TP CHÍ KHOA HC - S 81/THÁNG 2 (2024) 97
BO TN VÀ PHÁT HUY GIÁ TR NGH DT TH CM CA
DÂN TỘC MƯỜNG TNH THANH HOÁ
Hoàng Thanh Mai
Trường Đại học Văn hoá Hà nội
Tóm tt:Ngh dt th cm mt trong nhng loi hình di sản văn hoá phi vật th độc đáo,
th hin bn sc, giá tr văn hóa truyền thng ca dân tộc Mường ca Thanh Hoá. Bo tn
phát huy giá tr ca ngh dt th cm là hoạt động quan trng nhằm lưu giữ để không b mt
đi các giá trị văna đồng thi la chn, làm thay đi, hoàn thin các di sn, giá tr văn
hóa theo chiu hướng tốt đẹp các yếu t nguy bị mất đi hoặc không còn nguyên vn
làm cho chúng tn ti, sng mãi cùng vi thi gian. Bài viết đi sâu phân tích các yếu t
ảnh hưởng đến vic bo tn và phát huy giá tr ca ngh dt th cm ca dân tộc Mường tnh
Thanh Hoá, t đó đề xut mt s gii pháp nâng cao hiu qu thc hin bo tn và phát trin
ngh truyn thng địa phương.
T khoá: Bo tn và phát huy giá tr, dân tc Mường, ngh dt th cm
Nhn bài ngày 23.12.2024; gi phn bin, chnh sa và duyệt đăng ngày 28.02.2024
Liên h tác gi: Hoàng Thanh Mai; Email: maiht277@gmail.com
1. M ĐẦU
Khu vc min núi tỉnh Thanh Hóa là nơi sinh sống lâu đời của đồng bào các dân tc thiu s
như Mường, Thái, Mông, Dao, Thổ, Khơ Mú. Người Mường - tc danh đã được các c liu khoa hc,
các nhà nghiên cứu đồng bào t nhn v dân tc mình t xa xưa. Cũng như người Mường Hoà
Bình, Phú Th - Người Mường Thanh Hoá có ngun gc t người Vit c. Thuc nhóm ngôn ng Vit
- ng; Rt gn vi tiếng Vit (có th nói theo nghĩa tương đối 70 - 75%). Người Mường tnh Thanh
Hoá hai nhánh. Nhánh Mường c - ng gc - ng ng t Thước thường gọi Mường
Trong; Và mt b phận di cư đến t Hoà Bình vào thường gọi Mường ngoài. Người Mường Thanh
Hoá hiện nay có 341.359 người-chiếm gn 59% các dân tc thiu s trong tnh. Sng tp trung ch yếu
c huyn Ngc Lặc: 94.676 người; Thạnh Thành :76.106 người; thước: 53.046 người; Cm thu:
55.570 người; Và mt s min núi giáp ranh các huyn Triệu Sơn, Thọ Xuân, Trung. T xưa đến
nay, dt th cm vn là mt trong nhng ngh truyn thng của đồng bào các dân tộc trong đó có dân
tộc Mường. Vic bo tn và phát trin ngh dt th cm truyn thng còn gp nhiều khó khăn do nhiều
nguyên nhân: thói quen s dng vi dt công nghip, qun áo may sn, th trường tiêu th sn phm thu
hp thế h tr không mn vi vic gìn gi, phát trin ngh th công truyn thng ca dân tc
mình. Bi vy, cn có s chung tay t phía chính quyn và cộng đồng ch th di sn văn hoá nhằm bo
tn và phát huy ngh dt th cẩm để lưu giữ các giá tr văn hoá truyền thng dân tc, phát trin du lch,
to vic làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.
98 TRƯỜNG ĐẠI HC TH ĐÔ HÀ NỘI
2. NI DUNG
2.1. Vài nét ngh dt th cm truyn thng ca dân tc ng Thanh Hoá
Thổ cẩm, tên tiếng Anh brocade được giải thích loại vải sản xuất thủ công, với thiết
kế các đường nét, hoa văn nổi, thường làm bằng các sợi vàng hoặc bạc. Ở Việt Nam, thổ cẩm
được hiểu là loại vải dệt thủ công bằng các phương pháp truyền thống, thường được đồng bào
các dân tộc ít người tại khu vực miền núi tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu về trang phụccác sản
phẩm gia dụng khác. Nguyên liệu để tạo nên tấm thổ cẩm đa số từ cây đay, lanh hoặc các loại
thực vật sợi khác để se thành sợi, sau đó dệt thủ công nhuộm bằng các phẩm màu tự nhiên.
Quá trình này thực hiện rất công phu. Trên tấm thổ cẩm, người ta thêu các hoa văn chủ yếu là
hình chim thú, hoa được kỷ hóa trong từng ô vuông nhỏ, cân đối. Hoa văn trên vải thổ
cẩm thường được thêu dệt hiện theo các yếu tố thẩm mỹ truyền thống của từng dân tộc. Nghề
dệt thổ cẩm được giữ gìn và lưu truyền chủ yếu qua bàn tay khéo léo của những người phụ nữ
trong gia đình. Sự mộc mạc, dấu ấn cá nhân mang đậm bản sắc trong từng tấm thổ cẩm tạo nên
sức hấp dẫn của loại sản phẩm này.
Với một số cộng đồng dân tộc thiểu số, tấm vải thổ cẩm được dệt từ cây lanh còn chứa
đựng ý nghĩa tâm linh, được như sự gắn kết giữa người sống tổ tiên. Sợi lanh dẫn đường
cho người chết trở về với tổ tiên đầu thai trở lại làm người sống kiếp sau. Để tạo ra được
một tấm vải thổ cẩm có khổ rộng, dùng để may một bộ y phục, có khi phải mất tới 2 – 3 tháng.
Tuy nhiên hiện nay, thổ cẩm còn được sản xuất công nghiệp, bằng máy móc, thiết bị với số
lượng lớn mang tính đại trà. Dệt thổ cẩm đã trở thành một nghmang tính truyền thống,
được truyền từ đời này qua đời khác. Gọi là nghề vì nó là một lĩnh vực hoạt động lao động mà
nhờ được đào tạo thông qua đào tạo, con người tri thức, kỹ năng để tạo ra các loại sản
phẩm phục vụ nhu cầu của hội. Đây cũng “là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra
những sản phẩm độc đáo, tính riêng biệt, được lưu truyền phát triển đến ngày nay hoặc
nguy bị mai một, thất truyền” Những người làm nghề thêu, dệt thổ cẩm sống quần trên
một địa bàn tổ chức, có phong tục tập quán riêng trên địa bàn một làng, vừa duy trì sản xuất,
vừa bảo tồn, giữ gìn phát triển nghề được trao truyền qua các thế hệ được gọi làng nghề
truyền thống thêu, dệt thổ cẩm. Trong số đó, người làm nghề thêu, dệt thổ cẩm được gọi là thợ
thủ công nếu họ trực tiếp tạo sản phẩm và được gọi là nghệ nhân nếu họ thành thục, nhiều kinh
nghiệm, khả năng tạo ra những sản phẩm tinh xảo, chất lượng được cộng đồng vinh danh.
Dân tộc Mường mt trong nhng dân tc lch s định lâu đời nht trên dải đất
Thanh Hóa. Người Mường còn có nhiu ngh th công truyn thống lâu đời phc v đời sng,
trong đó, phát triển nhất và đạt đến trình độ cao nht là ngh dt th cẩm. Đặc biệt, người ph
n ng có k thut dt cp váy vi nhiều hoa văn sống động, hài hòa, đẹp mt và th hin
rõ tài năng ngh thut ca các ngh nhân dân gian này. Nh vào s phát trin ca ngh dt mà
trang phc truyn thng của người Mường cũng có những đặc trưng riêng biệt và độc đáo, thể
hin ch yếu trên cp váy, áo của người ph n. Nh vào s phát trin ca ngh dt trang
phc truyn thng của người Mường cũng những đặc trưng riêng biệt độc đáo, th hin
ch yếu trên cp váy, áo của người ph nữ. Cũng giống người Thái, tr em người Mường ngay
t khi mi lên 9,10 tui, đã được các bà, các m dy dt váy, dệt khăn thổ cẩm để đánh giá một
cô gái có kh năng dệt th cẩm hay không cũng như mức độ đảm đang, khéo léo của người y.
Ngh dệt được người Mường trao truyn qua c thế h và t bà dy cho m, m dy li cho
TP CHÍ KHOA HC - S 81/THÁNG 2 (2024) 99
con gái nên nhà nào cũng có khung dệt và nhà nào càng đông con gái thì càng nhiều khung dt.
Theo phong tc của người Mường, con gái khi ly chng phi t tay dt t 6 12 món đồ gm
chăn, quần áo, khăn, gối... để tặng cho gia đình nhà chồng. S vi dt được dùng trong gia đình,
váy áo đều được người ph n ng t tay dệt. Cũng chính vì thế mà trước đây những cô gái
ng hu hết ai cũng phải biết đến dt th cm rt thun thc k ngh tinh xo. Người ph
n ng t tay làm tt c các khâu, t chun b nguyên liệu như: trồng bông, trng dâu nuôi
tm, bt bông, xe si, dt vi, tìm các nguyên liu t cây rừng để nhum màu cho vi, nhum
màu ch. Tt c các nguyên liệu để nhm màu vi và ch đều là các màu sc t nhiên được ly
t c, qu, cây, v cây để pha thành nhng sắc màu đa dạng thêu thùa thành sn phm
hoàn chnh. Nhng tm vải đã dệt th may thành váy, áo, khăn, gối, đệm, chăn dùng trong
gia đình. Sản phm thêu truyn thống được làm hết sc t m, th công vi nhng công c thô
sơ. Các ha tiết được người Mường đưa vào sản phm th cm ch yếu là hình nh ca nhng
loại cây, hoa, động vt, gn b với đời sng sinh hoạt thường ngày.
2.2. Thc trng bo tn phát huy giá tr ngh dt th cm truyn thng ca dân tc
ng Thanh Hoá
Ngày nay, ngh dt th cm phát trin theo nhiều hướng khác nhau thế các sn phm
được làm ra cũng đa dạng, phong phú. Ngoài dt vải để may trang phục, đồ dùng trong gia đình
thì h cũng đã tạo ra các sn phm tính ng dụng cao như các loại túi xách, bao đựng điện
thoi, túi chng sốc máy tính, hay đơn thuần là nhng chiếc khăn choàng với ha tiết hoa văn
bt mt. Hin nay, do nhiu nguyên nhân khác nhau, ngh dt của đồng bào đã không còn được
duy trì thường xuyên, ph biến nhiu biến đổi trong các nguyên liu dệt, cấu sn phm
dt so vi truyn thống. Trước hết, đó là việc thc hiện chính sách giao đt giao rng ca nhà
nước, đồng bào dân tộc cũng nhận rừng để nuôi trng, bo v vi cam kết không phát nương,
làm ry trồng bông trên địa phn rừng được quản lý. Do đó, các nương bông không được trng
na và h qu tt yếu là ngh dt vải đi vào ngõ ct bi không còn ngun nguyên liu t thân.
Thêm vào đó, hội phát trin, các sn phm may mc công nghiệp được bán nhiu trên th
trường nên hình ảnh người ph n ng ngi bên khung ci, t m dt vi, thêu thùa không
còn d dàng bt gặp như trước. Si bông t nhiên và màu nhum sợi đưc to ra t các cây v
cứng như trong truyền thng gi ch yếu đã được thay thế bng si vi công nghip với đủ loi
màu sc, thuc nhum công nghip bán sn trên th trường d dệt hơn, giá cả li hp lý, không
tn nhiu thi gian, công sức, do đó người ph n dt vải cũng đỡ vt v hơn trước rt nhiu.
Ngh dt th cẩm đang dần b mai mt, mt s còn duy trì nhưng không còn thực hiện đầy
đủ các công đoạn, ch mua si v dt. Vì thế, mc các sn phm th cm vẫn đang được duy trì
trong sinh hoạt văn hóa ờng nhưng số người biết dt th cm không nhiu ch yếu
người độ tui trung niên và cao tui. Thc tế tnh Thanh Hoá, ngh dt th cm ch còn tn
ti các bản làng người Mường t đông đúc như Ngọc Lc, Thch Thành, Cm Thy,
Thước nhưng duy chỉ 02 bn hình dt th cm vi t sn xuất trên dưới 20 lao
động. Đó là tổ sn xut th cm Ching Kht, xã Đồng Lương (huyện Lang Chánh) còn sót li
mt t sn xut ngh dt th cm vi gn 20 ngh nhân tui t 46 60 tui. Sn phm cơ sở
này ngoài dt dây thắt lưng, dt lai váy, chân váy... còn sn xut các sn phm tiêu th thường
xuyên các ch và bán cho các đại lý là váy, áo, khăn, chăn, đệm phc v nhu cu nội địa ca
bà con dân tộc Mường trong và ngoài vùng. Ngoài ra còn có cơ s sn xut hàng th cm dân
100 TRƯỜNG ĐẠI HC TH ĐÔ HÀ NỘI
tộc Mường Bo Hng (làng Nhi, Cao Ngc, huyn Ngc Lc) 40 ph n vi vic làm
thường xuyên, thu nhp t 4-4.5 triệu đồng/tháng. Năm 2020 - 2022, tuy ảnh hưởng ca dch
bệnh, nhưng doanh thu của sở vẫn đạt 1, 2 t đồng, tr chi phí thu lãi gn 300 triệu đồng.
Tại s sn xut hàng th cm dân tộc Mường Bo Hng còn dt thêm nhng sn phm s
dụng trong đời sống thường nhật như túi thổ cẩm, khăn, mt gi, vỏi chăn, mặt địu, túi xách…
vi giá t vài chục đến vài trăm nghìn đồng/ sn phm. [3]
Vấn đề s dng trang phc truyn thng của người Mường tỉnh Thanh Hoá đang xu
hướng giảm Đối vi nam gii, hin nay không còn s dng trang phc truyn thng; thanh thiếu
niên, tr nh cũng không mặc trang phc truyn thng. S người trung tuổi và người già ít mc
trang phục trong ngày thường, ch mc trong dp l, tết, đám cưới hoc các s kin trọng đại.
Đối vi trang phục thường ngày, t l nam gii mc trang phc là 2,82%; n gii mc trang phc
là 10,25%.. Đối vi trang phc l tết, t l nam gii mc trang phc là 3,5%; n gii mc trang
phục là 15,57%. Đối vi trang phục đám tang, tỉ l nam gii mc trang phc là 3,51%; n gii
mc trang phc 10,25 %. [3]. S người biết ngh dt, may trang phc truyn thng còn rt ít;
thế h tr nhiều người không biết thao tác mặc đúng bộ trang phc ca dân tộc mình. Trường
hợp người Mường huyn Thch Thành mt d, vic bo tn phát huy giá tr trang
phc truyn thống người Mường hin nay vn n nhiều khó khăn, hạn chế: Hin nay, trang
phc truyn thng của người Mường Thch Thành còn li không nhiu, ch yếu tp trung các
gia đình thuộc các vùng người Mường gốc như Thạch Lâm, Thạch Tượng, Thch
Qung, Thch Cm, Thạch Sơn, Thạch Bình, Thành M, Thành Yên, Thành Vinh, Thành Minh,
Thành Công, Thành Trc, Thành Tân, Thành Long, Ngc Tro, Thành Th. Trang phc ch
yếu dùng trong các s kin quan trọng như ngày Tết Nguyên đán, hội làng, các dp sinh hot
văn hóa thể thao công cng, làng xã, l hi truyn thng tại địa phương (lễ hội Đình Mường
Đòn, Lễ hội Đền Tam Thánh, Đền Thánh Mu, L hội Đền Hang Bng, L hội vùng Mường
Ngạo v.v… Trong sinh hoạt ngày thường, nam gii hin nay mặc theo người Kinh, không mc
trang phc truyn thng. Trang phc truyn thng của đám tang hầu như không còn duy trì, đa
s hin nay mc theo trang phc của người Kinh; S loi b s ng các b trang phc
truyn thng của đồng bào Mường các dân tc thiu s khác trên địa bàn huyn ngày càng
gim; s người mc duy trì trang phc truyn thng hin nay ch yếu là người trung, cao
tui, thế h tr hu như không còn duy trì đã chuyển mc trang phục theo người Kinh; Trong
nhà trường, hc sinh mc trang phc của người Kinh, trang phc hiện đại khi đến trường, rt ít
học sinh người Mường mc trang phc truyn thng.Thc tế đó cũng ảnh hưởng rt lớn đến
nhu cu ca may mc trang phc th cm truyn thng của đồng bào và đầu ra cho sn phm
dt th cm th công truyn thng. [1]
Vic truyn dy ngh dt th cm truyn thng hin nay ti các bản làng người Mường
tỉnh Thanh Hoá ít được t chc trong cộng đồng. Hoạt động dy ngh chưa được s h tr ca
chính quyền địa phương để t chc thành lp truyn ngh thường xuyên và chính thc mà ch
yếu ch là truyn dạy trong các gia đình. Trong bối cnh hin nay khi kinh tế, xã hi phát trin
các sn phm ca ngh dt th công chưa đáp ứng được nhu cu th hiếu của người s dng;
Ngun nhân lc, k năng nghề nghip và s đam mê, tâm huyết của đối vi ngh, những người
tr không còn mn vi ngh truyn thng. Đứng trước quá trình đô thị hóa din ra nhanh
chóng, trước sc mnh ca công ngh hiện đại, các xu ng hiện đại a đang mt trong
TP CHÍ KHOA HC - S 81/THÁNG 2 (2024) 101
tng ngõ ngách ca cuc sống đã và đang làm ảnh hưởng ti ngun nhân lc ngh th công ti
các địa phương. Nhiều người không my mn vi ngh dt th công truyn thng do thu
nhp thp nên h xu hướng dch chuyển ra các đô thị đểm kiếm vic làm có thu nhp cao
hơn.
Để duy trì phát trin ngh dt th công các tộc người thiu s nói chung Mường
nói riêng còn nhiu bt cp khác nữa như những vấn đề v vùng nguyên liu, nghiên cu th
trường, đảm bảo đầu ra cho sn phẩm… cũng đang những thách thc c làng người Mường
đang có ngh dt th cm truyn thng hin nay.
2.3. Gii pháp bo tn và phát huy giá tr ca ngh dt th cm truyn thng
Mc dù đt đưc nhng kết qu c đu trong công c bo tn, phát trin trang phc truyn thng
các dân tc thiu s, tuy nhiên đ đápng đưc so vi yêu cu đ ra tuy nhn đ ngh dt th cm bo
tn và phát trin bn vng cn s quan tâm ca Cp y Đng, cnh quyn các cp phi xem công tác bo
tn di sn văn hóa dân tc nói chung và bo tn, phát trin ngh dt th cm nói riêng và ngh th công
truyn thng nói chung ca các dân tc trên đa bàn tnh Thanh Hoá là nhim v quan trng, thưng xuyên.
Th nht, Tnh cn có nhng cnh sách, chương trình, đ án, d án c th đ bo tn, pt huy ngh
th công truyn thng các dân tc thiu s trên đa bàn trong đó có ngh dt th cm ca ngưi Mưng.
Cn tp trung h tr đu tư v kinh phí nhng đa phương đã có sn các điều kin đ phát trin và bo
tn khn cp nhng vùng có nguy cơ mai mt. Ưu tiên cho h gia đình, cơ s thêu, dt th cm truyn
thng ti địa phương được tham gia các chương trình giao u, xúc tiến đu tư, hi ch, qung bá sn
phm đ tng bưc tiếp cn các th trưng trong và ngoài tnh, t đó m rng cơ sở, thu hút thêm lao đng
và nhng ni có tay ngh, đng thi truyn dy cho thế h tr tiếp cn, hc hi đ nâng cao tay ngh,
làm ra nhiu sn phm đp và có cht lưng, góp phn khôi phc, bo tn và phát trin ngh dt truyn
thng.
Th hai, để duy trì và phát trin ngh truyn thng dt th cm, cn tp trung phát trin ngh
dt gn vi bo tn các giá tr văn hóa truyền thng của người Mường gn vi quy hoch
phát trin kinh tế, hi của địa phương. Tiếp tc công tác tuyên truyn v ý nghĩa và tầm quan
trng ca vic bo tn, phát trin các ngh truyn thng trong đó nghề dt của người Mường.
T đó, từng bước nâng cao ý thc t giác, tích cc tham gia bo tồn, lưu giữ những nét hoa văn
nhng sn phm truyn thống độc đáo trong chính các cộng đồng ngh. Những người làm
ngh thêu, dt th cm sng quần cư trên một địa bàn có t chc, có phong tc tp quán riêng
trên địa bàn mt làng bn, va duy trì sn xut, va bo tn, gi gìn phát trin ngh được
trao truyn qua các thế h được gi làng ngh truyn thng thêu, dt th cm. Trong s đó,
người làm ngh thêu, dt th cm được gi th th công nếu h trc tiếp to sn phm
được gi ngh nhân nếu h thành thc, nhiu kinh nghim, kh năng tạo ra nhng sn
phm tinh xo, cht ng và được cộng đồng vinh danh.
Th ba, cn chiến lược đào to, bồi dưỡng và phát trin ngun nhân lc cho các làng
nghề, trong đó vai trò đào to, chuyn giao kinh nghim, tri thc t nhng ngh nhân cao tui
ca làng ngh cho các thế h trrt quan trng. Nâng cao trách nhim của người cao tui
những người nm gi các tri thc ca ngh trong khôi phc truyn ngh truyn thng cho
thế h trẻ. Đồng thi phát huy tt vai trò, những đóng góp, tâm huyết của người cao tui trong
khôi phc truyn ngh truyn thng cho thế h tr. Bên cạnh đó, tổ chc các lớp đào tạo