Chương 1

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH GIỐNG GIA SÚC VÀ CÔNG TÁC GIỐNG Ở NƯỚC TA

1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH GIỐNG GIA SÚC

­ Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ

­ Xã hội Nô lệ

­ Chế độ Phong kiến

­ Chế độ Tư bản

­ Thế kỷ 20 đến nay

1.2. CÁC QUAN NIỆM, LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔN GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG GIA SÚC

Từ xa xưa, lúc người mẹ có thai mà bị xúc động gì mạnh mẽ thì sự xúc động đó là ảnh hưởng đến bào thai, gây nên sự thay đổi các tính trạng của đời con sau này

Hiện tượng télégonie cũng là 1 khái niệm khá phổ biến 1 thời. Người ta cho rằng 1 con cái sau khi đã thụ phối với 1 con đực thì màu sắc, tính trạng của con đực đó sẽ ảnh hưởng đến đời con của con cái mặc dù lần này đời con không phải là con của con đực đó

+ Năm 1800­1850

­ Thuần hóa vật nuôi

­ Chọn lọc cá thể; quần thể riêng lẽ

+ Năm 1850­1900

­ Tạo giống mới (vai trò của R. Backwell)

+ Năm 1900­1950

­ Mendel khám phá ra quy luật di truyền

­ Tổ chức chọn lọc theo tiêu chuẩn

­ Tổ chức chọn theo dòng

+ Năm 1950­2000

­ Áp dụng di truyền sôs lượng cho từng chủng

­ Watson và Crick xác định mô hình AND

­ Henderson áp dụng mô hình BLUP

­ Thực thi cấy truyền phôi

­ Ứng dụng công nghệ sinh học nhằm tăng sản lượng

­ Thời đại thông tin về chất lượng con giống và sản phẩm

+ Năm 2000 đến nay

­ Sử dụng gen chỉ thị

­ Xác định mầm giới tính từ đầu

­ Ghép truyền gen

­ Thực thi cấy truyền gen

1.3. CÔNG TÁC GIỐNG GIA SÚC Ở NƯỚC TA

1.3.1. Thời kỳ trước Pháp thuộc năm 1858

Nền chăn nuôi còn yếu kém, chủ yếu nuôi một số trâu, bò, heo, gà.. địa phương lâu đời dưới hình thức cá thể

1.3.2. Thời kỳ năm 1858 ­ Cách Mạng tháng 8 năm 1945

Người Pháp từng bước đã có ảnh hưởng đến nền chăn nuôi và công tác giống của Việt Nam

Sau thế chiến thứ nhất đã đưa một số chuyên viên về thú y

Thành lập một số trại nuôi thú giống ở vùng cao (nuôi bò ôn đới), ở vùng đồng bằng (cừu ngựa, heo gà )...

Nhập một số giống tốt từ nước ngoài chủ yếu gà vùng ôn đới. Tuy nhiên do kỹ thuật còn thấp, điều kiện khí hậu của Việt Nam là nhiệt đới nên phần lớn nuôi không thành công, chỉ có heo Craonais phát triển tốt được ở Nam Bộ và đã lai với các giống heo ở địa phương

Năm 1930, đã nhập giống ngựa Ả Rập từ Bắc Phi; bò Ấn Độ, chủ yếu là giống bò Sind và giống bò Ongole cho kết quả tốt trong việc nuôi thích nghi và lai tạo với các giống bò địa phương. Ngựa Đông Dương hình thành từ lai tạo giống ngựa Ả Rập với ngựa địa phương ở nước ta

Năm 1932­1936, nhập heo cao sản từ Philipin với 3 giống nổi tiếng của thế giới là Yorkshire, Bershire, Tamwoth (các giống heo này do mỹ đem sang Philipin) nuôi tại đồng bằng sông Cửu và đã tham gia lai tạo với heo địa phương vùng này tạo ra 2 giống là heo trắng Thuộc Nhiêu và heo bông Ba Xuyên

1.3.3. Thời kỳ Cách Mạng tháng 8 năm 1945 đến 1954

+ Ở vùng giải phóng

Thực hiện bình tuyển giống bò, heo. Nhà nước can thiệp vào việc loại hay giữ lại một số giống bò đực, heo đực để làm giống, tiêm phòng phòng chống dịch bệnh

+ Ở vùng Pháp tạm chiếm

­ Phát triển thêm một số trại ở vùng đồng bằng

­ Nhập những giống tốt

­ Xây dựng một số trại gà và nhập giống gà công nghiệp

­ Tiến hành lai tạo các giống nhập với các giống địa phương

* Ở Miền Bắc

1.3.4. Thời kỳ từ năm 1954­ 1975

+ Năm 1959-1967 thành lập các trại heo giống cấp tỉnh và cấp trung ương quản lý (Đầm Hà - Quảng Ninh và Bát Sát -Lào Cai )

­ Đến năm 1967 đã có được 31 trại lợn tỉnh, có quy mô từ 20 ­ 50 nái cơ bản, có khả năng sản xuất 100 ­ 200 lợn nái hậu bị hàng năm

­ Quy mô các trại lúc bấy giờ còn nhỏ, trình độ quản lý non yếu, con giống chưa đạt tiêu chuẩn cao

+ Năm 1962 -1967, xây dựng vùng giống, bình tuyển gia súc

­ 44 vùng giống lợn ở các tỉnh, bình tuyển được trên 13 vạn lợn nái của 12 tỉnh chiếm 17,6% tổng số lợn nái miền Bắc

­ Năm 1966 xây dựng vùng giống bò đầu tiên ở Thọ Xuân ­ Thanh Hoá

­ Năm 1967 xây dựng vùng giống trâu ở Hạ Hoà ­ Vĩnh Phú

+ Công tác điều tra cơ bản giống

­ Bắt đầu từ năm 1964, ban đầu do các tỉnh tự đảm nhận

­ Đợt điều tra trâu bò năm 1964 của Bộ Nông nghiệp, các trường trung cấp Nông nghiệp Trung ương, các Ty Nông nghiệp đã tiến hành ở 7 tỉnh thành: Nghệ An, Thanh Hoá, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Yên Bái, Lạng Sơn và điều tra ngựa đã tiến hành ở Lai Châu, Hà Giang

Tổng số gia súc được điều tra đạt gần 14 vạn trâu, 3000 bò, trên 1000 ngựa, trên 1 vạn lợn và 10 loại cây thức ăn

­ Các nông trường Quốc doanh hàng năm cũng tiến hành kiểm kê và bình tuyển giám định gia súc

+ Nhập giống mới

Các giống mới cao sản cũng bắt đầu được nhập vào nước ta từ năm 1958, chủ yếu từ Trung Quốc và Liên Xô

Bò: Bò sữa lang đen trắng, bò Sind, bò Tam Hà, bò nâu Thụy Sĩ (Brown Swiss)

Ngựa: Ngựa chủ yếu là giống Cabacđin của Liên Xô được nuôi tại trại Bá Vân ­Thái Nguyên

Trâu: Trâu Murrah nhập từ Trung Quốc được nuôi tại trại Ngọc Thanh ­Vĩnh Phú

Lợn: Lợn Berkshire, Yorkshire, Tân Cương, Đại bạch Landrace và lợn Trung bạch

Cừu: Cừu lông mịn Tân Cương (Trung Quốc), cừu lông thô Mông Cổ nhập từ năm 1958 được nuôi tại nhiều nông trường Quốc doanh, nhưng cho đến nay chỉ còn một số ít tại nông trường Mộc Châu (Sơn La).

Gia cầm: Chúng ta cũng nhập khá nhiều gà Rhodes, Jsland, Leghorn, Plymouth...và một số ngỗng Sư tử, vịt Bắc Kinh, gà Tây và gà Nhật Bản, gà Sussex, Cornish... chúng ta cũng đã nhập những dòng gà hướng trứng hoặc thịt từ các nước xã hội chủ nghĩa (năm 1971)

+ Tiến hành lai tạo các giống nhập với giống địa phương

­ Đối với lợn, chúng ta đã dùng chủ yếu để lai kinh tế: Đại bạch x Ỉ; Đại bạchx Móng cái; Landrace x lợn lang...

­ Đối với bò sữa, ban đầu chúng ta cho lai bò lang đen trắng với bò lai Sind, bò Vàng Việt Nam.

­ Đối với trâu, năm 1975 chúng ta nuôi thực nghiệm trâu sữa Murrah thuần chủng và lai cải tạo với trâu Việt Nam

­ Gia cầm: Trường Đại học, Viện có thăm dò các công thức lai kinh tế hoặc thông qua lai mà cải tiến giống địa phương

+ Xây dựng các trạm thụ tinh nhân tạo

­ Từ năm 1959 các trạm thụ tinh nhân tạo thành lập rãi rác ở các nông trường quốc doanh, ở các vùng quanh đô thị, ở 1 vài vùng trung du và miền núi

­ Đến năm 1967 đã có 27 cơ sở với 515 lợn đực và 20 bò đực giống

­ Ở vùng miền núi còn có 9 trạm truyền giống ngựa trực tiếp với khoảng 40 đực giống, hàng năm có thể phối cho 1000­1500 ngựa cái

* Ở Miền Nam

­ Sự điều tra cơ bản về giống không chính thức

­ Thụ tinh nhân tạo có thực hiện với quy mô nhỏ và bò phát triển hơn heo

­ Nhập nhiều giống ngoại qua con đường viện trợ hay tư bản tư nhân.

­ Xây dựng một số trại giống của nhà nước và của tư nhân với quy mô lớn

Bò Santa Gertrudis, bò sữa Jersey; Heo Yorkshire, Landrace, Duroc; gà Hubbard thịt, Hubbard Comet...

1.3.5. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay

­ Không có sự khác biệt về đường lối công tác giống giữa hai miền Nam Bắc

­ Nhà nước cố gắng xây dựng một chương trình công tác giống thống nhất, thiết lập một hệ thống hòan chỉnh toàn quốc

Trung ương Trung ương

Bộ Nông nghiệp quản lý

CCấấp Ip I

Tỉnh, thành phố quản lý

CCấấp IIp II

Huyện, Quận quản lý

­ Sự điều tra giống được thực hiện theo yêu cầu của từng địa phương có sự tham gia của các cơ quan trung ương

­ Đầu những năm 1980 nền kinh tế chuyển qua giai đoạn mới, gắn liền với sự cạnh tranh, thị trường. Nên hệ thống giống trên đã bị phá vỡ

­ Các trại đã độc lập nhập ào ạt những giống gia súc gia cầm mới và thực hiện công tác giống riêng cho đơn vị mình để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong giai đoạn mới

­ Hiện nay đã có nhiều tập đoàn nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới hình thức liên doanh, hoặc 100% vốn nước ngoài

Chương 2

NGUỒN GỐC, SỰ THUẦN HOÁ VÀ THÍCH NGHI CỦA THÚ HOANG

* Giống lợn

2.1. NGUỒN GỐC CỦA GIA SÚC

Theo B.P Voncopialov (1956); L. Coringhe (1961) và nhiều tác giả

­ Họ Suidae

­ Chủng Sus scorfa + Nguồn gốc:

­ Thứ chủng Sus Orientalis, Sus Vitatus...

Chủng Sus Scorfa, nguồn gốc trực tiếp của lợn nhà.

 Sus Scorfa Scorfa (lợn rừng Châu Âu) ở vùng

Bắc Châu Âu.

 Sus Scorfa Cristatus (lợn rừng vùng Ấn Độ)  Sus Scorfa leucomystatus (lợn rừng Viễn Đông)  Sus Scorfa vitatus (lợn rừng có lông sọc)

Chủng này có bốn thứ chủng được phân bố ở các vùng khu vực khác nhau

+ Thời gian

Thuần hóa cách đây 1,5 đến 2 triệu năm vào thời đại Đồ Đá hoặc giữa thời kỳ Đồ Đá Mới

+ Địa điểm

Lợn rừng được thuần hoá ở nhiều nơi khác nhau: Ấn Độ, vùng rừng núi Xibiri và châu Âu

* Giống bò

+ Nguồn gốc

Lớp Mammalia

Bộ Ungulata

Bộ phụ Ruminautia

Yka

Buffalos (trâu) Oxen, Bitson (bò rừng) (bò Tây Tạng)

+ Thời gian

­ Việt Nam có nhiều giống bò sữa thịt thuộc Bos indicus và Bos promigenus; Loài Bos taurus, Bos primigenus, Bos indicus, Họ Bovidae.

+ Địa điểm:

­ Được thuần hóa khoảng 3000 năm TCN

­ Từ Ấn Độ lan qua vùng cận Đông và Bắc Phi

* Giống trâu

­ Trâu nhà hiện nay có nguồn gốc từ trâu rừng Ấn Độ (Buffalus arni).

­ Theo H. Epstin 1969, thì trâu được thuần hóa khoảng 2000 năm TCN

­ Từ Ấn Độ, trâu được thuần hóa di chuyển khắp dãi Đông Nam Á.

­ Từ Châu Phi qua Ai Cập, qua các vùng Trung Cận Đông đến miền Nam Châu Âu

2.1.2. Sự thuần hoá thú hoang

 Tất cả các loài vật nuôi còn tồn tại cho đến ngày nay đều có nguồn gốc từ thú hoang.  Giai đoạn đầu tiên diễn ra cùng với sự di cư của con người, vật nuôi ngày càng thích nghi hơn với các điều kiện môi trường

 Giai đoạn tiếp theo clà kiểm soát quá trình

sinh sản

 Bước mới nhất trong quá trình thuần hoá là

công nghệ sinh học

2.1.3. Tác động của con người

 Thay đổi điều kiện sinh tồn của thú hoang

 Thay đổi số lượng và chất lượng thức ăn của thú hoang

 Thay đổi chế độ nuôi dưỡng và sinh hoạt của thú hoang

 Thay đổi những điều kiện khí hậu của thú hoang

 Chọn lọc giữ lại những con giống tốt và chọn đôi giao

phối

 ­ Thay đổi về mặt ngoại hình

 ­ Các bộ phận bên trong và chức năng của nó

2.1.4. Những thay đổi của thú hoang

 ­ Thay đổi về khả năng sản xuất

 ­ Sức sản suất của gia súc tiến theo hướng nhất

cũng thay đổi rõ rệt

định

2.1.5. Sự thích nghi của gia súc

Thích nghi là kết quả phản ứng của cơ thể con vật trong điều kiện sống mới và những tác động của con người để điều chỉnh phản ứng đó

Nghiên cứu thích nghi cũng là nghiên cứu thay đổi những chỉ tiêu về ngoại hình, sinh lý, sinh sản, khả năng sản xuất.. của con vật trong điều kiện sống mới so với môi trường cũ của nó và tác động của con người làm cho con vật thích nghi

* Các nhân tố ảnh hưởng đến thích nghi của gia súc

+ Đặc tính phẩm giống

+ Khí hậu

+ Thức ăn ­ dinh dưỡng

+ Bệnh tật

HT

100

*10

00,101

 VT

F

HT: Hệ số chịu nóng (Heat Tolerance)

VT: Thân nhiệt trung bình trong thời gian khảo sát

101,00F: tương đương 38,40C, thân nhiệt bình thường

10: Hệ số thay đổi thân nhiệt

100: Khả năng tối đa giữ thân nhiệt bình thường

* Cơ sở đánh giá khả năng thích nghi của gia súc

­ Dựa trên thay đổi về sinh lý

­ Dựa trên thay đổi khả năng tiếp nhận thức ăn, tiêu hóa hấp thu

­ Thay đổi về quá trình trao đổi chất, quá trình đồng hóa hay dị hóa diễn ra mạnh hơn

­ Thay đổi về các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh sản, bệnh tật

* Mức độ thích nghi của gia súc đã được N.A Crapxenco (1963)

 Giống thích nghi hoàn toàn với điều kiện

sống mới

 Giống thích nghi chưa hoàn toàn với điều

kiện sống mới

 Giống không thích nghi được với điều kiện

sống mới

* Ứng dụng thích nghi trong công tác giống

 Cần hiểu biết những đặc tính sinh học, nguồn gốc xuất

­ Khi nhập giống gia súc để nuôi thích nghi

 Nhập những gia súc còn non

 Di chuyển từ từ con vật qua các môi trường trung gian

 Chọn thời gian nhập thích hợp

phát của giống

 Nâng cao trình độ thâm canh trong chăn nuôi

 Cung cấp đầy đủ thức ăn động, dinh dưỡng phù hợp

 Tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi

 So sánh những chỉ tiêu sản xuất của con vật mới nhập với những con hiện còn ở vùng gốc để tiến hành chọn lọc

 Có thể tiến hành lai giữa giống nhập nội với giống địa

­ Nuôi thích nghi

phương, đời con dễ thích nghi với điều kiện địa phương

2.2.2.2. Đ ĐẶẶC ĐIC ĐIỂỂM CM CÁÁC GIC GIỐỐNG GIA S

NG GIA SÚÚCC

2.2.1. Giống và phân loại giống gia súc

Giống là một tập đoàn gia súc giống nhau về ngoại hình thể chất, sức sản xuất và tính năng sản xuất và có tính di truyền ổn định

+ Số lượng quy định:

­ Lợn 5000 con; Trâu, bò 3000 con; gia cầm 10000 con

­ Yêu cầu có ít nhất từ 3 ­ 5 dòng, do giống mới rất dễ bị thái hoá cho nên phải có một số nguồn gen dự trữ

* Phân loại giống gia súc

+ Giống địa phương (giống nguyên thuỷ)

Do địa phương tạo ra hoặc đã có từ lâu. Giống địa phương thường là giống thuần chủng nhất, tồn tại lâu đời nhất, thích nghi với hoàn cảnh địa phương

Ví dụ: Lợn Móng Cái ở Quảng Ninh, Lợn Ỉ ở Nam Định; bò Vàng...

­ Đặc điểm giống địa phương

 Tầm vóc nhỏ  Sức sản xuất thấp và kiêm dụng  Tính di truyền bền vững  Sức chịu đựng bệnh tật cao, quen với khí hậu từng

vùng và ít kén ăn  Thành thục muộn  Mức độ biến dị không cao

+ Giống gây thành (giống cao sản)

Là giống được hình thành do công tác lai tạo

­ Tầm vóc lớn

­ Sức sản xuất cao và có hướng sản xuất chuyên dụng và kiêm dụng

­ Dể thay đổi dưới ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh

­ Sức chịu đựng bệnh tật kém

­ Đòi hỏi điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc ở điều kiện cao

+ Giống quá độ

- Giống quá độ là giống đang được hình thành trong quá trình lai tạo, chưa được ổn định và chưa được công nhận là một giống

- Giống quá độ cũng có thể là giống nhập nội đang được nuôi thích nghi

 Tầm vóc đã được cải tiến

 Sức sản xuất đã được nâng lên nhưng sức sản xuất

­ Giống quá độ có những đặc điểm

 Thành thục sớm hơn

 Các đặc điểm sản xuất đang còn tương đối thuần

phần lớn vẫn là kiêm dụng

nhất, tính bảo thủ di truyền còn vững bền

2.2.2. Đặc điểm của các giống gia súc

MMÓÓNG CNG CÁÁII

Nguồn gốc: Đầm Hà, Đông Triều tỉnh Quảng Ninh

Hình Thái: Mầu lông da trắng, đầu lưng và mông có khoang đen yên ngựa, lông thưa và thô. Đầu to, mõ nhỏ và dài, tai nhỏ và nhọn có nếp nhăn to, ngắn ở miệng

Khối lượng lợn sơ sinh: 450 ­ 500 gam/con, lợn trưởng thành: 140 ­ 170 kg/con, có con nặng đến 200kg

 Phân bố: Các tỉnh phía Bắc và miền Trung

 Năng suất, sản phẩm: Lúc 7 ­8 tháng có thể phối giống. Một năm đẻ hai lứa, mỗi lứa được 10 ­ 14 con. Tỷ lệ mỡ/thịt xẻ: 35 ­ 38%

LLỢỢN MN MẸẸOO

­ Hình thái: Lông đen, tầm vóc như lợn Mường Khương, thân dài hơn, mông vai nở hơn. Lợn thành thục muộn. Từ 9­10 tháng tuổi mới bắt đầu vỗ béo, 18­20 tháng tuổi đạt trọng lượng150kg.

­ Lợn hay gặp ở các vùng núi Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, giáp biên giới Việt Lào

LLỢỢN N ỈỈ

Nguồn gốc: Tỉnh Nam Định

 Hình thái: Lông đen bóng, lông nhỏ thưa, mặt nhăn, mắt híp, nọng cổ và má chảy sệ, chân thấp, mõm ngắn, bụng sệ hầu như ụng quét đất. Lợn nái thì thường đi chữ bát

Phân bố: Trước đây có nhiều ở các tỉnh miền Bắc, lợn ỉ này chỉ tồn tại đến năm 1990

 Năng suất, sản phẩm: Lúc 4 ­ 5 tháng tuổi có thể phối giống. Một năm đẻ hai lứa,mỗi lứa được 8 ­ 11 con, cao nhất là 16 con. Độ dày mỡ lưng: 3,76 cm. Mỡ nhiều (48% so với thịt xẻ), tích luỹ mỡ sớm

Khối lượng lơn sơ sinh: 0,4kg/con, nuôi một năm tuổi: 36 kg/con; 3 năm tuổi là: 50kg

Ba xuyen Ba xuyen

 Phân bố: Có rải rác ở các tỉnh Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cân Thơ, Tiền Giang, Kiên Giang, An Giang, Long an và Đồng Tháp

Nguồn gốc: Có nguồn gốc từ huyện Vị Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; là con lai giữa lợn Berkshire với lợn địa phương từ năm 1930

Hình thái: Lông và da đều có bông đen và bông trắng xen kẽ nhau. Đầu to vừa phải, mặt ngắn, mõm hơi cong, trán có nếp nhăn, tai to vừa và đứng. Bụng to nhưng gọn, mông rộng. Chân ngắn, móng xoè, chân chữ bát và đi móng, đuôi nhỏ và ngắn.

Khối lượng lợn sơ sinh: 350 ­ 450 gam/con, trưởng thành nặng 140 ­ 170 kg/ con, có con nặng đến 200 kg

Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu phối giống lúc 6 ­ 7 tháng tuổi. Một năm đẻ 2 lứa, mỗi lứa đẻ 8 ­9 con. Độ dày mỡ lưng: 4,35 cm

* Nhóm lợn ngoại

HAMPSHIRE HAMPSHIRE

 Nguồn gốc: Xuất xứ từ

 Hình Thái: Lông màu đen, vai, ngực và hai chân trước có đai mầu trắng. Tai thẳng, đầu to vừa phải, mõm thẳng. Thân dài to, bốn chân khoẻ

Bắc Mỹ, được công nhận giống năm 1820.

 Phân bố: Một số tỉnh

 Năng suất, sản phẩm: Khả năng sinh sản thấp hơn lợn Yóoc Sai và Lan Đrát.Mỗi lứa đẻ được 7 ­ 8 con

phía Nam.

LANDRACE LANDRACE

 Nguồn gốc: Đan

 Phân bố: Nhiều

Mạch, Nhập từ Cu Ba từ năm 1970. Sau này còn nhập từ Hoa kỳ, Nhật, Bỉ

nơi trong cả nước

 Hình thái: Lông da trắng tuyền. Tai to, mềm, cụp che lấp mặt. Đầu dài, thanh. Thân dài, mông nở, mình thon, trông ngang giống hình cái nệm

Khối lượng lợn sơ sinh: 1,2­1,3kg/con, lợn đực trưởng thành: 270 ­ 300kg, lợn cái: 200 ­ 230kg/con. Trong điều kiện nóng, ẩm khă năng thích nghi kém hơn lơn Yorkshire

 Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu phối giống lúc 7 ­ 8 tháng tuổi. Mỗi năm đẻ 2,0 ­ 2,2 lứa, mỗi lứa đẻ 10 ­ 12 con. Tăng trọng nhanh, 6 tháng tuổi đạt 100kg/con. Tỷ lệ nạc 54 ­ 56%

YORKSHIRE YORKSHIRE

Nguồn gốc: là một giống của nhóm lợn Yóoc Sai, được tạo nên tại bang Yóoc Sai Anh. Được nhập từ Liên Xô (cũ) (1964), Cu Ba (1970), Mỹ (2000)

Hình Thái: Lông da trắng tuyền, tai to, đứng, trán rộng, mặt gãy. Bốn chân chắc, khoẻ, thân hình vững chắc, nhìn ngang có hình chữ nhật, mình dài, mông vai nở, lưng thẳng, bụng thon. Có 12 vú. Lợn đực nặng 250 ­ 320 kg/con. Lợn cái nặng: 200­250 kg/con

Phân bố: Các miền Bắc, Trung, Nam

Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu phối giống lúc 8 tháng tuổi. Một năm đẻ 2,0 ­ 2,1 lứa, mỗi lứa đẻ 10 ­ 13 con. Tỷ lệ nạc 52 ­ 55%

DUROC DUROC

Nguồn gốc: Là giống lợn của Mỹ. Được nhập vào miền Nam Việt Nam từ trước năm 1975; nhập vào miền Bắc từ Cu Ba ( năm 1978), từ Mỹ ( năm 2000)

Phân bố: Các tỉnh phía Nam (Tp. Hồ Chí Minh, An Giang...) và một ít ở phía Bắc

Hình thái: Mầu lông hung đỏ hoặc nâu thẫm, bốn móng, chân và mõm đen. Tai rủ về phía trước, chân chắc khoẻ. Thân hình vững chắc, bộ phân sinh dục lộ rõ

Lợn trưởng thành, con đực nặng 300 ­ 350 kg, con cái nặng 200 ­ 250 kg/con

Năng suất, sản phẩm: Mỗi lứa đẻ được 7 ­ 6 con, Tăng khối lượng nhanh: 0,74kg/ngày. Nuôi 175 ngày đạt được 100 kg. Tỷ lệ nạc 5,8 ­ 60,4%

PIETRAIN PIETRAIN

 Nguồn gốc:

Xuất xứ từ Bỉ, mang tên làng Pietrain, được công nhận giống năm 1956. Nhập vào Việt nam từ các nước khác nhau như: Bỉ, Pháp và Anh.

Phân bố: Các tỉnh phía Nam và một số tỉnh ở phía Bắc

Hình thái: Lông, da có những đốm màu sẫm đen và trắng không đều trên toàn thân, tai đứng, mông vai rất phát triển, trường mình. Thân hình vững chắc, cân đối. Lợn đực nặng 270 ­ 350 kg/con, lợn cái nặng 220 ­ 250 kg/con

 Năng suất, sản phẩm:

Mỗi lứa đẻ 8 ­ 10 con. Tăng khối lượng nhanh, nuôi 6 tháng tuổi đạt 100 kg/con. Tỷ lệ nạc 60 ­ 62%.  Nhược điểm: mẫn cảm với stress liên quan tới halothan.

MEISHAN MEISHAN

Trâu Việt Nam

Trâu Việt Nam có sắc lông màu đen, có con lông trắng (trâu bạc). Khối lượng trâu cái khoảng 300­400 kg, trâu đực 350 ­ 450kg, đực thiến trên 500kg

MURRHA MURRHA

Nguồn gốc: Nhập từ Trung Quốc năm 1971, Ấn Độ (1978)

Phân bố: Trung tâm Nghiên cứu Trâu và đồng cỏ Bến Cát (Bình Dương), Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Miền núi (Thái nguyên)

Hình thái: Phần lớn trâu có lông đen bóng, lông thưa và ngắn, ở cuối đuôi có chòm lông màu trắng sát dưới chân. Sừng ngắn, tạo thành hai cánh cung xoắn chĩa ra phía sau và vễnh lên phía trên, thân hình vạm vỡ. Khối lượng sơ sinh: 30kg/con, trâu đực trưởng thành: 650­730kg, trâu cái: 350­400kg/con

Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu phối giống lúc 3 năm tuổi. thời gian mang thai 350­ 400ngày. Sản lượng sữa: 5 kg/ngày, tỷ lệ mỡ 6,8%.

Bò Vàng

­ Sắc lông có màu vàng, vàng sẩm hoạc trắng nhạt, một số con có màu đen

­ Ở mỗi địa phương khác nhau nó có đặc điểm riêng như: bò Cao Bằng, Lào Cai có màu vàng, thể vóc nhỏ từ 180 ­ 200kg. Bò Thanh Hoá, Nghệ An có thể vóc to hơn, từ 200 ­ 300 kg. Còn bò ở Tây Nguyên có thể vóc to từ 250 ­ 350kg

Bò Hostein ­ friesian (HF)

Nguồn gốc: Giống bò của ở Hà Lan

Hình thái: Màu sắc lông lang trắng đen, tỷ lệ đen trắng không đồng nhất hay còn gọi là bò lang trắng đen. Thể vóc hình quả lê, bầu vú rất phát triển to xệ làm cho phần sau phát triển hơn phần trước. Đầu thanh nhỏ dài, trán hẹp, sừng thẳng ngắn, mắt to

Bò HF Mỹ có tầm vóc to nhất, khối lượng bò đực 600kg/con; bò cái 550kg/con; năng suất sữa 12000kg/305 ngày

Năng suất, sản phẩm: Sản lượng sữa trung bình 5000­6000 lít trên một chu kỳ tiết sữa (305 ngày), mỡ sữa 3,2­3,7%

Phân bố: Hiện nay bò được nuôi nhiều ở Mộc Châu, Ba Vì, Lâm Đồng, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh

F1F1

F2F2

Jersey Jersey

Nguồn gốc: từ đảo Yersey – Anh, là giống bò sữa chuyên dụng, được nhập vào Việt Nam trước năm 1975

Hình thái: Màu lông của bò Jersey thay đổi từ màu sáng nhạt hay màu lông chuột đến màu nâu tối hầu như đen. Đầu, vai mông có màu lông tố hơn phần khác, lưng cổ tạo thánh một đường thẳng. Khối lượng bò đực: 600­800kg/con; bò cái: 400­600kg/con

Phân bố: Hiện nay có nuôi ở Ba Vì – Hà Tây và một số nơi khác (nhập từ Mỹ ngày 28/12/2001)

Năng suất, sản phẩm: Bắt đầu phối giống lúc 15­18 tháng tuổi. Năng suất sữa đạt 8000kg/chu kỳ với tỷ lệ mỡ là 4,7%

NÂU THỤỤY SY SĨĨ (BROWN NÂU TH

SWISS) (BROWN--SWISS)

Nguồn gốc: Từ Thụy Sĩ

Hình thái: Lông màu nâu, sừng ngắn, đầu hơi ngắn. Loại này được nuôi phổ biến ở Châu Âu, nhiều nhất ở Pháp và Ý. Khối lượng cơ thể trung bình là 700kg. Bò có khả năng chịu đựng cao, sống được ở những vùng khí hậu nóng

Sản lượng sữa bình quân 4500kg/305 ngày tiết sữa

Guernsey Guernsey

BRAHMAN BRAHMAN

Lông có màu trắng bạc hoặc trắng xám, đầu hơi dài, trán dô, tai to rủ đưa ra phía sau, u to. Yếm rộng nhiều nếp gấp; ngực sâu nhưng hơi lép; chân cao, đuôi dài

Khối lượng sơ sinh: 24 kg/con, lúc 12 tháng tuổi bò đực nặng: 211kg, bò cái: 177 kg/con. Lúc trưởng thành bò đực: 800kg, bò cái 450kg/con. Tuổi đẻ lứa đầu khá muộn; 40 tháng, thời gian mang thai 286 ngày; khoảng cách 2 lứa đẻ: 18 tháng.

Bò Santa – Gestrudis

Nguồn gốc: Được tạo thành ở vùng Santa – Gestrudis, bang Textas­ Mỹ, do kết quả lai tạo giữa bò Brahman với bò Sorthorn. Giống nuôi thích hợp với các vùng khô nóng, được công nhận giống từ năm 1940

Hình thái: Bò có thể chất vững chắc, tầm vóc to lớn, thịt cơ nỗi rõ, lông đỏ nâu. Trưởng thành bò cái nặng 600­650 kg, bò đực: 800­1000kg/con

Năng suất: tỷ lệ thịt xẻ khoảng 65%.

Bò Red Sindhi

Màu nâu sẫm hoặc nâu nhạt, đầu to ngắn, trán dô, mắt sừng to lồi, hơi ngắn, cổ to ngắn có yếm kéo dài đến bụng. Bò có u cao thể vóc trung to, bình, hơi thấp

Có khả năng cho sữa cho thịt và cày kéo tốt. Bò sống thích hợp với vùng nóng, tình chịu đựng cao. Sản lượng sữa khoảng 1500 ­ 2000kg/305 ngày tiết sữa, tỷ lệ mỡ sữa 4,9 ­ 5%

LAI SIND LAI SIND

BBBBBB

Angus Angus

BELGBLO BELGBLO

HEREFORD HEREFORD

SIMENTAL SIMENTAL

Dê cỏ

Có từ lâu đời ở nước ta, có sự phân bố rộng

Màu lông chủ yếu là đen, vàng, nâu và cánh gián. Một số dê có hai sọc nâu hoặc đen ở mặt, có một dãi lông đen kéo dài dọc lưng, bốn chân có đốm đen. Khối lượng dê sơ sinh:0,8­1,8 kg/con. Dê đực trưởng thành: 35­40 kg, dê cái: 25­30kg/con.

Bắt đầu phối giống lúc 7­8 tháng tuổi. mỗi năm dê đẻ 1,5 lứa. mỗi lứa đẻ 1,4 con. Dê động dục nhiều vào các tháng 3­5 và 9­12 hàng năm

BBÁÁCH TH

CH THẢẢOO

Có từ lâu đời tại Ninh Thuận, được nuôi nhiều ở Ninh Thuận, Phan Thiết, Phan Rang, Hà Tây....

Màu lông đen đốm trắng song song trên mặt, 4 chân và bụng. Hầu hết có sừng nhỏ và chếch ra phía sau. Có ít con không sừng và râu cằm. Tai to, dài cụp xuống. Con cái có bầu vú phát triển, núm vú dài 5­6cm.

Khối lượng dê sơ sinh: 2,5­2,8 kg/con. Dê đực trưởng thành: 65­ 80 kg, dê cái: 40 ­ 45kg/con.

­ Bắt đầu phối giống lúc 7­8 tháng tuổi. Mỗi năm dê đẻ 1,5 lứa. mỗi lứa đẻ 1,7 con. Chu kỳ vắt sữa của dài 5 tháng, mỗi ngày cho 0,8­1,3kg sữa

SANEN SANEN

Nguồn gốc: Là giống dê chuyên dụng sữa của Thụy Sỹ. được nhập vào Việt Nam từ Pháp năm (1998) và từ Mỹ năm (2002). Hiện nay được nuôi ở Trung tâm Nghiên cứu Dê và thỏ Sơn Tây – Hà Tây. Dê có lông ngắn màu trắng Hình thái: Da có những đốm đen hoặc màu nâu vàng nhạt ở tai, mũi và vú. Tai đứng cuộn tròn hướng ra phía trước. Đầu thon, lưng thẳng, thân hình nêm, ngực nở

Khối lượng dê sơ sinh: 3­3,3 kg/con. Lúc trưởng thành: Dê đực cao 94cm, nặng 80 kg, dê cái cao 80cm, nặng 60kg/con

Bắt đầu phối giống lúc 235 ngày tuổi. Năng suất sữa 2,8kg/con/ngày. Chu kỳ sữa 264 ngày. Sản lượng sữa 756kg/chu kỳ. Tỷ lệ mở sữa 3­4%

BOER BOER

Nguồn gốc: Là giống dê chuyên dụng thịt được nhập từ Mỹ vào Việt Nam (2002). Hiện nay được nuôi ở Trung tâm Nghiên cứu Dê và thỏ Sơn Tây – Hà Tây và thành phố Hồ Chí Minh.

Thân có màu trắng, cổ , đầu và tai màu nâu đỏ, trán và mặt trắng. Tai to và cụp, sừng thường uốn cong về phía sau. Đầu to khỏe, mắt màu nâu. Dê đực nặng 110­135 kg, dê cái nặng 90­ 100kg/con.

Tuổi dậy thì của Dê đực lúc 6 tháng tuổi, dê cái lúc 10­ 12 tháng tuổi. Mỗi năm đẻ 1,5 lứa, tăng khối lượng 220g/ngày

GGÀÀ HHỒỒ

GGÀÀ MMÍÍAA

GGÀÀ NÒINÒI