
Chế Lan Viên với "Điêu tàn" và
"Vàng sao"
Tập thơ Điêu tàn ra đời năm 1937, khi Chế Lan Viên mới 17 tuổi và đang là học sinh
năm thứ ba trường Trung học Quy Nhơn. Giữa bình nguyên nhiều màu sắc của Thơ
mới hồi ấy, Điêu tàn “đột ngột xuất hiện như một niềm kinh dị”, “một Tháp Chàm lẻ loi
và bí mật” (Hoài Thanh). Bút danh Chế Lan Viên gắn với tập thơ đầu tay này rồi sẽ còn
có ảnh hưởng rộng dài trong thơ Việt Nam suốt thế kỷ. Điêu tàn cùng một lúc kết hợp
và thăng hoa thành thơ nhiều yếu tố: những ám ảnh tuổi thơ với những Tháp Chàm cô
đơn sừng sững trong hoàng hôn, nỗi cô đơn và bế tắc của một thanh niên vừa lớn lên
đã thấm thía nỗi buồn thời đại, và sau nữa, là một tâm hồn thi sĩ thiên phú. Năm 1942,
Chế Lan Viên cho ra đời tập văn Vàng sao - một tập bút ký văn chương - triết luận như
để hoàn tất chân dung tinh thần của nhà thơ trên chặng đường này. Hai tác phẩm - một
thơ, một văn xuôi như một cặp song sinh tinh thần của một giai đoạn sáng tạo cùng
nhằm về một hướng, tụ lại một điểm: hành trình đầy hứng khởi mà cũng đầy đau đớn
vào một thế giới tâm linh thần bí và siêu hình.
Bước vào văn chương, người thi sĩ trẻ nhất của Thơ mới này đã gửi vào bút danh
mình bao nhiêu là ký thác, bao nhiêu là kỳ vọng: “Trong ba chữ tên rõ ràng, cái nợ hồ
cả một đời kết đọng. Ta ngỡ đấy là một viên ngọc rạng và nó chói ngời lên cho đến hư
vô” (Vàng sao). Khác và rõ hơn bất kỳ nhà thơ nào trong Trường thơ Loạn, Chế Lan
Viên khao khát bộc lộ tận cùng Bản thể của nhà sáng tạo. Ý thức rõ hơn ai hết sức
mạnh của cá thể, cá tính, khát khao tạo lập một cõi riêng trong văn chương đã đồng
hành và thúc đẩy Chế Lan Viên từ những dòng khai bút: “Một kiếp sống phụng khai
thần bút. Thế là cuộc đời mở cửa- bao nhiêu sức mạnh trong sáng ùa ra, ruộng đất
khởi sự cày bừa, sông suối bắt đầu tuôn chảy” (Vàng sao). Viết, như thế, là một lễ nghi
phụng khai thần bút, là một cách khơi nguồn sự sống, còn Nhà thơ - Kẻ Sáng tạo là
người được trao cho sứ mệnh thiêng liêng: tạo lập một cõi tinh thần.

Điêu tàn quả là một cõi riêng và đằng sau nó là cả một quan niệm thẩm mỹ mới. Bởi
thế, Điêu tàn nằm trong bối cảnh chung của Thơ mới mà vẫn khác lạ. Thơ mới sinh
thành ra nó mà vẫn bỡ ngỡ khi nó chào đời. Nó được đón nhận một cách dè dặt tuy
vẫn không ít những lời khen tặng. Hoài Thanh đã rất sâu sắc khi dùng hai chữ “lẻ loi” và
“bí mật” để nói về Điêu tàn. Lẻ loi giữa không khí chung của Thơ mới. Bí mật vì nó là
một thế giới đầy bóng tối, siêu hình, khép kín, có lúc làm rợn ngợp và hoang mang
người đọc. Đó cũng là một thế giới bí ẩn của nghệ thuật để đến hơn nửa thế kỷ sau và
có lẽ còn tiếp tục với thời gian, nó vẫn được tiếp tục tìm hiểu và giải mã, cùng với sự
giải mã tư tưởng sáng tạo của Chế Lan Viên thời kỳ này. Điêu tàn là một độc sáng của
thơ Chế Lan Viên - cái ánh sáng ma quái và hấp dẫn chỉ lóe lên một lần trong đời thơ
ông, một cuộc đời sáng tạo còn kéo dài cho đến nửa thế kỷ sau với những sắc màu đối
nghịch.
Cùng với - và trực tiếp hơn những nhà thơ của Trường thơ Loạn, cả trong tuyên ngôn
cũng như trong thực tiễn sáng tạo, Điêu tàn khởi sự một mỹ học mới trong sáng tạo thi
ca. Nó đã đưa ra một quan niệm khác lạ về thơ và làm hiển hiện một kiểu chủ thể trữ
tình mới. Chế Lan Viên viết Tựa Điêu tàn: “Làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không
phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn
Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô
nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý. Nhưng thường thường nó không nói: Nó
gào, nó thét, nó khóc, nó cười. Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt
hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tủy là tủy...”. Người ta nhận ra sự phóng
thoát tuyệt đối khỏi quan niệm quen thuộc của thơ trữ tình. Thơ không còn là sự diễn tả
xúc cảm của con người; cái hiện có của hiện tại biến mất nhường chỗ cho cái hỗn
mang của quá khứ và cái vô định của tương lai, làm thơ là thả hồn lạc vào mê lộ của
cái phi thường, cái dị thường. Và nhất là giọng điệu, nó không nói bằng giọng nói quen
thuộc của con người mà là những tiếng khóc than, gào rú...
Điêu tàn không nằm trong quan niệm về Cái Đẹp của thơ ca đương thời và có thể nói,

nó là một sự tuyên chiến với mỹ cảm chung của Thơ mới lúc đó, dù không tuyên bố.
Phóng thoát khỏi mô hình Thơ mới lãng mạn đã nảy nở trọn vẹn, cõi thơ siêu thực mà
nó mở ra đó vượt khỏi tầm đón đợi của người đọc, của thi đàn Thơ mới và đó cũng là
lý do khiến người ta dè dặt khi đón chào nó. Nó làm một bước ngoặt, vạch một con
đường, tự hoàn thiện một khai mở, đồng thời cũng là một kết thúc: cuối con đường ấy,
sừng sững mọc lên một ngọn tháp thơ bí ẩn. Đó chính là dấu ấn độc đáo của tư duy
sáng tạo, được hình thành như một đột khởi, một lóe sáng xuất thần. Trong thế giới
Thơ mới, Điêu tàn tạo lập một cõi riêng với ý nghĩa ấy.
Điêu tàn đối nghịch với Thơ mới ở nhiều phương diện. Chất liệu của nó không là hoa
bướm mộng mơ, là các cảm xúc nhân sinh, những rung động tình ái quen thuộc... mà
là bóng tối, mồ hoang, sọ người, xương khô, máu tủy và những hồn ma vất vưởng. Thơ
mới xôn xao tình điệu của “vườn trần”, của cõi người gần gũi thì Điêu tàn tìm đến tha
ma, mộ huyệt. Thơ mới có thoát ly thì cũng tìm chốn Bồng lai, nơi tượng trưng cho cái
đẹp cao khiết của lý tưởng, còn Điêu tàn thì thống thiết: Hãy trả tôi về Chiêm quốc; Hãy
cho tôi một tinh cầu giá lạnh.., mong tìm về một quá khứ tàn lụi, một cõi- không- người.
Cái đẹp hài hòa mà Thơ mới gắng sức tạo lập là mối giao cảm giữa người với người,
giữa người với cảnh được thay thế bằng những hình ảnh quái dị, ghê rợn được mô tả
đầy khoái cảm. Chân dung giai nhân được thay thế bằng hồn ma Chiêm nữ. Nhạc của
Điêu tàn không chỉ là Nhạc sầu (Huy Cận), Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê (Xuân
Diệu) mà là Điệu nhạc điên cuồng như tên một bài thơ. Tư thế sáng tạo của nhà thơ là
“buồn bã âu sầu trong đêm tối - người vẫn nằm há miệng đớp sao rơi”...
Phân tích những yếu tố cấu thành Điêu tàn, không thể không nói đến ngọn nguồn
tinh thần cùng chất liệu cơ bản đã được nhào nặn và được thi sĩ xây cấtthành thơ - đó
là quá khứ nước Chiêm và hình ảnh những ngọn tháp Chàm ám ảnh hồn thơ Chế Lan
Viên từ thời niên thiếu. “Sinh sống trên đất của nước non Chiêm, mắt luôn nhìn thấy
những cảnh tượng điêu tàn của một dân tộc, tai thường nghe những âm thanh lạ lùng
ghê rợn xuất phát từ một cõi đêm nào đầy bóng ma quái ở nội thành..., bấy nhiêu cơ
hội và cảnh trí trên đã trở thành bối cảnh đặc biệt cho sự phát sinh con người Lan
Viên”(1). Những quang cảnh đó đã thấm nhiễm vào hồn người thơ tuổi niên thiếu, khơi

gợi tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ về sự biến thiên tàn lụi vốn cũng là hiện trạng của
đất nước trong vòng nô lệ tăm tối. Đó là những khởi phát đầu tiên cho cảm xúc nhà thơ
để rồi cùng với sự mẫn cảm và trí tưởng tượng phi thường, tất cả những điều đó giúp
nhà thơ tạo lập một cõi khác - một thế giới kinh dị, ma quái. Và hơn nữa, chất liệu thơ
ấy là thích hợp nhất để nhà thơ có thể giải phóng mọi năng lực sáng tạo mạnh mẽ thiên
bẩm của mình. Không còn một bất cứ một ràng buộc nào, hồn thơ tìm đến sự phóng
thoát tuyệt đối để có thể nếm trải mọi khoái thú đau đớnvà tạo lập một thế giớiriêng của
Điêu tàn.
Với Chế Lan Viên, sáng tạo thi ca là một cuộc phân ly kinh dị giữa xác và hồn, là sự
nghiệm sinh cái chết của Hữu thể để sống phần Tâm linh, Vô thức. Không một nhà thơ
nào của Thơ mới - kể cả Hàn Mặc Tử - diễn tả đầy đủ quá trình này như Chế Lan Viên.
(Phải nói thêm rằng, thơ Hàn Mặc Tử là cõi mê sảng tự thân và thường trực, còn ở Chế
Lan Viên, là sự nhập thân vừa mê cuồng vừa tỉnh táo vào thế giới ấy). Chắp nhặt
những đứt nối, mê sảng của hành trình này có thể tìm thấy một mạch liền gợi ra phác
đồ của tâm lý sáng tạo thi ca được thể hiện trong Điêu tàn. Có thể đó là một buổi chiều
“lạc bước - vào nơi đây thế giới vạn cô hồn”. Có thể là một đêm u sầu “nằm há miệng
đớp sao rơi”. Có thể chỉ là một phút chán nản tận cùng “nhắm mắt lại cho cả bầu bóng
tối - mênh mang lên bát ngát tựa đêm sâu”. Sáng tạo là khởi sự một hành trình, một sự
xuất thần, thực hiện một cuộc phiêu du của linh hồn. Cứ như thế, một thế giới của cõi
âm dần hiển hiện. Ban đầu vẫn còn chút ít âm thanh cảnh vật của cuộc sống, nhưng rồi
tiếng chó sủa làng xa lẫn với tiếng khóc trẻ thơ chỉ còn văng vẳng... Trong bóng đêm u
ám của hàng mi, một thế giới được tạo lập như tên một bài thơ tập trung diễn tả quá
trình này. Hiện dần ra trong thơ một cõi Âm, một thế giới của cô hồn, tiếng thịt người
nảy nở, tiếng xương rên trong mộ, tiếng máu Chàm ri rỉ chảy không thôi... Hồn lạc lối,
hồn trôi, hồn bay... là một trạng thái phiêu du vô định, để tâm linh bắt đầu cuộc sống
của riêng nó, để sự nghiệm sinh cuộc thoát xác bắt đầu. Chút ý thức còn lại của thi
nhân chỉ đủ để cảm nhận cơn mơ đang đến. Mơ rồi! Mơ rồi! Ta mơ rồi! là những câu
chữ lặp lại trong mê sảng.
Trong cõi Âm giới ấy, thơ hiện ra, chắp nối từ những âm thanh ghê rợn, những hình

ảnh ma quái, những động thái điên cuồng:
Ta sẽ nhịp khớp xương lên đỉnh sọ
Ta sẽ ca những giọng của hồn điên
(...) Ta sẽ cắn lưỡi ta cho nhỏ máu
Phun lên nền xương trắng rợn hơi ma
Để những giọt máu đào còn đọng lại
Theo hồn ta tuôn chảy những lời thơ
Có lúc hồn phiêu du bay vào không gian vời vợi xa thẳm của một đêm trăng tràn trề để
vo lụa trăng, vo cả giải Ngân Hà... - những hình ảnh có những nét tương đồng gần gũi
với thơ Hàn Mặc Tử trong Chơi giữa mùa trăng, Ta vo tiếc mến như vo lụa... Cũng có
khi hồn vơ vẩn “đợi người Chiêm nữ”, bài thơ thấp thoáng dáng vẻ của một áng thơ
tình với những mong ngóng chia ly quen thuộc, nhưng rồi vẫn chỉ là trong mộng mị và
cái tuyệt vọng của đợi chờ ly biệt vẫn mang màu sắc riêng biệt của Điêu tàn:
Hồn ta bay trong một làn khói tỏa
Chẳng biết rồi lưu lạc đến nơi đâu
Thoát khỏi cái Ta quen thuộc của đời sống con người để vươn tới một Cõi Ta rộng lớn
- Cõi Ta ấy bao gồm cả Âm giới lẫn Vũ trụ bao la, đó là cái khát vọng chủ đạo của hồn
thơ Chế Lan Viên. Không cần những va đập, chà xiết hay những rung động quen thuộc
của đời sống để có thể tạo ra một bài thơ, một thế giới thơ. Thi sĩ tự cảm thấy mình có
quyền của Đấng Sáng tạo để sinh thành một thế giới. Bài Tạo lập có ý nghĩa quan trọng
về phương diện này. Trước hết, đó là sự chối bỏ tuyệt đối “những sắc màu hình ảnh
của Trần gian”, để từ đó nhà thơ tạo lập một cõi âm riêng cho mình bằng tưởng tượng:
Nhắm mắt lại cho cả bầu bóng tối
Mênh mang lên bát ngát tựa đêm sâu

