intTypePromotion=4

Cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt

Chia sẻ: Năm Tháng Tĩnh Lặng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
161
lượt xem
17
download

Cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nghiên cứu vấn đề xác định và miêu tả cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt. Giống như động từ, tính từ trong tiếng Việt có thể là hạt nhân của cấu trúc tham tố. Phần lớn tính từ trong tiếng Việt là vị từ đơn trị, một số tính từ là vị từ song trị.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt

Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Lê Kính Thắng và tgk<br /> _____________________________________________________________________________________________________________<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> CẤU TRÚC THAM TỐ CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT<br /> LÊ KÍNH THẮNG*, PHẠM HỒNG HẢI**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Bài viết nghiên cứu vấn đề xác định và miêu tả cấu trúc tham tố của tính từ tiếng<br /> Việt. Giống như động từ, tính từ trong tiếng Việt có thể là hạt nhân của cấu trúc tham tố.<br /> Phần lớn tính từ trong tiếng Việt là vị từ đơn trị, một số tính từ là vị từ song trị.<br /> Từ khóa: tính từ, tiếng Việt, cấu trúc tham tố, vị từ, tham tố.<br /> ABSTRACT<br /> Argument Structure of Vietnamese Adjectives<br /> The article examines the issue of identifying and describing argument structure of<br /> Vietnamese adjectives. Like Vietnamese verbs, Vietnamese adjectives can be head of the<br /> argument structure. Most of Vietnamese adjectives are one-place predicates; some ones<br /> two-place predicates.<br /> Keywords: adjectives, Vietnamese, argument structure, predicates, argument.<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề tính từ trong tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng<br /> Cấu trúc tham tố, đặc biệt là cấu Trung, v.v. Tuy nhiên, khi miêu tả, phân<br /> trúc tham tố động từ đã được đề cập khá loại cấu trúc tham tố tính từ trong những<br /> kĩ trong các tài liệu ngôn ngữ học. Cấu ngôn ngữ này, các nhà nghiên cứu đã có<br /> trúc tham tố có hạt nhân là tính từ hoặc những kiến giải khác nhau, thậm chí mâu<br /> các từ loại khác ít được bàn đến. Thực tế thuẫn.<br /> trên có nguyên nhân sâu xa từ vai trò của Trong bài viết này, sau khi giới<br /> tính từ trong mệnh đề, trong câu. Trong thiệu chung về cấu trúc tham tố, cấu trúc<br /> nhiều ngôn ngữ (nhất là các ngôn ngữ Ấn tham tố tính từ, chúng tôi tập trung miêu<br /> Âu, những ngôn ngữ được nghiên cứu tả cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt.<br /> kĩ), tính từ không có vai trò quan trọng Mục đích của bài viết là đưa ra một số<br /> như động từ, chẳng hạn, tính từ không nhận xét bước đầu về cấu trúc tham tố<br /> thể trực tiếp làm vị ngữ; về phương diện<br /> tính từ tiếng Việt, nhằm góp thêm tiếng<br /> ngữ nghĩa, tính từ cũng chỉ thuộc về một<br /> số kiểu nhóm ngữ nghĩa nhất định vì thế nói chứng minh cho sự gần gũi giữa tính<br /> ảnh hưởng đáng kể đến khả năng lựa từ với động từ trong tiếng Việt – Hai từ<br /> chọn các tham tố bổ nghĩa cho nó. Điều loại mà nhiều nhà Việt ngữ học xếp<br /> này có thể thấy qua một số nghiên cứu về chung một nhóm gọi là vị từ.<br /> cấu trúc tham tố tính từ tiếng Anh, tiếng 2. Cấu trúc tham tố và cấu trúc<br /> Hà Lan, tiếng Ba Lan, tiếng Ý, tiếng Nga, tham tố tính từ<br /> tiếng Đức, v.v. Một số nhà Đông phương 2.1. Cấu trúc tham tố<br /> học cũng quan tâm đến cấu trúc tham tố Tập hợp các tham tố được lựa chọn<br /> *<br /> bởi một hạt nhân bao gồm các đặc tính,<br /> TS, Trường Đại học Đồng Nai<br /> ** quan hệ và vai trò cú pháp của chúng<br /> HVCH, Trường Đại học Khoa học Xã hội<br /> và Nhân văn, ĐHQG TPHCM<br /> được gọi là cấu trúc tham tố (argument<br /> structure) của hạt nhân đó. Hạt nhân này<br /> <br /> 95<br /> Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 38 năm 2012<br /> _____________________________________________________________________________________________________________<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> đóng vai trò quyết định. Chính ý nghĩa pháp phức hợp (một cú, hoặc một động<br /> của nó sẽ chi phối, quyết định đến số từ nguyên mẫu, v.v.).<br /> lượng tham tố (cần bao nhiêu, có thể có Với một số tác giả, trong những<br /> bao nhiêu) và đặc tính ngữ nghĩa của ngôn ngữ mà họ nghiên cứu, tính từ có<br /> tham tố (các kiểu vai nghĩa). Như vậy, cấu trúc đa dạng: có thể có cấu trúc đơn<br /> cấu trúc tham tố liên quan đến hai trị, có thể có cấu trúc đa trị (song trị, tam<br /> phương diện: ngữ nghĩa và cú pháp. Về trị). H. Riemsdijk khi tìm hiểu tính từ<br /> phương diện ngữ nghĩa, cấu trúc tham tố tiếng Đức đã nhận thấy có nhiều tính từ<br /> thể hiện những tham tố cốt lõi của sự tình đòi hỏi một ngữ đoạn danh từ làm bổ<br /> do hạt nhân quy định. Về phương diện cú nghĩa tố cho nó, và gọi đó là các “tính từ<br /> pháp, cấu trúc tham tố thể hiện thông tin ngoại động” (transitive adjectives). J.<br /> tối thiểu cần thiết cho việc xác định Mailing cũng nhận thấy hiện tượng này<br /> những lệ thuộc về mặt cú pháp của tham phổ biến ở nhiều ngôn ngữ khác như<br /> tố đối với hạt nhân mà nó bị chi phối. tiếng Ailen, Nga, La-tin và những ngôn<br /> Như vậy có thể nói, cấu trúc tham tố là ngữ có đánh dấu cách [8, tr.253]. Một số<br /> một yếu tố trung gian nằm giữa hai cấp tác giả cố gắng lí giải tính đa dạng này ở<br /> độ ngữ nghĩa học từ vựng và cấu trúc cú kiểu tính từ làm hạt nhân; theo đó, tính<br /> pháp. Quan hệ này được J. Bresnan mô chất của cấu trúc tham tố đơn giản hay<br /> hình hóa như sau: phức tạp phụ thuộc hạt nhân cấu trúc là<br /> Ngữ nghĩa học từ vựng (lexical tính từ khiển cách (ergative adjectives)<br /> semantics) hay tính từ đối cách<br /> (unergative/accusative adjectives). Dù có<br /> Cấu trúc tham tố (a-structure) những khác biệt nhất định, những tác giả<br /> thuộc nhóm này (P. Jacobson, M.<br /> Cấu trúc cú pháp (syntactic Shibatani, Muraki, S. Kuno…) đều cho<br /> structure) rằng tính từ có thể là hạt nhân của cấu<br /> Trong những ngôn ngữ có sự khu trúc tham tố đa trị.<br /> biệt rõ ràng giữa động từ và tính từ Trái lại, một số tác giả, dù khẳng<br /> (chẳng hạn tiếng Anh), tham tố liên quan định sự cần thiết của việc nghiên cứu cấu<br /> chủ yếu với các động từ nhưng chúng trúc tham tố tính từ nhưng lại đưa ra<br /> cũng có thể liên quan tới hạt nhân là các những lí lẽ khẳng định tính từ là hạt nhân<br /> từ loại khác. [3, tr.1] của cấu trúc tham tố có một diễn tố. Quan<br /> 2.2. Cấu trúc tham tố tính từ niệm này có thể thấy ở nhiều tác giả,<br /> Cấu trúc tham tố tính từ là một kiểu chẳng hạn A. Ikeya, B.S. Park, v.v. A.<br /> cấu trúc tham tố trong đó hạt nhân là một Ikeya gọi tính từ tiếng Anh là vị từ đơn<br /> tính từ, các tham tố là những ngữ đoạn bổ trị. Ngoài ngữ đoạn làm chủ ngữ có<br /> sung về phương diện nghĩa cho tính từ cương vị đầy đủ của một tham tố, các<br /> đó. Các ngữ đoạn này thường là ngữ ngữ đoạn khác đều chỉ là những ‘tham tố<br /> danh từ, ngữ giới từ hoặc một cấu trúc cú giả’ (pseudo-argument). Về mặt cú pháp,<br /> <br /> <br /> 96<br /> Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Lê Kính Thắng và tgk<br /> _____________________________________________________________________________________________________________<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> chúng chỉ là thành tố đóng vai trò bổ trực tiếp làm vị ngữ mà không cần đến<br /> nghĩa tố (complement), trạng ngữ bất kì một yếu tố trung gian nào.<br /> (adjunct) [6, tr.151-155]. Trong một Trong ví dụ (3) và (4) dưới đây, xét<br /> nghiên cứu khác về tính từ tiếng Nhật và cả về quan hệ cú pháp lẫn quan hệ tham<br /> tiếng Hàn [7], tác giả cũng đưa ra nhận tố thì không có gì khác biệt giữa một tính<br /> xét tương tự. từ (“mới”) với một động từ nội động<br /> 3. Cấu trúc tham tố của tính từ (“nở”) – cả hai đều có thể tự mình làm<br /> tiếng Việt trung tâm vị ngữ; cả hai đều có thể tự<br /> Cấu trúc tham tố của tính từ tiếng mình làm hạt nhân của cấu trúc tham tố<br /> Việt khá phong phú về biểu hiện. Từ góc có một diễn tố.<br /> độ phân loại, cấu trúc tham tố tính từ (3) Cuốn từ điển này mới.<br /> tiếng Việt có hầu hết các kiểu dạng của (4) Hoa nở.<br /> cấu trúc tham tố động từ và nếu đối chiếu Sự tương đồng giữa tính từ với<br /> cấu trúc tham tố tính từ tiếng Việt với cấu động từ trong tiếng Việt không chỉ thể<br /> trúc tham tố của tính từ trong một số hiện trong nhóm “nội động” mà còn cả<br /> ngôn ngữ Ấn Âu, sẽ thấy có những khác trong nhóm “ngoại động” nữa. Và xét từ<br /> biệt đáng kể. phương diện cấu trúc tham tố, khá nhiều<br /> Trước hết, trong tiếng Việt có một tính từ sở hữu đặc điểm của động từ<br /> bộ phận khá lớn tính từ làm hạt nhân cho ngoại động, đó là chúng có thể làm hạt<br /> cấu trúc tham tố một diễn tố. Diễn tố duy nhân của cấu trúc song trị như trong ví dụ<br /> nhất chính là ngữ đoạn giữ vai trò chủ (5).<br /> ngữ trong câu. (5) Lan rất giống mẹ.<br /> (1) Hoa này rất đẹp. Bên cạnh đó, với một số tính từ đa<br /> (2) Con đường này khá rộng. nghĩa, các nét nghĩa đó có thể được dùng<br /> Kiểu này có vẻ không khác biệt gì vào những cấu trúc cú pháp, cấu trúc<br /> so với cấu trúc tính từ trong nhiều ngôn tham tố khác nhau. Trong ví dụ (6),<br /> ngữ khác. Tuy nhiên, nếu xem xét trên “rộng” được dùng như vị từ ngoại động<br /> bình diện cú pháp, ngay trong kiểu loại và nó tham gia vào cấu trúc tham tố có<br /> này, cương vị của tính từ cũng rất khác. hai diễn tố. Trong đó, “họ” là một tham<br /> Trong một số ngôn ngữ, chẳng hạn tiếng tố ngoại hướng (external argument),<br /> Anh, tính từ được xem là vị ngữ của câu “lòng từ bi” là một tham tố nội hướng<br /> nhưng nó bao giờ cũng đòi hỏi một động (internal argument) và giữ tư cách là một<br /> từ nối (linking verbs). Nghĩa là nó thực bổ ngữ trực tiếp ở phương diện cú pháp.<br /> sự chỉ là một bổ nghĩa tố của các động từ (6) Họ rất rộng lòng từ bi.<br /> nối. Lúc này, quan hệ giữa chủ ngữ với Không ít nhà nghiên cứu ngôn ngữ<br /> tính từ làm bổ nghĩa tố là trực tiếp về mặt cho rằng không nên xem tính từ là hạt<br /> nghĩa và là gián tiếp về mặt cú pháp. Trái nhân của cấu trúc tham tố có hai diễn tố.<br /> lại, trong tiếng Việt (và một số ngôn ngữ Chúng chỉ là hạt nhân của cấu trúc tham<br /> khác, chẳng hạn tiếng Hán), tính từ có thể tố có một diễn tố mà thôi. A. Ikeya<br /> <br /> <br /> 97<br /> Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 38 năm 2012<br /> _____________________________________________________________________________________________________________<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> (1995) cho rằng tất cả những ngữ đoạn có từ “giống”, thực ra chúng chỉ là biến thể<br /> quan hệ về nghĩa với tính từ đều có thể của một chủ ngữ phức (“những chiếc xe<br /> quy về những ngữ đoạn có vai trò chu tố, này”). Do đó, tính từ trong câu (9) cũng<br /> thể hiện là các ngữ đoạn làm trạng ngữ chỉ là hạt nhân của một cấu trúc tham tố<br /> cho tính từ; một số ngữ đoạn khác có thể có một diễn tố.<br /> quy về làm bộ phận cho một vị ngữ phức Chúng tôi cho rằng, tính từ trong<br /> tạp; một số ngữ đoạn có thể xem là biến các trường hợp trên có thể tham gia vào<br /> thể của chủ ngữ [6]. Nói cách khác, xét các cấu trúc tham tố có hai diễn tố.<br /> đến cùng, trong các ngôn ngữ như tiếng Trường hợp câu (7), “giỏi” là một tính từ<br /> Anh, tiếng Hàn, tiếng Nhật, tính từ chỉ song trị trong đó có một tham tố ngoại<br /> luôn cần một ngữ đoạn làm diễn tố cho hướng (“Lan”), một tham tố nội hướng<br /> nó, ngữ đoạn đó chính là chủ ngữ của đảm nhiệm vai Phạm vi (Domain), tức là<br /> câu. Điều này thoạt nhìn cũng đúng với “về toán”. “Về toán” là một tham tố gián<br /> tiếng Việt. Các ví dụ (7), (8), (9) dưới tiếp theo cách phân loại của Marantz (dẫn<br /> đây lần lượt minh họa cho ba trường hợp theo [5, tr.394]) – nghĩa là một tham tố<br /> được tác giả đề cập ở trên: nối với hạt nhân bằng một giới từ. Trong<br /> (7) Lan rất giỏi về toán. tiếng Việt, có một số tính từ (và động từ)<br /> (8) Thằng bé trán rất rộng. có thể kết hợp với tham tố của nó một<br /> (9) Chiếc xe hơi này rất giống chiếc cách trực tiếp (không có giới từ) hoặc<br /> xe của tôi. một cách gián tiếp (có giới từ). “Lan rất<br /> Ở câu (7), theo cách hiểu của tác giỏi toán” là cách diễn đạt, trong đó<br /> giả, ngữ đoạn giới từ “về toán” chỉ là một “toán” là một tham tố trực tiếp; và “giỏi”<br /> bổ nghĩa tố cho vị từ (predicate modifier) lúc này có đầy đủ tư cách của một “tính<br /> “giỏi” và từ phương diện cấu trúc nghĩa từ ngoại động”.<br /> nó đề cập tới lĩnh vực chủ đề (thematic “Rộng” trong ví dụ (8), là một tính<br /> dimension)1. Nó là tham tố giả chứ không từ nội động và là một tính từ làm hạt<br /> phải là tham tố thực (genuine argument), nhân cho cấu trúc có một diễn tố. Điều<br /> và về chức năng cú pháp, nó chỉ là thành này có vẻ hợp lí và là hiện tượng khá phổ<br /> phần trạng ngữ. biến trong tiếng Việt. Tuy nhiên cũng cần<br /> Ở câu (8), “trán” là một tham tố của thấy “rộng” có thể tham gia vào một cấu<br /> “rộng” và nó là tham tố ngoại hướng. Cả trúc khác, trong đó “rộng” đòi hỏi một<br /> hai yếu tố “trán” và “rất rộng” hình thành tham tố mang vai Phạm vi: “lòng từ bi”.<br /> một cấu trúc chủ - vị (tiểu cú) đóng vai Trường hợp cuối cùng (ví dụ (9)),<br /> trò làm vị ngữ cho “thằng bé”. Vì thế cách giải thích của A. Ikya [6] chưa thật<br /> “rộng” vẫn chỉ là một hạt nhân của cấu thuyết phục nếu áp dụng vào tiếng Việt.<br /> trúc tham tố có một diễn tố mà thôi. Trong tiếng Anh, “This car is similar to<br /> Với câu (9), theo lí giải của chúng mine” (Chiếc xe này giống xe của tôi) có<br /> tôi, “chiếc xe hơi này” và “chiếc xe của thể chuyển thành “These cars are the<br /> tôi” về hình thức là hai tham tố của tính same” (Những chiếc xe này giống nhau)<br /> <br /> <br /> 98<br /> Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Lê Kính Thắng và tgk<br /> _____________________________________________________________________________________________________________<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> nhưng trong tiếng Việt, câu (11) được (13) *Cô ấy rộng.<br /> chấp nhận chứ không phải câu (10): (14) *Cô ấy lòng từ bi rộng.<br /> (10) *Những chiếc xe này giống. (15) Anh ấy xa nhà đã lâu.<br /> (11) Những chiếc xe này giống (16) *Anh ấy nhà xa đã lâu2.<br /> nhau. (17) *Anh ấy xa.<br /> “Nhau” là đại từ tương hỗ, nó là Các ví dụ từ (12) đến (17) gợi lên<br /> yếu tố bắt buộc để câu nói đúng ngữ suy nghĩ về mối quan hệ giữa tính từ<br /> pháp. Do đó, ngay cả khi dùng thao tác (những từ in đậm) với các ngữ đoạn có<br /> chuyển đổi, “giống” vẫn cần đến một liên quan. Câu (12) là một câu hợp ngữ<br /> tham tố (cho dù về phương diện nghĩa pháp, tự nhiên trong tiếng Việt; trong khi<br /> tham tố này quy chiếu đến cùng đối đó, câu (13), (14) không được chấp nhận.<br /> tượng mà ngữ đoạn làm chủ ngữ hướng Câu (13) cho thấy “rộng” có một nét<br /> tới). Tham tố này là một tham tố trống nghĩa khác; một cách dùng khác (không<br /> nghĩa (dummy argument). phải theo cách nội động)3. Câu (14) cho<br /> Trong tiếng Việt, danh sách các từ thấy “rộng” không phải là vị ngữ của<br /> được dùng theo hai cách (nội động và “lòng từ bi” – nghĩa là không phải là một<br /> ngoại động) khá phong phú. Chúng tôi đã bộ phận cùng với “lòng từ bi” hợp thành<br /> liệt kê hơn 100 từ thuộc nhóm này. [2, một tiểu cú có chức năng làm vị ngữ cho<br /> tr.233-239] “cô ấy”. Ví dụ (15), (16), (17) có thể giải<br /> Đinh Văn Đức [1, tr.164-168], tuy thích tương tự. Việc có khá nhiều tính từ<br /> không dùng đến khái niệm diễn tố nhưng (hoặc một nét nghĩa, một cách dùng của<br /> cũng đã nêu ra khá nhiều ví dụ về các yếu chúng) đòi hỏi một ngữ đoạn (hoặc một<br /> tố đứng sau tính từ đặc biệt là những yếu tiểu cú) làm bổ ngữ, một lần nữa, cho<br /> tố có quan hệ lỏng về ngữ nghĩa nhưng thấy hoạt động khá đặc biệt của tính từ<br /> chặt về cú pháp. Tuy không hiển ngôn tiếng Việt. Nó cho thấy hướng đề xuất<br /> kết luận về tính chất “ngoại động” về mặt mà bài viết nêu ra có cơ sở nhất định, ít<br /> cú pháp của những tính từ kiểu này, Đinh nhất cũng là những gợi ý về một cách<br /> Văn Đức cũng đã rất chính xác khi chỉ ra: nhìn nhận khác về tính từ trong tiếng Việt.<br /> “Do cách thức phản ánh của người bản 4. Kết luận<br /> ngữ, một đặc trưng trong quan hệ thông Từ sự khảo sát cấu trúc tham tố của<br /> báo có thể hình dung như là một trạng tính từ tiếng Việt trong sự đối sánh với<br /> thái, xa hơn, cái trạng thái đó có thể hoạt một số ngôn ngữ khác, chúng tôi tạm rút<br /> động và gây ra tác động đến những đối ra một số nhận xét bước đầu như sau.<br /> tượng nhất định. Đó là lí do về mặt ngữ - Cấu trúc tham tố của tính từ tiếng<br /> nghĩa của việc hình thành các hiện tượng Việt có những khác biệt đáng kể so với<br /> gọi là “bổ ngữ của tính từ” trong tiếng cấu trúc tham tố tính từ trong một số<br /> Việt”. ngôn ngữ trên thế giới, đặc biệt là những<br /> Xét thêm một số ví dụ sau: ngôn ngữ có sự phân biệt về cú pháp giữa<br /> (12) Cô ấy rộng lòng từ bi. tính từ và động từ. Khả năng kết hợp đa<br /> <br /> <br /> 99<br /> Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 38 năm 2012<br /> _____________________________________________________________________________________________________________<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> dạng của tính từ tiếng Việt về cả phương lại trong nhiều ngôn ngữ khác, chẳng hạn<br /> diện quan hệ cú pháp và quan hệ ngữ trong tiếng Anh, tính từ và động từ lại có<br /> nghĩa cho thấy những điểm tương đồng rất nhiều điểm khác biệt về sự biến hình,<br /> rất lớn giữa nhóm từ này với nhóm động hình thức cấu tạo từ và chức năng, khả<br /> từ trong tiếng Việt (và trong nhiều ngôn năng kết hợp. Vì vậy nỗ lực khu biệt<br /> ngữ khác). Ở bình diện cú pháp, tính từ động từ với tính từ trong tiếng Việt có lẽ<br /> tiếng Việt khi làm vị ngữ có thể trực tiếp sẽ gặp rất nhiều khó khăn và ít có giá trị<br /> làm vị ngữ (không cần hệ từ/ động từ thực tiễn. Trong trạng thái tiếng Việt hiện<br /> nối); Chúng cũng có thể đòi hỏi một ngữ thời, nếu dựa trên khả năng kết hợp, chức<br /> đoạn làm bổ ngữ (trực tiếp4 hoặc gián năng cú pháp, việc xếp chung hai nhóm<br /> tiếp). Ở bình diện cấu trúc ngữ nghĩa, từ này vào một nhóm (mà phần lớn các<br /> tính từ tiếng Việt có thể tham gia vào cấu tác giả gọi là “vị từ”) là một hướng giải<br /> trúc có một diễn tố, hoặc tham gia vào quyết hợp lí. Việc tính từ tiếng Việt hoạt<br /> cấu trúc có nhiều diễn tố. động rất phổ biến trong hầu hết các kiểu<br /> - Sự khác biệt trong cấu trúc tham tố cấu trúc tham tố mà động từ có thể tham<br /> tính từ tiếng Việt với cấu trúc tham tố gia là một cơ sở quan trọng củng cố thêm<br /> tính từ của một số ngôn ngữ khác bắt quan điểm hợp nhất hai nhóm từ này. Sự<br /> nguồn sâu xa từ những khác biệt về đặc khác biệt giữa tính từ và động từ trong<br /> điểm, chức năng của tính từ trong từng tiếng Việt, nếu thực sự có một sự phân<br /> ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, tính từ chia biệt như thế, có lẽ chủ yếu nằm ở sự khác<br /> sẻ rất nhiều đặc điểm của động từ, ngược biệt ở phương diện ngữ nghĩa.<br /> 1<br /> Chúng tôi mở rộng quan điểm của Bartsch (1986) và cho rằng có ba lĩnh vực/ kiểu nghĩa liên quan đến<br /> nhóm tính từ có ý nghĩa so sánh, đó là lĩnh vực chủ đề (thematic dimension), lĩnh vực so sánh (comparative<br /> dimension) và lĩnh vực mức độ (degree dimension).<br /> 2<br /> Có thể chấp nhận cách nói “Anh ấy nhà xa”. Tuy nhiên nghĩa của phát ngôn này hoàn toàn khác so với phát<br /> ngôn “Anh ấy xa nhà”.<br /> 3<br /> Với nét nghĩa khác, với cách dùng khác, chẳng hạn khi “rộng” kết hợp với một chủ ngữ là một vai nghĩa có<br /> đặc tính bất động vật, nó hoàn toàn có thể một mình đảm nhiệm chức năng vị ngữ.<br /> 4<br /> Trong [2], chúng tôi gọi những tính từ có thể kết hợp trực tiếp với các ngữ đoạn danh từ (làm tham tố) là<br /> những vị từ ngoại động kém điển hình (less-prototypical transitive verbs).<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb Đại học và Trung học<br /> chuyên nghiệp, Hà Nội.<br /> 2. Lê Kính Thắng (2009), Phạm trù nội động/ ngoại động trong tiếng Việt (so sánh<br /> với tiếng Anh), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm TPHCM.<br /> 3. Bresnan, J. (1995), “Lexicality and Argument Structure”, Paris Syntax and<br /> Semantics Conference, Paris.<br /> <br /> (Xem tiếp trang 115)<br /> <br /> <br /> <br /> 100<br /> Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Lê Kính Thắng và tgk<br /> _____________________________________________________________________________________________________________<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 4. Bennis, H. (2000), “Adjectives and Argument Structure”, P. Coopmans, M.<br /> Everaert, J. Grimshaw (eds), Lexical Specification and Lexical Insertion, John<br /> Benjamins, Amsterdam / Philadelphia, 27-69.<br /> 5. Chung, T. (2000), “Argument Structure of English Intransitive Verbs”, Studies in<br /> Generative Grammar, Vol. 10, Korea, 398-425.<br /> 6. Ikeya, A. (1995), “Predicate-Argument Structure of English Adjectives”,<br /> Benjamin K T' sou and Tom B Y Lai (eds), Language, Information and<br /> Computation, Proceedings of the 10th Pacific Asia Conference, Language<br /> Information Sciences Research Centre City University of Hong Kong, 149-156.<br /> 7. Ikeya, A. (1996), “The Semantic Structure of Japanese Adjectives with – TAI<br /> Derivational Suffix”, Language, Information and Computation (Paclic 11), 157-<br /> 166.<br /> 8. Mailing , J. (1983), “Transitive Adjectives: A Case of Categorial Reanalysis”, F.<br /> Heny and B. Richards (eds.), Linguistic Categories: Auxiliaries and Related<br /> Puzzles, Vol. 1, Dordrecht: Reidel, 253-289.<br /> 9. Park, B.S. (2002), “Do ‘Transitive Adjectives’ Really Exist?”, Korean Society for<br /> Language and Information Language, Proceedings of The 16th Pacific Asia<br /> Conference, Jeju, Korea, 391-403.<br /> 10. Radford, A. (1989), “The Syntax of Attributive Adjectives in English: and the<br /> Problems of Inheritance” (Revised version), Noun Phrase Structure, University of<br /> Manchester.<br /> <br /> (Ngày Tòa soạn nhận được bài: 14-3-2012; ngày phản biện đánh giá: 25-4-2012;<br /> ngày chấp nhận đăng: 30-7-2012)<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 101<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2