1118
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI SỐ
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
Nguyễn Thị Quỳnh Trang(1)
TÓM TẮT:
Trong bi cảnh kỷ nguyên s v cuc cch mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, chuyn
đổi s đ trở thnh xu th tất yu, quyt đnh sự pht trin của mọi ngnh nghề, lĩnh vực. Bi vit
ny tập trung đnh gi v phân tích cc nhân t ảnh hởng ti việc thực hiện chuyn đổi s tại cc
doanh nghiệp lâm nghiệp Việt Nam, đồng thời nghiên cứu mi quan hệ giữa việc thực hiện chuyn
đổi s v hiệu quả hoạt đng của cc doanh nghiệp ny. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập đc
thông qua việc khảo st nh quản lý cc cấp tại cc doanh nghiệp lâm nghiệp Việt Nam, phân tích
dữ liệu theo mô hình cấu trúc tuyn tính vi sự hỗ tr của phần mềm SPSS v Amos. Kt quả nghiên
cứu cho thấy cc nhân t Chính sch php lý, Hạ tầng công nghệ s, Chin lc chuyn đổi s, Nh
quản lý, Đi ngũ nhân lực đều có tc đng tích cực đn việc thực hiện chuyn đổi s tại cc doanh
nghiệp lâm nghiệp Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng về sự ảnh hởng
của chuyn đổi s đn hiệu quả hoạt đng của doanh nghiệp. Từ kt quả nghiên cứu, tc giả đề xuất
mt s khuyn ngh ti cc cơ quan quản lý nh nc v cc doanh nghiệp lâm nghiệp Việt Nam đ
góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chuyn đổi s trong doanh nghiệp.
Từ khoá: Cc nhân t ảnh hởng đn chuyn đổi s, chuyn đổi s, doanh nghiệp lâm nghiệp,
hiệu quả hoạt đng.
ABSTRACT:
In the context of the digital era and the 4.0 industrial revolution taking place strongly, digital
transformation has become an inevitable trend, determining the development of all industries and
fields. This article focuses on evaluating and analyzing factors affecting the implementation of
digital transformation at Vietnamese forestry enterprises; At the same time, research the relationship
between implementing digital transformation and the performance of these businesses. The study
uses data collected through surveys of managers at all levels at Vietnamese forestry enterprises,
analyzing data according to a linear structural model with the support of SPSS and Amos software.
Research results show that the factors Legal Policy, Digital Technology Infrastructure, Digital
Transformation Strategy, Managers, and Human Resources all have a positive impact on the
implementation of digital transformation at businesses. Vietnam's forestry industry. At the same
1. Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải. Email: trangntq@utt.edu.vn
1119
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
time, the study provides further evidence about the impact of digital transformation on business
performance. From the research results, the author proposes a number of recommendations to State
management agencies and Vietnamese forestry enterprises to contribute to improving the efficiency
of implementing digital transformation in enterprises.
Keywords: Factors affecting digital transformation, digital transformation, forestry enterprises,
operational efficiency.
1. Giới thiệu
Theo Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Chính
phủ Việt Nam đặt mục tiêu hiện đại hoá nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành lâm nghiệp.
Chiến lược này đưa ra cách tiếp cận tổng hợp trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ phát triển, bảo tồn rừng
đến chế biến thương mại hoá các sản phẩm lâm nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế, cạnh tranh gia tăng cũng như xu hướng phát triển nền kinh tế xanh đã đặt ra những yêu cầu mới
cho các doanh nghiệp lâm nghiệp trong việc kiểm soát, quản lý. Với lĩnh vực kinh doanh đặc thù,
để đứng vững và phát triển, các doanh nghiệp lâm nghiệp phải thực sự đổi mới sâu sắc và toàn diện
công cụ quản lý.
Thời gian qua, ngành lâm nghiệp đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp, từng bước số
hoá các hoạt động giám sát, quản lý, bảo vệ rừng. Chuyển đổi số trong ngành lâm nghiệp xu
hướng tất yếu nhằm phát triển ngành lâm nghiệp hiện đại, hiệu quả, chất lượng, bền vững, thích ứng
với biến đổi khí hậu, trong bối cảnh phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc ứng
dụng công nghệ số đã đang giúp các doanh nghiệp lâm nghiệp dễ dàng phát hiện những biến động
của rừng và đất lâm nghiệp, nhất là các vụ phá rừng, cháy rừng ở mọi vị trí, thời điểm với tính chính
xác cao nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, phát triển rừng. Bên cạnh đó, hệ thống truy xuất
nguồn gốc bằng mã vạch, QR code giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra thông tin về nguồn gốc,
chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp lâm nghiệp đã bắt đầu ứng dụng công nghệ này để chứng
minh nguồn gốc hợp pháp của sản phẩm, đảm bảo sự minh bạch và độ tin cậy trong chuỗi cung ứng,
tạo niềm tin cho người tiêu dùng và các đối tác, tăng cường uy tín trên thị trường.
Tuy nhiên, với đặc thù rừng Việt Nam trải dài từ Bắc đến Nam, chủ yếu ở vùng núi cao, hiểm
trở với diện tích rừng hơn 14 triệu hécta, nên việc ứng dụng công nghệ số trong ngành lâm nghiệp
nhiều thách thức. Phần lớn các doanh nghiệp lâm nghiệp Việt Nam còn gặp khó khăn trong việc tiếp
cận với chuyển đổi số, nguyên nhân do địa bàn sản xuất thường phân bố ở các vùng miền núi, vùng
sâu, vùng xa, vùng biên giới với giao thông khó khăn, địa hình phức tạp, sở hạ tầng kém phát
triển, đồng thời chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng,... Doanh nghiệp
lâm nghiệp cũng phải đối mặt với nhiều lo ngại, như: vấn đề tài chính non yếu, sự rỉ thông tin,
chuỗi cung ứng đứt gãy, thiếu đồng bộ của các nhân tố hạ tầng khiến cho các doanh nghiệp hoài nghi
về sự thành công của chuyển đổi số. Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
chuyển đổi số của doanh nghiệp lâm nghiệp, từ đó những định hướng chuẩn bị cho các doanh
nghiệp và kiến nghị các chính sách hỗ trợ phù hợp từ các cơ quan nhà nước là hết sức cần thiết.
1120
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
Khái niệm chuyển đổi số
Chuyển đổi số là chủ đề được quan tâm đề cập của nhiều học giả trên thế giới. Do đó, có rất nhiều
quan điểm được đưa ra về chuyển đổi số trên các khía cạnh khác nhau. Theo Maltese (2018), chuyển
đổi số quá trình con người đổi mới cách sống, cách làm việc và phương thức làm việc với công nghệ
số, việc ứng dụng những công nghệ số vào tất cả lĩnh vực nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo, cách
thức tổ chức hoạt động của đơn vị. Hay theo Cichosz (2018), chuyển đổi số việc sử dụng các công
nghệ kỹ thuật số để thay đổi mô hình kinh doanh, đồng thời tạo ra các cơ hội, thu nhập và giá trị mới.
Cũng theo quan điểm này, Hess & cộng sự (2016) cho rằng, chuyển đổi số là việc vận dụng các công
nghệ kỹ thuật số tiên tiến trong mô hình kinh doanh, dẫn đến việc thay đổi sản phẩm, cơ cấu tổ chức
hoặc tự động hoá các quy trình của doanh nghiệp. Như vậy, chuyển đổi số trong doanh nghiệp không
đơn thuần chỉ là vấn đề số hoá các dữ liệu, các quy trình hoạt động hay thông tin về tổ chức, mà còn là
quá trình ứng dụng công nghệ để xây dựng các mô hình kinh doanh, quy trình và hệ thống mới nhằm
mang lại doanh thu cao hơn, lợi thế cạnh tranh lớn hơn cho doanh nghiệp.
Theo Surahman & Legowo (2024), chuyển đổi số trong ngành lâm nghiệp là quá trình lựa chọn,
ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện số hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh, tự động hoá
thông minh hoá hệ thống điều hành giữa các nguồn lực, các hoạt động trong chuỗi giá trị sản phẩm
lâm nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, hiệu quả và phát triển bền vững.
Nền tảng lý thuyết
Nghiên cứu dựa trên học thuyết thể chế quan điểm về nguồn lực. Theo học thuyết thể chế, mọi
doanh nghiệp đều chịu tác động từ các áp lực bên ngoài, bao gồm áp lực cưỡng chế (từ chính sách,
quy định của Nhà nước) hay áp lực quy phạm (từ xu thế chung của môi trường xã hội) (DiMaggio
& Powell, 1983). Ngoài ra, theo quan điểm về nguồn lực, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp
được quyết định chủ yếu bởi việc doanh nghiệp đó sử dụng hiệu quả một tập hợp các nguồn lực hữu
hình và vô hình có giá trị. Do đó, quá trình chuyển đổi số trong doanh nghiệp cần phải phù hợp với
các điều kiện bên trong và môi trường bên ngoài, từ đó giúp nâng cao hiệu quả chuyển đổi số.
Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chuyển đổi số trong
doanh nghiệp
Hess & cộng sự (2016) đã nghiên cứu vai trò của yếu tố con người trong việc thúc đẩy các quá
trình chuyển đổi số. Để chuyển đổi số thành công, các nhà lãnh đạo phải tin tưởng vào vai trò và lợi
ích của các công nghệ mới và hỗ trợ việc triển khai chúng trong hoạt động của tổ chức. Cũng theo
quan điểm này, nghiên cứu của Alkhamery & cộng sự (2020) đã nhấn mạnh vai trò của nhà lãnh đạo,
văn hoá tổ chức đối với sự sẵn sàng chuyển đổi số trong doanh nghiệp.
Nhiều nghiên cứu đã tiến hành đề xuất mô hình và thực hiện đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển
đổi số của các doanh nghiệp nhỏ vừa tại các nước trên thế giới. Trong đó thể kể đến nghiên
cứu của Rafiah & cộng sự (2022) được tiến hành tại 113 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Indonesia. Năm
biến số được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm con người, quy trình, chiến lược, công nghệ
1121
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
tích hợp. Nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Indonesia có mức độ sẵn sàng thấp
liên quan đến cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Chử Quyết (2021) đã chỉ ra 7 nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển
đổi số thành công của các doanh nghiệp Việt Nam gồm: (i) Chính sách pháp luật hỗ trợ của
chính phủ; (ii) An toàn, bảo mật thông tin của doanh nghiệp; (iii) Quy trình số hoá; (iv) Chiến lược
chuyển đổi số của doanh nghiệp; (v) Nhân lực của doanh nghiệp; (vi) Cơ cấu tổ chức quy trình
kinh doanh của doanh nghiệp; và (vii) các dịch vụ hỗ trợ khách hàng trực tuyến.
Kết quả nghiên cứu của Võ Tiến Sĩ (2023) cũng chỉ ra 5 yếu tố ảnh hưởng tích cực đến chuyển
đổi số tại các doanh nghiệp Việt Nam bao gồm: văn hoá doanh nghiệp, chiến lược chuyển đổi số,
hạ tầng công nghệ, mục tiêu chuyển đổi số, năng lực tài chính. Ngoài ra, một số nghiên cứu khác
được tiến hành trên các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp logistics hoặc tại các trường đại học
Việt Nam. Tuy nhiên, chưa nghiên cứu nào về chuyển đổi số tại các doanh nghiệp trong lĩnh
vực lâm nghiệp.
Chuyển đổi số là bước đi thiết yếu để ngành lâm nghiệp phát triển bền vững, quản lý hiệu quả
tài nguyên và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Với sự hỗ trợ của công nghệ, các doanh nghiệp lâm
nghiệp có thể hướng tới quản lý rừng một cách thông minh, bền vững, nhằm bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên phát triển kinh tế xanh. Do đó, nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn các nhân tố ảnh
hưởng đến việc chuyển đổi số tại các doanh nghiệp lâm nghiệp Việt Nam, đề xuất hàm ý chính sách
nhằm thúc đẩy hỗ trợ các doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số xu hướng tất yếu đối với
ngành lâm nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp lâm nghiệp.
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu đề xuất
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu tiền nhiệm kết hợp với phỏng vấn chuyên gia, tác giả đề xuất
mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chuyển đổi số tại các doanh nghiệp
lâm nghiệp Việt Nam. Các giả thuyết được đưa ra bao gồm:
(H1): Quy đnh, chính sch php lý có tc đng tích cực ti việc thực hiện chuyn đổi s tại cc
doanh nghiệp lâm nghiệp Việt Nam
Những quy định, chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số sẽ cung cấp một khuôn khổ pháp
mạnh mẽ, bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệp đi đúng hướng và giảm thiểu rủi ro, từ đó đảm
bảo quá trình chuyển đổi số diễn ra toàn diện, thống nhất và hiệu quả. Chính sách quản lý nhà nước
ban hành trong quá trình chuyển đổi số sẽ giúp các doanh nghiệp được một nền tảng kiến thức
chung, các doanh nghiệp sẽ có cùng phương hướng, động lực vượt qua mọi thách thức. Do vậy các
quy định, chính sách pháp lý là một trong những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển
đổi số trong các doanh nghiệp lâm nghiệp Việt Nam.
(H2): Chin lc chuyn đổi s tc đng tích cực ti việc thực hiện chuyn đổi s tại cc
doanh nghiệp lâm nghiệp Việt Nam.
Định hướng chiến lược chuyển đổi số là quá trình sử dụng tài nguyên kỹ thuật số để
tạo ra giá trị nhằm tác động đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp (Yeow & cộng
sự, 2018). Dựa trên nền tảng chuyển đổi số, việc xây dựng và triển khai các chiến lược, kế hoạch
1122
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trở nên hiệu quả hơn, từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao kết
quả hoạt động.
Một số nghiên cứu cho thấy chiến lược số là chìa khoá thành công cho kế hoạch chuyển đổi số
của tổ chức (Bharadwaj & cộng sự, 2013; Khan & cộng sự, 2022). Theo đó, các doanh nghiệp cần
có chiến lược kỹ thuật số để phối hợp tất cả nguồn lực và nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngược lại,
nếu thiếu chiến lược chuyển đổi số có thể dẫn đến việc ra quyết định kém hiệu quả và lãng phí các
nguồn lực.
(H3): Nh quản tc đng tích cực ti việc thực hiện chuyn đổi s tại cc doanh nghiệp
lâm nghiệp Việt Nam.
Theo Surahman & Legowo (2024), nhà quản thể nâng cao sự thành công của doanh nghiệp
trong quá trình chuyển đổi số thông qua ba khía cạnh chính: (i) cập nhật xu hướng công nghệ mới,
(ii) xác lập định hướng, chiến lược chuyển đổi số (iii) hướng dẫn, quản hiệu quả việc thực
hiện các hoạt động chuyển đổi số. Do vậy, đội ngũ lãnh đạo, quản lý có vai trò rất quan trọng trong
việc tạo điều kiện và thúc đẩy quá trình chuyển đổi tại các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp
lâm nghiệp Việt Nam nói riêng. Để các doanh nghiệp lâm nghiệp thể bắt kịp xu hướng chuyển
đổi số hiện nay, các nhà quản lý cần có sự thay đổi trong tư duy và hành động để chỉ đạo, kiểm soát
việc áp dụng công nghệ số trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà quản lý cần theo dõi liên
tục xu hướng thị trường, nhận thức và nắm bắt các công nghệ, biến chúng thành cơ hội kinh doanh.
Đồng thời, với tư cách là người điều phối sự thay đổi, nhà quản lý có thể khuyến khích các bên liên
quan tham gia vào quá trình chuyển đổi số và phân bổ nguồn lực một cách phù hợp để các hoạt động
chuyển đổi số có thể phát triển thuận lợi.
(H4): Đi ngũ nhân lực tc đng tích cực ti việc thực hiện chuyn đổi s tại cc doanh
nghiệp lâm nghiệp Việt Nam.
Theo Zhou Yu & cộng sự (2021), nguồn nhân lực trong doanh nghiệp càng dồi dào, chất lượng
thì doanh nghiệp càng dễ dàng chuyển đổi số thành công. Chuyển đổi số không đơn thuần áp dụng
công nghệ số mà sự thay đổi cả hình kinh doanh, thậm chí văn hoá doanh nghiệp, do vậy
toàn bộ đội ngũ nhân lực trong doanh nghiệp cần đủ kiến thức, kỹ năng để thích nghi với môi
trường làm việc mới, vận dụng công nghệ mới một cách hiệu quả.
Ngoài ra, khả năng cạnh tranh và đổi mới của một tổ chức sẽ phụ thuộc nhiều vào kỹ năng
năng lực của đội ngũ nhân lực. Nghiên cứu của Kwon & Park (2017) cho thấy yếu tố con người
tác động đáng kể đến khả năng chuyển đổi số trong doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp phải nỗ lực
nâng cao kỹ năng của nhân viên.
(H5): Hạ tầng công nghệ s có tc đng tích cực ti việc thực hiện chuyn đổi s tại cc doanh
nghiệp lâm nghiệp Việt Nam.
nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hạ tầng công nghệ số là điều kiện tiên quyết để các doanh
nghiệp chuyển đổi số thành công. Nếu thiếu các công cụ và hệ thống công nghệ thông tin cần thiết,
doanh nghiệp sẽ không thể thực hiện các hoạt động số hoá (Cichosz, 2018; Benitez & cộng sự,
2020). Theo Nwankpa & Roumani (2016), các tổ chức có năng lực công nghệ thông tin mạnh như
Amazon, Unilever cho phép chuyển đổi kỹ thuật số ở mức độ cao trong việc cung cấp sản phẩm và