
Mối quan hệ giữa sự phát triển của thị trường tài chính và giảm phát thải khí nhà kính tại Việt
Nam
- Đơn v ch tr: Viện Chiến lược và Chính sách tài chính
- Ch nhiệm nhiệm v: ThS. Lưu Ánh Nguyệt
- Năm giao nhiệm v: 2022 M, s-: BTC/ĐT/2022-30
1. Tính c%p thi&t của v%n đ( nghiên c*u
Sự “nóng lên” ca trái đất đang là m-i quan ngại hàng đầu ca các qu-c gia, mà một trong những
nguyên nhân chính xuất phát từ việc phát thải khí nhà kính. Nhiều nghiên cứu về m-i quan hệ nhân quả
giữa phát thải khí nhà kính và tăng trưởng kinh tế với mc đích tm ra xu hướng vận động ca hai yếu t-
này nhằm đưa ra các chính sách thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững và tăng trưởng xanh. Tăng trưởng
kinh tế cao trong quá khứ được hỗ trợ bởi việc tiêu th năng lượng, hầu hết từ nhiên liệu hóa thạch.
Trong đó, m-i quan hệ giữa sự phát triển ca th trường tài chính và lượng phát thải khí nhà kính, mà
ch yếu là khí CO2 có sự khác biệt giữa các nền kinh tế có mức độ phát triển kinh tế, tài chính… khác
nhau. Một s- nghiên cứu đ, chọn mẫu là các nước đang phát triển, các nước mới nổi (điển hnh là
Trung Qu-c, Ấn Độ…). Tuy nhiên, rất ít bằng chứng thực nghiệm về m-i quan hệ này tại Việt Nam.
Nhiều bằng chứng thực nghiệm về cách th trường tài chính tạo động lực cho các công ty để có trách
nhiệm hơn với việc giảm phát thải khí CO2, hoặc ngược lại, sự phát triển th trường tài chính góp phần
khiến lượng phát thải khí CO2 tăng lên tại một s- qu-c gia trên thế giới. Các kênh tác động khác nhau
khiến cho m-i quan hệ này khác biệt theo các mức độ phát triển, theo các đặc điểm khác nhau ca nền
kinh tế, hệ th-ng tài chính và một s- yếu t- khác…
Vấn đề đặt ra hiện nay là, việc mở rộng th trường tài chính có gây bất lợi cho môi trường v vừa thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa thải ra các chất gây ô nhiễm. Hay ngược lại, sự phát triển ca th trường tài
chính có mang lại những tác động tích cực, đnh hướng các nền kinh tế theo hướng tăng trưởng bền
vững. Liệu th trường tín dng và th trường chứng khoán có tác động như nhau đ-i với các vấn đề về
giảm phát thải khí nhà kính? Nghiên cứu về m-i liên hệ giữa th trường tài chính và lượng khí thải CO2
là rất quan trọng v hầu hết quá trnh chuyển đổi toàn cầu sang nền kinh tế CO2 thấp sẽ cần được tài trợ
bởi khu vực tài chính tư nhân nếu các mc tiêu khí hậu qu-c tế được đáp ứng đúng hạn. Nếu th trường
tài chính không phát huy vai trò, hiệu quả trong huy động tài chính cho thực hiện mc tiêu giảm phát thải
khí nhà kính th Việt Nam khó có khả năng đ điều kiện tài chính tài trợ cho các nhiệm v, giải pháp liên
quan. Theo đánh giá ca Ngân hàng Thế giới (2022) , việc theo đuổi lộ trnh phát triển kết hợp khả năng
ch-ng chu và phát thải ròng bằng 0 tại Việt Nam đòi hỏi thêm các khoản đầu tư tương đương khoảng
6,8% GDP mỗi năm, tương đương khoảng 368 tỷ USD đến năm 2040. Trong đó, hành trnh khử các-
bon nhằm đáp ứng các cam kết qu-c tế sẽ đòi hỏi thêm 114 tỷ USD đến năm 2040, bao gồm 81 tỷ USD
đầu tư và 33 tỷ USD cho các chương trnh x, hội. Nhu cầu tài chính này đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực
khuyến khích đầu tư tư nhân, ưu tiên xanh hóa khu vực tài chính, phát triển các công c dựa trên th
trường như cổ phiếu xanh, trái phiếu xanh…
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu “M-i quan hệ giữa sự phát triển ca th trường tài
chính và giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam” là cần thiết nhằm cung cấp thêm cơ sở lý luận và
thực tiễn về vai trò ca th trường tài chính trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường, phát thải khí
nhà kính tại Việt Nam.
1

2. M,c tiêu nghiên c*u
Nghiên cứu m-i quan hệ giữa sự phát triển ca th trường tài chính và giảm phát thải khí nhà kính tại
Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất khuyến ngh chính sách phát triển th trường tài chính hỗ trợ giảm phát
thải khí nhà kính ở Việt Nam.
3. Đối tư/ng và phạm vi nghiên c*u
- Đ-i tượng nghiên cứu: M-i quan hệ giữa sự phát triển ca th trường tài chính và giảm phát thải khí
nhà kính.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung giảm phát thải khí các- bon (CO2) và th
trường tài chính (th trường tín dng và th trường chứng khoán), đồng thời nghiên cứu đánh giá m-i
quan hệ hai chiều giữa sự phát triển ca th trường tài chính và giảm phát thải khí nhà kính, trọng tâm
vào tác động ca sự phát triển ca th trường tài chính tới lượng phát thải khí các-bon. Nghiên cứu thực
nghiệm m-i quan hệ giữa sự phát triển ca th trường tài chính và phát thải khí CO2 ở Việt Nam giai
đoạn 1990 - 2020 và phân tích thực trạng giai đoạn 2011 - 2022. Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm các
qu-c gia trên thế giới (điển hnh cho nhóm các nền kinh tế phát triển, mới nổi và đang phát triển), trong
đó tập trung vào các nền kinh tế tại khu vực châu Á.
4. K&t quả nghiên c*u
(1) Đề tài đ, hệ th-ng những vấn đề lý thuyết về m-i quan hệ giữa sự phát triển ca th trường tài chính và
giảm phát khí thải nhà kinh, c thể như một s- vấn đề về sự phát triển ca th trường tài chính, giảm phát
thải khí nhà kính; sự cần thiết và mc tiêu giảm phát thải khí nhà kính; các giả thuyết về m-i quan hệ giữa
sự phát triển ca th trường tài chính và giảm pháp thải khí nhà kính; các công c th trường tài chính thúc
đẩy giảm phát thải khí nhà kính và các kênh tác động giữa sự phát triển ca th trường tài chính và giảm
phát thải khí nhà kính; các nhân t- tác động tới m-i quan hệ giữa sự phát triển ca th trường tài chính và
giảm phát thải khí nhà kinh. Theo đó, hiệu ứng nhà kính là hiện tượng gây nên tnh trạng biến đổi khí hậu,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời s-ng con người cũng như môi trường xung quanh, chính v vậy cần phải
giảm phát thải khí nhà kính để có thể giảm tác hại ca hiệu ứng này. Các công c tài chính xanh được
phát triển để hỗ trợ các tổ chức phát hành và nhà đầu tư thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh
doanh liên quan tới quá trnh chuyển đổi khí hậu. Nếu được thiết kế phù hợp và phát huy hiệu quả, các
công c tài chính xanh giúp th trường tài chính cải thiện thông tin về ri ro khí hậu ca các khoản đầu tư,
đnh giá chi phí liên quan tới khí hậu, đặc biệt là thông tin liên quan tới lượng phát thải khí nhà kính, từ đó
góp phần tăng hiệu quả th trường và tính thanh khoản để hỗ trợ quá trnh chuyển đổi sang nền kinh tế
các-bon thấp. Trong trường hợp quá trnh chuyển đổi diễn ra lộn xộn do những thay đổi đột ngột từ chính
sách ca các bên liên quan, các công c tài chính xanh có thể giúp th trường quản lý mức độ ri ro, hấp
th tổn thất đ-i với các tài sản sử dng nhiều các-bon và chuyển hướng đầu tư sang các tài sản ít ri ro
hơn liên quan tới các chính sách cắt giảm lượng phát thải các-bon.
Các kênh tác động giữa sự phát triển ca th trường tài chính và giảm phát thải khí nhà kính bao gồm tác
động trực tiếp từ sự phát triển ca th trường tài chính tới giảm phát thải khí nhà kính; tác động gián tiếp từ
sự phát triển ca th trường tài chính tới giảm phát thải khí nhà kính và tác động từ giảm phát thải khí nhà
kính tới sự phát triển ca th trường tài chính. Những nhân t- ch yếu tác động tới m-i quan hệ giữa sự
phát triển th trường tài chính với lượng phát thải các-bon là tăng trưởng kinh tế, dòng v-n đầu tư trực tiếp
nước ngoài, các chính sách kinh tế, chính sách phát triển th trường tài chính với trọng tâm về th trường
tài chính xanh, các ri ro chuyển đổi khí hậu và sự tham gia ca các ch thể trong nền kinh tế.
2

(2) Đề tài đ, nghiên cứu kinh nghiệm ca một s- qu-c gia (Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản,Trung Qu-c, Ấn Độ …)
về m-i quan hệ giữa sự phát triển ca th trường tài chính và giảm phát thải khí nhà kính, các chính sách
phát triển th trường tài chính hỗ trợ giảm phát thải khí nhà kính, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam. Một s- bài học Việt Nam có thể vận dng, tham khảo như: (i) Phát triển đồng bộ, cân bằng các cấu
phần th trường tài chính, tăng chiều sâu ca th trường chứng khoán; (ii) Phát triển đa dạng các sáng kiến,
công c tài chính thúc đẩy thực hiện giảm phát thải khí nhà kính; (iii) Phát triển các nền tảng cho việc thúc
đẩy và ứng dng công c tài chính mới, gắn với mc tiêu giảm phát thải khí nhà kính; (iv) Phát triển th
trường tài chính song hành cùng các cơ chế tài chính khác để huy động hiệu quả nguồn lực tài chính cho
mc tiêu giảm phát thải khí nhà kính; (v) Tăng cường hợp tác qu-c tế.
(3) Đề tài đ, phân tích thực trạng sự phát triển ca th trường tài chính và giảm phát thải khí nhà kính tại
Việt Nam. Theo Bộ chỉ s- phát triển th trường tài chính năm 2021 ca Quỹ Tiền tệ Qu-c tế (IMF), mức độ
phát triển chung ca TTTC Việt Nam ở mức 0,38, tương đương với nhóm nước đang phát triển (0,35) và
còn khoảng cách khá lớn so với các nước phát triển (0,65). Cấu trúc TTTC Việt Nam có đặc điểm hệ th-ng
ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong cung ứng nguồn v-n cho nền kinh tế. Kênh tín dng hệ th-ng tổ
chức tín dng (TCTD) giúp cung cấp trên 50% tổng nhu cầu v-n ca nền kinh tế. Th trường v-n Việt Nam
thường được hiểu là th trường nợ vay dài hạn ca ngân hàng, th trường cổ phiếu và th trường trái phiếu.
Tỷ lệ giá tr v-n hóa th trường cổ phiếu so với quy mô th trường v-n ca Việt Nam đạt khoảng 32% và có
cấu trúc th trường tương tự Trung Qu-c. Các TTTC Malaysia, Thái Lan, Nhật Bản có cùng cấu trúc ph
thuộc vào hệ th-ng ngân hàng nhưng cân bằng hơn với khoảng từ 40 - 50%, trong khi Indonesia,
Singapore, Ấn Độ có cấu trúc th trường nghiêng hẳn về th trường cổ phiếu. Về độ sâu ca TTTC Việt
Nam, các chỉ s- thành phần độ sâu ca tổ chức tài chính ở mức 0,34 điểm, cao hơn Indonesia (0,16),
tương đương Ấn Độ (0,39), thấp hơn Trung Qu-c (0,49) và có khoảng cách xa so với Thái Lan, Malaysia,
Singapore, Nhật Bản. Độ sâu ca ca th trường chứng khoán là 0,24, tương đương Indonesia và thấp
hơn rất nhiều so với các th trường trong khu vực. Về mức độ tiếp cận ca TTTC, mức độ tiếp cận ca tổ
chức tài chính Việt Nam ở mức 0,73 điểm, thấp hơn không đáng kể so với các qu-c gia trong tệp so sánh,
tuy nhiên mức độ tiếp cận ca th trường chứng khoán Việt Nam ở mức 0,38 điểm, tương đương với
Indonesia (0,33) và thấp hơn nhiều lần so với Malaysia (0,70) trong khi các th trường khác ở mức 1 điểm.
Về hiệu quả ca TTTC, hiệu quả ca tổ chức tài chính Việt Nam ở mức 0,15 điểm, thấp hơn nhiều lần so
với Ấn Độ (0,27), Singapore (0,32), Indonesia (0,40), Trung Qu-c (0,46), Thái Lan (0,7). Hiệu quả ca
TTCK Việt Nam ở mức điểm 0,40, cao hơn Indonesia (0,34) và Ấn Độ (0,20) và cách xa so với Singapore
(0,80), Nhật Bản (0,62). Việt Nam là một trong hai qu-c gia (cùng với New Zealand) đ, vượt qua mc tiêu
giảm phát thải khí các-bon dựa trên mc tiêu đóng góp qu-c gia tự quyết đnh (NDC) theo đánh giá ca
PwC. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nằm trong nhóm các nền kinh tế đang vẫn còn ở khá xa đích đến (cùng
nhóm với Bangladesh, Philippines, Pakistan). Trong hai thập niên vừa qua, với t-c độ tăng trưởng nhanh,
Việt Nam là một trong những nền kinh tế thâm dng về các-bon nhất khu vực Đông Á.
Bên cạnh đó, đề tài đ, đánh giá thực trạng m-i quan hệ giữa phát triển ca th trường tài chính và giảm
phát thải khí nhà kính tại Việt Nam thông qua phương pháp NARDL, ARLD và kiểm đnh Granger đ-i với
chuỗi s- liệu năm ca sự phát triển th trường tài chính theo IMF, tăng trưởng GDP, tăng trưởng dòng v-n
FDI vào và lượng phát thải khí các-bon trong giai đoạn 1990 - 2020. Kết quả cho thấy, tồn tại m-i quan hệ
cùng chiều trong ngắn hạn giữa sự phát triển TTTC tới lượng phát thải khí các-bon tại Việt Nam. Điều này
đồng nghĩa với khi sự phát triển ca th trường tài chính tăng lên, lượng phát thải khí các-bon cũng gia
tăng, hay sự phát triển ca TTTC chưa góp phần giảm phát thải khí các-bon trong phạm vi thời gian
3

nghiên cứu 1980 - 2020. Tồn tại m-i quan hệ dài hạn, bất đ-i xứng giữa sự phát triển TTTC tới lượng phát
thải khí CO2 tại Việt Nam. Chỉ tồn tại m-i quan hệ tác động nhân quả Granger một chiều từ sự phát triển
ca TTTC tới lượng phát thải khí CO2 mà không có m-i quan hệ ngược lại tác động ca lượng phát thải
khí CO2 tới sự phát triển ca TTTC tại Việt Nam. Chính sách về tăng trưởng xanh ban hành năm 2012 có
ý nghĩa tích cực nhất đnh đ-i với việc khiến sự phát triển th trường tài chính giúp thực hiện mc tiêu giảm
phát thải các-bon. Cấu trúc TTTC Việt Nam có ảnh hưởng tới lượng phát thải khí các-bon. Phân tích thực
trạng cho thấy sự phát triển tăng lên ca th trường tài chính Việt Nam chưa hỗ trợ giảm phát thải khí nhà
kính trong giai đoạn vừa qua, do một s- vấn đề về sự thiếu ht ca các công c tài chính tích hợp nội dung
giảm phát thải khí nhà kính, th trường tài chính chưa phát triển đến trnh độ cao để đảm bảo huy động
v-n, phân bổ v-n đáp ứng nhu cầu ca các đ-i tượng tham gia trên th trường, bao gồm cả nhu cầu đầu
tư xanh nói chung và đầu tư vào quá trnh giảm phát thải khí nhà kính nói riêng.
(4) Trên cơ sở phân tích thực trạng m-i quan hệ giữa sự phát triển ca TTTC Việt Nam và giảm lượng
phát thải khí CO2, bài học kinh nghiệm ca một s- qu-c gia, đề tài đề xuất một s- khuyến ngh chính sách
phát triển th trường tài chính hỗ trợ giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam. Để phát triển th trường tài
chính, đề tài khuyến ngh cân bằng các cấu phần th trường tài chính; từng bước đa dạng hóa cơ sở nhà
đầu tư; tiếp tc tái cơ cấu toàn diện các tổ chức tài chính; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt
động; phát triển hạ tầng công nghệ, dữ liệu; nâng cao tính minh bạch thông tin, giảm thiểu sự bất cân
xứng về thông tin trên th trường tài chính. Để phát triển th trường tài chính xanh, ngoài các giải pháp
chung (như áp dng tiêu chí, tiêu chuẩn chứng khoán xanh, tín dng xanh; nghiên cứu ban hành sáng
kiến cơ chế, chính sách, kể cả cơ chế thử nghiệm (sandbox); tăng cường quản lý ri ro tài chính liên quan
đến quá trnh giảm phát thải các-bon) cần có các giải pháp phát triển th trường tín dng xanh và TTCK
xanh.Theo đó, để phát triển th trường tín dng xanh cần tăng cường minh bạch thông tin về phát thải khí
nhà kính, ri ro tài chính liên quan tới khí hậu; phân bổ tăng trưởng tín dng hoặc tái cấp v-n cho NHTM
có tính đến dư nợ tín dng xanh; nghiên cứu khuyến khích cho vay tiêu dùng xanh; nâng cao năng lực
quản tr, chính sách và th tc ca tổ chức tài chính; tăng cường năng lực đánh giá, quản tr ri ro chuyển
đổi giảm phát thải khí nhà kính khi cấp tín dng. Để phát triển TTCK xanh, Sở giao dch chứng khoán cần
nghiên cứu xây dựng chỉ s- chứng khoán trung hòa các-bon, chỉ s- trái phiếu xanh,… triển khai sản phẩm
kết hợp giữa tín dng, trái phiếu và từ nguồn hỗ trợ v-n ưu đ,i qu-c tế.
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đ, được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết đnh s-
2023/QĐ-BTC ngày 22/9/2023 ca Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm
thu nhiệm v KHCN cấp Bộ năm 2022).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại thư viện Viện Chiến lược và Chính sách tài chính./.
4

