VĂN MẪU LỚP 11
CẢM NHẬN VẺ ĐẸP RIÊNG CỦA HAI BÀI THƠ “THƯƠNG VỢ”
(TÚ XƯƠNG) VÀ “TỰ TÌNH” (HỒ XUÂN HƯƠNG)
BÀI MẪU SỐ 1:
Thần thoại Hi Lạp kể lại rằng: Thượng đế đã lấy vẻ đầy đặn của mặt trăng, đường
uốn con của loài dây leo, dáng run rẩy của loài có hoa, nét mềm mại của các loài lau cón,
màu rực rỡ của nhị hoa, điệu nhẹ nhàng của những chiếc lá,để tạo nên vẻ đẹp của
người phụ nữ. Thật nghịch rằng người phụ nữ lại phải chịu bao bất hạnh đắng cay dù
họ tinh túy của đất trời, trụ. lẽ đó, nh tượng người phụ nữ luôn ám ảnh m
hồn của những người nghệ sĩ. Theo dòng chảy của thời gian, ta nhớ mãi những câu ca
than thân, bài thơ “Bánh trôi nước” , “Tự tình” của Hồ Xuân Hương “Thương vợ” của
Tú Xương. Qua ba tác phẩm, ta phần nào thấy được những bi kịch, thiệt thòi, bất công và
vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Việt Nam.
Nhắc đến Hồ Xuân Hương, người ta thường nhắc đến Chúa thơ Nôm, nữ nổi
loạn. Nổi bật trong sáng tác của Hồ Xuân ơng tiếng nói thương cảm với người phụ
nữ, là sự đề cao, khẳng định vẻ đẹp của họ. “Bánh trôi nước”, “Tự tình” là hai bài thơ tiêu
biểu cho thân phận người phụ nữ trong xã hội thời xưa. Còn nói đến Xương, người ta
thường hay nói tới ông Hoàng của thơ m một trong những đại diện xuất sắc nhất
trong văn học trung đại Việt Nam. Trong sáng tác của ông hẳn một đề tài về người vợ
rất phong phú về thể loại gồm văn, thơ, câu đối. Trong đó, “Thương vợ” một trong
những bài thơ hay và cảm động nhất viết về đề tài người phụ nữ. Qua bài thơ, ta phần nào
thấy được nỗi nhọc nhằn, vất vả cùng vẻ đẹp tâm hồn bà Tú – hình mẫu lí tưởng, đại diện
cho người phụ nữ Việt Nam.
Người phụ nữ Việt Nam đã hiện lên qua nhiều câu thơ với hình ảnh nời phụ nữ
chịu nhiều bất hạnh, đắng cay. Đầu tiên, ta phải kể đến đó “Bánh trôi nước” bài thơ
tiêu biểu cho thân phận ba chìm bảy nổi” của người phụ nữ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Với những vẻ đẹp như vậy, đáng lẽ ra người phụ nữ phải được sống một cuộc
sống hạnh phúc. Nhưng không, họ phải chịu nhiều những đắng cay, uất ức. Họ không
làm chủ được số phận, không tquyết định được hạnh phúc của mình, thân phận chìm
nổi lênh đênh. Trong xã hội phong kiến, với quan niệm trọng nam khinh nữ, người đàn bà
luôn bị nhào nặn, xô đẩy cũng như những câu ca dao than thân xưa kia:
Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?
Không m chđược số phận của mình, duyên phận bẽ bàng, hạnh phúc dở dang,
điều này được thể hiện ng qua bài thơ “Tự tình” (Hồ Xuân Hương). Tuy xuân sắc
vẫn còn, xuân tình chưa cạn nhưng người con gái chịu cảnh lẻ loi, không kẻ đoái hòa,
quan tâm:Trơ cái hồng nhan với nước non. Cô đơn, buồn tủi, thi đã dùng rượu để giải
sầu nhưng trớ chêu thay, càng uống lại càng tỉnh trơ ra. Tìm đến rượu, thi chỉ còn biết
tâm sự với trăng nời bạn tri kỉ muôn đời của những tâm hồn đơn, sầu tủi. Nhưng
rồi thi cũng chỉ thấy: Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Vầng trăng nhạt nhòa như
đồng điệu với tâm hồn của người nữ sĩ. Tuổi xuân đã sắp trôi qua, cuộc đời sắp sửa xế
bóng mà tình yêu vn dang dở, chưa một lần chọn vẹn. Bi kịch chồng chất, nối tiếp nhau.
vùng vẫy m mọi cách thoát khỏi bi kch nhưng bi kịch vẫn đeo m cuộc đời nữ
sĩ. Chính vì vậy bài thơ Tự Tình cuối cùng vẫn kết lại trong m trạng chán trường,
ngao ngán:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
Không ngao ngán, chán trường sao được khi mùa xuân của đất trời cứ trở đi, trở
lại nhưng còn tuổi trẻ tình yêu thì một đi không trở lại. “Mảnh tình” đã nhỏ bẻ mong
manh lại san sẻ thành ra ít ỏi. Cuối cùng chỉ còn một con con, cũng như không.
Đó nỗi lòng của nời phụ nữ trong hội phong kiến xưa khi với họ, hạnh phúc
chiếc chăn quá hẹp: Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Người phụ nViệt Nam không chỉ chịu nhiều đắng cau, uất ức họ cũng phải
lam lũ, vất vả, nhọc nhằn để nuôi chồng con. Điều này đã được thể hiện ràng qua lăng
kính đầy yêu thương của Tú Xương trong bài thơ “Thương vợ”:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quẵng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò Đông.
hiện lên với hình ảnh người phụ nữ buôn bán nơi đầu sông cuối chợ, chỗ
mom sông để kiếm đủ tiền, nuôi đủ “năm con với một chồng”. Buôn bán chốn ấy
hàng ngày phải đối mặt với nguy hiểm. Thấu hiểu phần nào nỗi cực, nhọc nhằn của
người vợ, Tú Xương đã đồng điệu thân cò với người bà Tú:
Lặn lội thân cò khi quẵng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò Đông
Bắt nguồn từ cao dao, dân ca nhưng Tú Xương vẫn sáng tạo rất tinh tế. Ca dao
nói theo chiều thuận « thân lặn lội » Xương lại đảo ngược « lặn lội thân ». Ca
dao đặt hình ảnh cái cò trong không gian vắng lặng, lộng gió thì Tú Xương để « thân cò »
trong không gian, thời gian khi quẵng vắng, mênh mông, heo hút, rợn ngợp. Eo sèo mặt
nước buổi đò Đông. Câu thơ gợi lên cảnh buôn bán chen chúc, đẩy nhau trên con
thuyền mỏng manh, chênh vênh, cheo leo. chồng, con, bất chấp hiểm nguy,
quên đi lời dặn ân cần của cha mẹ thuở o: Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi. Những
câu thơ thể hiện phần nào nỗi vất vả, cơ cực, khó khăn, nhọc nhằn của người phụ nữ Việt
Nam thời xưa kia.
Tuy chịu nhiều lam lũ, vất vả, nhọc nhằn, những người phụ nữ Việt Nam vẫn giữ
trong mình vẻ đẹp tâm hồn cao đẹp. Đó tấm lòng son sắt, thủy chung, cao khiết:
em vẫn giữ tấm lòng son. Thêm vào đó bản lính mạnh mẽ, cứng cỏi, không chịu khuất
phục trước hoàn cảnh của người con gái:
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đấm toạc chân mây đá mấy hòn
Nghệ thuật đảo ngkết hợp với những động từ, tính từ mạnh đã m đặc tả s
phản kháng mãnh liệt, ddội đến mức như muốn “nổi loạn” của m hồn nữ sĩ. Hai u
luận mang đậm dấu ấn, bản lĩnh Xuân Hương: đó là một cá tính mạnh mẽ, táo bạo, không
bao giờ chịu gục ngã trước hoàn cảnh, không bao giờ cúi đầu trước số phận. Hơn nữa, hai
câu thơ không làm cho lòng nời yếu mềm, bi lụy mà trái lại nó có sức cổ vũ người phụ
nữ đứng dậy trong bi kịch của đời mình. Họ không chthủy chung, son sắt ng bản lĩnh
kiên cường mà còn là người tần tảo, chịu khó, hi sinh vì chồng vì con của mình:
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Phép đếm « một …hai…năm…mười » như sự cực, cay đắng chồng chất
phải gánh chịu. Dẫu thế, nào oán trách, kêu ca. Từng trải, hiểu đời, thương
chồng, yêu con, trước sau vẫn giữ đúng đạo nghĩa v chồng. “Âu đành phận”,
“dám quản công”, đó không phải sự cam chịu thái độ bình thản, mãnh liệt, quyết
liệt. khó khăn, nhọc nhằn thế nào, vtự nguyện hi sinh chồng, vì con. Vậy
là, bức chân dung của Tú một người hình mẫu tưởng cho nời phụ nữ Việt Nam
đã hoàn thiện trong nét vẽ yêu thương, kính trọng của Xương. tiêu biểu cho
những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt : đảm đang, tháo vát, tảo tần, chịu
thương, chịu khó, hết lòng yêu thương chồng con. Đến đây, ta bỗng hiểu vì sao không ch
có ông Tú mà bao thế hệ bạn đọc luôn yêu kính bà Tú.
Tóm lại, “Bánh trôi nước”, Tự tình” của Hồ Xuân Hương “Thương vợ” của
Tú Xương, mỗi bài thơ một cảnh ngộ, một nối niềm nhưng các tác phẩm đều khiên chúng
cảm thương trước thân phận người phụ nữ, thêm trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của họ. Chính
sự gặp gỡ trong cảm xúc nhân văn đẹp đẽ của các nhà văn, nhà thơ đã tạo nên sức lâu bền
của tác phẩm trong tâm trí người đọc.
BÀI MẪU SỐ 2:
Hình ảnh người phụ nữ VN tlâu đã trở thành đề tài muôn thuở cho các nhà thơ,
nhà văn. Đặc biệt qua các bài TTình của HXuân Hương Thương Vợ của Trần Tế
Xương chúng ta sẽ hiễu thêm phần nào về thân phận của người phụ nthời xưa dưới
chế độ phong kiến.
"Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non"
Với bút pháp tả thực, từ ngữ giản dị đã gợi cho ta thấy được sự đơn lanh lẽo
trong cái không gian thanh vắng trống trải của đêm khuya. Từ ngữ "hồng nhan" nám
chỉ một người phụ nxinh đẹp, quyến rủ thế nhưng lại c"trơ" ra. Hồ Xuân Hương
đã mạnh dạn công khai một hiện thực hết sức bẽ bàng, chua xót đang nếm phải.Và
cũng từ đó nhận ra được số phận của những người phụ nữ trong chế độ phong kiến
thối nát, với những quan niệm"trai thì nam thê bảy thiếp" đã làm cho người phụ nữ không
được một chỗ đứng trong hội, họ lo lắng cho thân phận trôi nổi cuả mình bởi họ
không thể quyết định được duyên phận của bản thân họ.
"Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tàn"
đã mượn rượu để quên đi tình, quên đi cái số phận hẩm hiu của mình, nhưng
say rồi lại tỉnh lại càng buồn tủi hơn, đau khổ hơn.HÌnh ảnh vầng trăng sắp tàn mà lại
khuyết chưa tròn như ngự ý một nhân duyên không trọn vẹn tuổi xuân thì cứ lạnh
lùng trôi qua.
"Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn"
Khoảng không gian như được mở rộng hơn qua tầm nhìn của tác giả, những động
từ "đâm", "xiên" gợi lên sự mạnh mẽ, bướng bỉnh thể hiện skháng cự đầy quyết liệt của
Hồ Xuân Hương, một nỗi khao khát được hạnh phúc, được một mái m gia đình,
được người chồng thương yêu chăm sóc ch không phải ngồi một mình trong đêm
khuyên thanh vắng với sự đơn lạnh lẽo trong nỗi buồn tủi, m trạng chán chường
trước một mảnh tình không được trọn vẹn mà phải "chia năm sẻ bảy" để rồi cuối cùng chỉ
còn một mảnh "tí con con". Mặc bản lỉnh giỏi gian như thế nào cũng không
thoát khỏi được nghịch cảnh. Bởi người phụ nữ không hề được địa vị trong hội
này.Cái hội "trọng nam khinh nữ","nhất nam viết hữu thập nữ viết vô" đã m cho
người phụ nữ điêu đứng, nhưng cũng từ đó những phẩm chất tốt đẹp của họ được bộc lộ
rõ nét hơn..
"Quanh năm buôn bán ở mom sông