được chia thành:
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương. Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh.

