BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-------------------------------

LÊ VINH QUANG

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI CÁC

DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Phú Thọ, năm 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

LÊ VINH QUANG

CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 8340410

Luận văn thạc sĩ kinh tế

Người hướng dẫn khoa học:

TS. Phạm Minh Đạt

Phú Thọ - 2020

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết

quả trong luận văn là trung thực và nội dung này chưa từng được ai khác công bố

trong bất kỳ một công trình nào khác.

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2020

Tác giả luận văn

Lê Vinh Quang

ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Thương

Mại đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.

Tôi xin đượcbày tỏ lòng biết ơn tới Thầy giáo hướng dẫn thực hiện luận văn

TS. Phạm Minh Đạt. Từ những vấn đề thực tế của tỉnh Phú Thọ nơi tôi chọn để

hoàn thành luận văn, thầy Đạt đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để tôi hoàn thành đề

tài luận văn nghiên cứu của mình.

Tôi xin được cảm ơn Ban lãnh đạo công ty, bạn bè đồng nghiệp đang công

tác đã nhiệt thành hợp tác và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn tin tưởng và khích lệ tôi

trong thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn.

Trân trọng cảm ơn!

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................................. i

LỜI CẢM ƠN.................................................................................................................... ii

MỤC LỤC .........................................................................................................................iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................. vi

DANH MỤC B ẢNG, HÌNH ......................................................................................... vii

MỞ ĐẦU..............................................................................................................................1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ ................................................................................7

1.1. Khái niệm, sự cần thiết phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ..........................7

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ .....................................7

1.1.2. Các quan điểm của chính quyền nhà nước về doanh nghiệp vừa và nhỏ.. 10

1.1.3. Sự cần thiết của việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ........................... 11

1.1.4. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ .................................................................. 13

1.2 Khái niệm và nội dung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.... 14

1.2.1 Khái niệm chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ .............. 14

1.2.2. Nội dung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ............... 16

1.3. Bài học kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và

nhỏ từ các điển hình nghiên cứu ................................................................................. 21

1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước............................................................................ 21

1.3.2. Kinh nghiệm của các địa phương ...................................................................... 24

1.3.3. Bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ................... 26

Tóm tắt chương 1............................................................................................................ 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH

NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ ............................. 29

2.1. Giới thiệu khái lược về tỉnh Phú Thọ ................................................................. 29

2.1.1. Về điều kiện tự nhiên ........................................................................................... 29

2.1.2. Về kinh tế xã hội ................................................................................................... 31

iv

2.2. Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh ............................ 36

2.2.1 Số lượng và quy mô ............................................................................................... 36

2.2.2 Kết cấu vốn doanh nghiệp theo mỗi loại hình doanh nghiệp ........................ 38

2.2.3 Kết cấu, ngành nghề kinh doanh ........................................................................ 39

2.2.4 Tình hình sử dụng lao động và trả lương lao động......................................... 39

2.2.5 Về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh ............................................ 41

2.3. Thực trạng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh

Phú Thọ............................................................................................................................. 44

2.3.1. Tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ................... 44

2.3.2. Các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ..................................... 46

2.3.3. Hỗ trợ về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh ................................... 48

2.3.4. Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực ..................................................................... 51

2.3.5. Hỗ trợ về tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm ........................................ 53

2.3.6. Hỗ trợ thành lập các hiệp hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa ...................... 57

2.4. Đánh giá chung ........................................................................................................ 59

2.4.1. Những thành công ................................................................................................ 59

2.4.2. Những hạn chế...................................................................................................... 60

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đặt ra........................... 62

Tóm tắt chương 2............................................................................................................ 64

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT

TRIỂN DN NVV TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ............................................ 65

3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và phương

hướng hoàn thiện chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của tỉnh

Phú Thọ............................................................................................................................. 65

3.1.1. Quan điểm phát triển ........................................................................................... 65

3.1.2. Mục tiêu phát triển ............................................................................................... 66

3.1.3. Phương pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

............................................................................................................................................. 68

v

3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và

nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ .................................................................................... 69

3.2.1. Nâng cao tính minh bạch của thể chế và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý .. 69

3.2.2. Chính sách thuế .................................................................................................... 71

3.2.3. Chính sách tín dụng ............................................................................................. 72

3.2.4. Chính sách nguồn nhân lực ............................................................................... 75

3.2.5. Chính sách đất đai ................................................................................................ 75

3.2.6. Chính sách về công nghệ và thông tin .............................................................. 77

3.2.7. Chính sách xúc tiến thương mại........................................................................ 78

3.3. Một số kiến nghị ...................................................................................................... 81

3.3.1. Khuyến khích phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh ............ 81

3.3.2. Thực hiện trợ giúp có trọng điểm ...................................................................... 83

3.3.3. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý các cấp .............................. 84

Tóm tắt chương 3............................................................................................................ 86

KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 89

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT TỪ VIẾT TẮT NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ

CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1

2 CP Chính phủ

3 DN Doanh nghiệp

4 DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

5 KT Kinh tế

6 KT - XH Kinh tế xã hội

7 GDP Tăng trưởng kinh tế

8 NXB Nhà xuất bản

9 SX - KD Sản xuất – Kinh doanh

10 UBND Ủy ban nhân dân

11 USD Đô la Mỹ

vii

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Bảng 1.1 Tiêu thức phân loại DNVVN của một số nước...............................................9

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của Phú Thọ giai đoạn 2017-2019 .... 31

Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) Phú Thọ so với ................... 32

vùng miền núi phía Bắc và cả nước (Theo giá so sánh) .............................................. 32

Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phú Thọ ........................... 33

theo ngành giai đoạn 2015÷2019 (Giá thực tế) ............................................................ 33

Bảng 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phú Thọ............................................................. 33

theo thành phần kinh tế giai đoạn 2015÷2019 (Giá thực tế)...................................... 33

Bảng 2.5 Dân số, lao động và sự chuyển dịch cơ cấu lao động năm 2015, 2019 .... 34

Bảng 2.6 Số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh và việc làm tại Phú Thọ năm 2019 .. 36

Bảng 2.7 Số lượng đăng ký kinh doanh mới qua các năm .......................................... 37

Bảng 2.8 Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa ............................................. 37

Bảng 2.9 Quy mô vốn bình quân trên một doanh nghiệp............................................ 38

Bảng 2.10 Số người đã qua đào tạo (năm 2019) .......................................................... 40

Bảng 2.11 Tình hình trả lương lao động phân theo quy mô lao động ....................... 41

Bảng 2.12 Mức trang bị vốn trung bình của DNVVN năm 2019 .............................. 42

Bảng 2.13 Trang bị tài sản cố định bình quân trên 1 lao động ................................... 42

Bảng 2.14 Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh..... 43

Bảng 2.15 Quy ho ạch sử dụng đất đến năm 2020 ........................................................ 49

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Đảng, Nhà nước cũng như

của các chính quyền địa phương là phát triển kinh tế và đưa ra những chính sách tốt

nhất để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân. Muốn làm được điều này thì

đòi hỏi huy động được vốn, phát triển hệ thống doanh nghiệp tại các địa phương đó.

Các chính sách hỗ trợ DNVVN dù đã đạt được những thành công nhất định

nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhu cầu của DN trong bối cảnh hội nhập

quốc tế ngày càng sâu rộng. Việc triển khai các chính sách hỗ trợ DNVVN trong

thời gian qua cho thấy, chính sách hỗ trợ đối với DNVVN còn ở mức thấp, tỷ lệ

DNVVN tham gia và thụ hưởng các chương trình hỗ trợ chính sách của Nhà nước

còn ở mức khiêm tốn. Hoạt động trợ giúp đối với DNVVN chưa có trọng tâm, trọng

điểm, chưa hỗ trợ phát triển cho các cụm liên kết ngành. Bên cạnh đó, nguồn lực

dành cho trợ giúp phát triển DNVVN còn phân tán, trình tự thủ tục để DNVVN thụ

hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn nhiều bất cập, khó khăn…

Cụ thể, khó khăn lớn nhất của DNVVN là chi phí đầu vào cho sản xuất còn

lớn. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNVVN chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay

ngân hàng có lãi suất rất cao và khả năng tiếp cận khó khăn. Nguồn lao động bị

cạnh tranh với các DN lớn trong nước và cả DN nước ngoài. Các DNVVN cũng

phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực có tay nghề cao.

Riêng đối với Phú Thọ là một tỉnh nghèo, xuất phát điểm kinh tế thấp, nội

lực của các doanh nghiệp yếu, đặc biệt là vốn và trình độ khoa học công nghệ; kinh

nghiệm và điều kiện tham gia hội nhập còn ít; mô hình tổ chức hoạt động sản xuất

kinh doanh còn chậm đổi mới. Kết quả điều tra, khảo sát tại 168 doanh nghiệp thuộc

các thành phần kinh tế trên địa bàn 13 huyện/thành/thị thuộc tỉnh, cho thấy đến năm

2015 có đến 90% số doanh nghiệp xây dựng và áp dụng Tiêu chuẩn cơ sở cho sản

phẩm do doanh nghiệp sản xuất. Chỉ có 10% doanh nghiệp áp dụng Tiêu chuẩn

Quốc gia hoặc tiêu chuẩn nước ngoài; 10/168 doanh nghiệp (6%) có sản phẩm được

2

chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, 5/168 doanh nghiệp (3%) có sản phẩm được đánh

giá chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm khoảng 90% trong tổng số doanh nghiệp

của tỉnh) có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm; tăng thu nhập cho người

lao động; huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển; đóng góp đáng kể

vào nguồn thu ngân sách của tỉnh. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn đầu tư ban

đầu tuy không lớn nhưng được hình thành và phát triển rộng khắp ở hầu hết các

ngành nghề, các lĩnh vực, tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư

vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.

Hơn nữa, doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tỉnh Phú Thọ còn phát triển chưa đồng

bộ, còn nhỏ lẻ, làm ăn manh mún, công nghệ còn lạc hậu, phát triển chưa đồng bộ

cả về vùng lãnh thổ, nghành nghề kinh doanh, đóng góp vào ngân sách nhà nước

còn chiếm tỷ trọng thấp, phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, mới tập trung vào

các khu vực đô thị, các khu, các cụm công nghiệp. Ngoài ra, kiến thức quản lý kinh

tế của các chủ doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, các chủ trang trại chưa đồng

đều, chưa gắn được sản xuất kinh doanh với thị trường, khả năng nắm bắt thông tin

thị trường còn nhiều hạn chế, chưa đủ mạnh để cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường.

Đối với công tác quản lý Nhà nước cũng bộc lộ không ít những khó khăn

vướng mắc nảy sinh, thiếu sự phối hợp giữa các cấp, các ngành đối với các doanh

nghiệp, hộ kinh doanh cá thể sau đăng ký kinh doanh, làm cho quản lý Nhà nước bị

buông lỏng, từ đó dẫn tới sự phối hợp kém nhiệt tình, sự trì trệ trong quản lý, hỗ trợ

doanh nghiệp.

Chính vì vậy để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể hội nhập kinh tế quốc tế

tốt, có thể cạnh tranh được với các đối thủ bên ngoài, tạo thuận lợi cho doanh

nghiệp vừa và nhỏ phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát

triển khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại

hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị

trường, phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho

người lao động thì chúng ta phải có một định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và

3

nhỏ để từ đó chúng ta có được một số biện pháp chính sách để phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ. Chính vì những lý do đó tôi đã chọn đề tài Chính sách hỗ trợ

đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ làm đề tài nghiên

cứu.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới đã có rất nhiều sách, bài viết về doanh nghiệp nhỏ và vừa như

cuốn “Small and medium-sized enterprises in countries in transition/Economic

commission for Europe" của United Nation - Geneva New York; “Accounting and

financial reporting guidelines for small and medium- sized enterprises (SMEGA):

Level 3 guidance” của United Nations Conference on trade and development.

Trong những năm gần đây, những vấn đề liên quan đến DNVVN luôn được

nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong đó, đã có

nhiều tác giả nghiên cứu về vai trò của Nhà nước và các chính sách, giải pháp hỗ trợ

phát triển DNVVN như:

“Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở

Việt Nam đến năm 2005”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, do PGS.TS

Nguyễn Cúc chủ biên. “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh nghiệm nước

ngoài và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”, năm 2001, do đồng tác

giả Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hòa. “Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho các

doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Hà Nội 2003, Viện nghiên cứu Thương Mại. “Tài chính

hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Nxb Tài Chính, Hà Nội năm 2000 của

GS.TS Hà Xuân Phương, TS. Đỗ Việt Tuấn và Chu Minh Phương. Qua những tài

liệu này, tác giả đã chọn lọc và kế thừa được những cơ sở lý luận về khái niệm, đặc

điểm, tiêu chí đánh giá doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Lê Thị Tâm (2018) Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong

các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế, luận văn

thạc sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân. Luận văn đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về

doanh nghiệp vừa và nhỏ, nội dung nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế.

Trên cơ sở này, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo nhân lực tại các

4

doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn từ năm 2014÷2018 và đề xuất những giải

pháp để phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế. Với luận văn này, tác giả kế thừa được cơ sở lý luận và

những chính sách thực hiện trong nguồn nhân lực của DNVVN.

Đinh Văn An (2016) Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp

vừa và nhỏ trên địa bàn Tỉnh Nghệ An, luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế - Đại học

Huế. Tác giả hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp vừa và

nhỏ, đánh giá chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời

đưa ra thực trạng các chính sách hỗ trợ phát triển cũng như các giải pháp để hoàn

thiện trong thời gian tới. Kế thừa và chọn lọc từ luận văn, tác giả đã tổng hợp và

phân tích được những cơ sở lý luận và một số chính sách về hỗ trợ phát triển

DNVVN.

Trần Anh Trung (2017), luận văn thạc sỹ Doanh nghiệp công nghiệp vừa và

nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - thực trạng và giải pháp phát triển, Viện Quản lý

kinh tế - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã nêu rõ được cơ sở

lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ, đánh giá được thực trạng phát triển của các

doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, qua đó đánh giá và đưa ra

những giải pháp để phát triển trong giai đoạn 2020÷2025. Qua luận văn, tác giả kế

thừa được những cơ sở lý luận và cách đánh giá sự phát triển DNVVN qua các chỉ

tiêu khác nhau.

Phạm Minh Tuấn (2015), luận văn thạc sỹ Hoàn thiện chính sách phát triển

doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Viện Quản lý kinh tế -

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về

chính sách phát triển DNVVN, phân tích thực trạng tình hình phát triển DNVVN

trên địa bàn thành phố Hà Nội, đánh giá và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện

chính sách phát triển cho DNVVN. Qua luận văn này, tác giả cũng kế thừa và chọn

lọc được những cơ sở lý luận mà tác giả đưa ra cùng với đề xuất một số giải pháp

vận dụng trong luận văn.

5

Tuy nhiên, ở tỉnh Phú Thọ chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu các chính

sách hỗ trợ của Nhà nước đối với các DNVVN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện

đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là những giải pháp hỗ trợ phát triển

DNVVN. Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi cần có những đầu tư nghiên cứu cụ thể.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách hỗ trợ

đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, luận văn đề xuất phương hướng và các giải

pháp đẩy mạnh chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

những năm tới.

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn tập trung giải quyết

những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

+ Làm rõ những vấn đề lý luận về DNVVN, chính sách hỗ trợ phát triển

DNVVN;

+ Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh

Phú Thọ giai đoạn 2015÷2019;

+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh chính sách hỗ trợ phát

triển DNVVN ở tỉnh Phú Thọ những năm tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các chính sách hỗ trợ của Nhà nước

cấp tỉnh. Đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và những khó khăn,

vướng mắc của các chính sách trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian, khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

+ Về thời gian, nghiên cứu các số liệu, văn bản hỗ trợ thành lập và phát triển

doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian 5 năm (2015÷2019)

6

+ Đề xuất các giải pháp chính nhằm thúc đẩy việc ra đời và phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ, thu hút mạnh vốn đầu tư trong nước và tạo ra nhiều việc làm

cho người dân của tỉnh phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

đến năm 2025.

5. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu định tính

Thông qua việc tiến hành tham khảo các giáo trình, tài liệu, báo, tạp chí, các

công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ để làm

cơ sở lý luận và rút ra các kinh nghiệm cần thiết.

Tiếp đến, sẽ nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

cấp Trung ương, cấp tỉnh thông qua các văn kiện, văn bản pháp luật, tài liệu có liên

quan đến đề tài nhằm củng cố các tiền đề, làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo.

- Phương pháp nghiên cứu định lượng

+ Phương pháp tổng hợp

Bằng các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đã thu thập được, sẽ tiến hành tổng hợp

và đưa ra các số liệu cung cấp cho nội dung nghiên cứu.

+ Phương pháp so sánh

Với kết quả tổng hợp trên, tiến hành so sánh giữa các năm, nhận xét sự chênh

lệch và chỉ ra nguyên nhân chênh lệch đó.

6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết

cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Chương 2: Thực trạng hỗ trợ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa

bàn tỉnh Phú Thọ.

Chương 3: Phương hướng và chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp vừa

và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1. Khái niệm, sự cần thiết phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo định nghĩa tại Luật Doanh Nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức

kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh

doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh

doanh. Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp thường được dùng để chỉ các loại hình:

Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty hợp

doanh thưộc các thành phần kinh tế”.

Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ một hoạt động hợp pháp nào trong sản

xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ để bán, cung ứng cho khách hàng và

thu lợi nhuận, dù hoạt động đó chỉ là của một cá nhân, một hộ gia đình, đều có thể

được coi là một doanh nghiệp (DN).

Ở nước ta, Luật Doanh nghiệp 2005 cũng đã nêu rõ: “Doanh nghiệp là tổ

chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký

kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động

kinh doanh”.

Tiếp theo đó, Luật cũng đã định nghĩa kinh doanh như sau: “Kinh doanh là

việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản

xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích

sinh lợi.”

Theo nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển

doanh nghiệp vừa và nhỏ, tại điều III, chương I đã định nghĩa DNVVN như sau:

"Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh

doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao

động trung bình hàng năm không quá 300 người"

8

Như vậy, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể

nếu không có đăng ký kinh doanh, không được gọi là DN, mặc dù số hộ này vẫn

thực hiện các hoạt động kinh doanh hợp pháp, được thực hiện các quyền và nghĩa

vụ dân sự giống như DN. Do đó, ở nước ta, quan niệm về DN có hai phạm vi rõ rệt:

Phạm vi hẹp chỉ bao gồm các DN chính thức đã đăng ký với tư cách tên gọi là DN;

phạm vi rộng bao gồm cả các hộ gia đình kinh doanh hợp pháp và các tổ chức, cá

nhân tham gia kinh doanh dưới danh nghĩa các tổ chức sự nghiệp có thu...

Trong một nền kinh tế, tùy theo các tiêu chí khác nhau mà người ta phân ra

các loại DN khác nhau. Theo ngành kinh tế có thể chia ra DN công nghiêp, DN

nông nghiệp, DN thương mại dịch vụ; theo tính chất hoạt động thì có DN hoạt động

công ích (phi lợi nhuận) và DN kinh doanh (vị lợi); theo hình thức sở hữu thì có

DNNN, DNDD và DN có vốn đầu tư nước ngoài; theo quy mô, mà chủ yếu là quy

mô về vốn và lao động thì có DN lớn, DNVVN.

Các DNVVN là loại hình DN có số lượng áp đảo ở hầu hết các nước. Có khá

nhiều cách định nghĩa khác nhau về DNVVN. Các định nghĩa này có những điểm

giống nhau và khác nhau, vì vậy khó mà tìm được một định nghĩa thống nhất, mặc

dù ai cũng thống nhất rằng kinh doanh vừa và nhỏ thì khối lượng công việc ít hơn,

đơn giản hơn là kinh doanh ở các DN lớn.

Hiện nay, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy

mô DN ở các nước. Ở mỗi nước, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ

thể mà có cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định. Bảng 1.1 dưới

đây cho thấy tình hình này.

9

Bảng 1.1 Tiêu thức phân loại DNVVN của một số nước

Lĩnh vực Công nghiệp Thương mại - Dịch vụ

Các DN vừa DN nhỏ DN vừa DN nhỏ

nước

Mỹ Dưới 3,5 triệu Dưới 3,5 triệu

USD USD

Dưới 500 lao Dưới 500 lao

động động

Nhật bản Dưới 100 triệu 10-30 triệu Yên

Yên Dưới 20 lao động Dưới 100 lao Dưới 5 lao

Dưới 300 lao động động

động

CHLB 1đến<100 triệu Dưới 1 triệu DM 1-100 triệu DM Dưới 1 triệu

Đức DM Dưới 9 lao động 10-<500 lao động DM

10-<500 lao Dưới 9 lao

động động

Philippin 15-60 triệu Peso < 15 triệu Peso 15-60 triệu Peso < 15 triệu

Không quy định Không q/định lđ Không quy định Peso

lđ lđ Không q/định

Đài Loan 1,6 triệu USD 1,6 triệu USD

Nguồn: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb

4-10 lao động 4-10 lao động

Chính trị quốc gia, Hà Nội

Ngoài ra, còn có định nghĩa chung của EU, có hiệu lực áp dụng từ tháng

6/1996:

10

DNVVN là các DN tư nhân và độc lập, trong khu vực phi sơ cấp, không bao

gồm các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, sử dụng dưới 200 công

nhân. Trong khu vực DNVVN có sự phân loại như sau theo quy mô:

 DN siêu nhỏ: sử dụng dưới 10 công nhân;

 DN nhỏ: sử dụng từ 10 đến 49 nhân công và có doanh thu hàng năm dưới

7 triệu ECU;

 DN vừa: sử dụng từ 50 đến 249 nhân công và có doanh thu hàng năm

dưới 40 triệu ECU.

1.1.2. Các quan điểm của chính quyền nhà nước về doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ nhiều năm trước, khi Chính phủ chưa ban hành chính thức tiêu chí quy

định DNVVN, một số cơ quan và nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí và tiêu

chuẩn cụ thể khác nhau để phân loại DNVVN. Có thể kể ra các cách phân loại tiêu

biểu sau:

- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) căn cứ vào 2 tiêu chí

lao động và vốn của các ngành để phân biệt:

+ Trong ngành công nghiệp: DNVVN là tổ chức kinh tế có số vốn từ 5÷10 tỷ

đồng và có số lao động 200÷500 người. Trong đó DN nhỏ có số vốn dưới 5 tỷ đồng

và có số lao động nhỏ hơn 200 người.

+ Trong ngành thương mại- dịch vụ: DNVVN là tổ chức có số vốn từ 5÷10

tỷ đồng và có số lao động từ 50÷100 người.

- Ngân hàng Công thương hoạt động cho vay tín dụng đối với các DN quy định

rằng: DN vừa là DN có vốn từ 5÷10 tỷ đồng và số lao động từ 500÷1000 người, DN

nhỏ là DN có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 500 người;

- Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, DN có

vốn dưới 1 tỷ đồng và dưới 100 lao động được xếp là DN nhỏ, DN có vốn từ 1÷10

tỷ đồng và có từ 100÷500 lao động là DN vừa. Trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ,

DN có vốn từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng, lao động từ 50÷250 người là DN vừa…

Tóm lại, người ta thường dùng 2 tiêu chí về vốn đăng ký và số lao động

thường xuyên để xác định DNVVN vì tất cả các DN đều có thể xác định được 2 tiêu

11

chí này. Riêng tiêu thức doanh thu ít được sử dụng vì đối với các nước đang phát

triển, đặc biệt là Việt Nam thì tiêu chí này có thể biến động do nhiều yếu tố và cũng

khó xác định.

Để thống nhất tiêu chí xác định DNVVN, ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban

hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định các DNVVN.

Theo quy định này, DNVVN là các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao

động trung bình hàng năm dưới 200 người. Quy định tạm thời này chỉ tồn tại

khoảng 3 năm và ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-

CP về trợ giúp phát triển DNVVN, theo quy định tại Nghị định này, DNVVN là cơ

sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có

vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không

quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế- xã hội cụ thể của ngành, địa phương,

trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp

dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.

Với tiêu thức phân loại mới này, DNVVN ở nước ta chiếm tỷ trọng khoảng

90% trong tổng số DN hiện nay, trong đó phần lớn là các DN thuộc khu vực doanh

nghiệp vừa và nhỏ. Điều này phù hợp với tình hình kinh tế của nước ta vốn là nền

kinh tế sản xuất vừa và nhỏ là chủ yếu.

1.1.3. Sự cần thiết của việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, DNNVV có vị trí đặc biệt quan trọng,

thể hiện qua các mặt dưới đây:

Tạo việc làm cho người lao ðộng

Ðây là một thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến

chúng ta phải đặc biệt trú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay. Khu vực

DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút khoảng 25÷26% lực lượng lao

động phi nông nghiệp của cả nước, nhưng triển vọng thu hút thêm lao động rất lớn

vì suất đầu tư cho một chỗ làm việc ở đây thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn,

chủ yếu là do chi phí thấp và thu hút được nguồn vốn rải rác trong dân.

12

Ðóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Mỗi năm, DNNVV đóng góp khoảng 25%÷26% GDP của cả nước. Các

DNNVV ở Việt Nam đã cung cấp ra thị trường nhiều loại sản phẩm khác nhau, đáp

ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần

thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành tiểu thủ công nghiệp cũng

như các hàng hoá tiêu dùng khác.

Ðảm bảo cho nền kinh tế năng động hơn

Do yêu cầu vốn ít, quy mô nhỏ, DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng,

chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ… làm cho nền kinh tế năng động hơn.

Tãng thu nhập cho dân cư

Thu nhập của dân ta còn quá thấp, do kinh tế chậm phát triển. Phát triển

DNNVV ở thành thị cũng như nông thôn là biện pháp chủ yếu để tăng thu nhập, đa

dạng hóa thu nhập của các tầng lớp nhân dân khắp các vùng trong cả nước, góp phần

rất quan trọng thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.

Góp phần thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp

hóa, hiện ðại hóa

Việc phát triển DNNVV sẽ tạo ra những chuyển biến hết sức quan trọng về

cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế, từ một nền kinh tế nhỏ, thuần nông là chủ yếu sang

nền kinh tế có cơ cấu theo hướng hiện đại.

Góp phần ðào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn một đội ngũ doanh

nhân mới trong kinh tế thị trường

Các DNNVV là nơi đào tạo, rèn luyện cho các nhà quản lý DN. Với quy mô

vừa và nhỏ là môi trường thuận lợi cho các nhà quản lý DN làm quen với môi

trường kinh doanh. Bắt đầu từ đây một số nhà quản lý DN đã trưởng thành lên

những nhà quản lý DN lớn, tài ba, biết đưa DN của mình nhanh chóng phát triển.

Ðây là vấn đề quan trọng bởi ở Việt Nam trong nhiều năm đội ngũ các nhà quản lý

DN gắn liền với cơ chế bao cấp nên chưa có kinh nghiệm với kinh tế thị trường.

Tóm lại, DNNVV có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất

nước và vai trò này ngày càng được tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hóa,

13

hiện đại hóa, bởi DNNVV đang là động lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việc

làm, huy động vốn trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

1.1.4. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ

Ðặc ðiểm của các DNVVN xuất phát trước hết từ chính quy mô của doanh

nghiệp. Cũng như các DNVVN trên thế giới, với quy mô nhỏ, DNVVN Việt nam

cũng có những đặc điểm tương tự như ở các quốc gia khác. Ngoài ra, do đặc

trưng riêng của nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch

hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên các

DNVVN Việt nam còn có những đặc điểm riêng. Những đặc điểm cơ bản của

các DNVVN Việt nam thể hiện như sau:

 Các DNVVN ở Việt nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức

tổ chức doanh nghiệp, bao gồm từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và các

công ty tư nhân đến hợp tác xã. Trong một thời gian dài, các doanh nghiệp thuộc

các thành phần khác nhau không được đối xử bình đẳng, bị phân biệt đối xử. Ðiều

đó ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay,

đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cận nguồn lực không như nhau

(trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng…).

 Là những doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, vì vậy DNVVN

thường có điểm mạnh là dễ khởi sự và tính linh hoạt cao, có các lợi thế trong việc

duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống. Tuy nhiên, đây thường là những

doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Ðặc điểm này đã làm cho các

DNVVN gặp nhiều khó khãn trong quá trình hoạt động của mình do không có các

lợi thế kinh tế theo quy mô. Mặt khác, do rất dễ khởi nghiệp nên DNVVN cũng

phải chịu nhiều loại rủi ro trong kinh doanh. Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới

cho thấy, càng nhiều DNVVN ra đời thì cũng càng có nhiều DNVVN bị phá sản.

 Khả năng quản lý hạn chế: Các chủ doanh nghiệp thường là những kỹ sư

hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp. Họ vừa là người

quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn

trong quản lý không cao. Ðôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng,

14

những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản

xuất. Phần lớn những người chủ doanh nghiệp đều không được đào tạo qua một

khóa quản lý chính quy nào, thậm chí chưa qua một khóa đào tạo nào.

 Trình độ tay nghề của người lao động thấp: Các chủ DNVVN không đủ khả

năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao động có

tay nghề cao do hạn chế về tài chính. Bên cạnh đó, định kiến của người lao động

cũng như của những người thân của họ về khu vực này vẫn còn khá lớn. Người lao

động ít được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp vì vậy trình độ thấp và kỹ

năng thấp.

 Khả nãng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển

khai. Nhiều DNVVN có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài

chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc

bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ.

 Các DNVVN Việt nam thường sử dụng chính những diện tích đất riêng của

mình làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh và rất khó thuê ðược các mặt bằng sản

xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp này rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh

doanh khi quy mô của doanh nghiệp được mở rộng. Một số doanh nghiệp thuê được

đất thì gặp nhiều trở ngại trong việc giải phóng mặt bằng và đền bù.

 Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài.

Nguyên nhân chủ yếu là do các DNVVN thường là những doanh nghiệp mới hình

thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa

có nhiều khách hàng truyền thống.

1.2 Khái niệm và nội dung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.1 Khái niệm chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hỗ trợ phát triển DNVVN: Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN phát

triển, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Chương trình trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhà nước (gọi tắt là

Chương trình trợ giúp) là chương trình mục tiêu dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa,

căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành và

15

các địa bàn cần khuyến khích. Chương trình trợ giúp này được bố trí trong kế hoạch

hàng năm và kế hoạch 5 năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân

dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.

Chương trình trợ giúp gồm: Mục tiêu, đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa cụ

thể theo ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn hoạt động, nội dung trợ giúp, nguồn lực,

kế hoạch và biện pháp về cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện. Chú trọng ưu tiên

chương trình trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa do doanh nhân nữ quản lý.

Tóm lại những chính sách về hỗ trợ phát triển DNVVN của nhà nước được thể

hiện như sau:

- Một là, tạo môi trường thuận lợi cho việc khởi nghiệp và hành nghề của

DNVVN.

- Hai là, cho vay vốn với điều kiện thuận lợi (như nhà nước góp phần thế chấp

hoặc bảo lãnh) với lãi suất thấp, với ân hạn dài, với sự trợ giúp khi gặp khó khăn

trong việc trả nợ.

- Ba là, cho hưởng nhiều ưu đãi về thuế.

- Bốn là, chuyển giao và giúp làm chủ công nghệ và quản lý tiến tiến.

- Năm là, giúp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, từ giám đốc đến kỹ thuật

viên, nhân viên quản lý, kế toán và công nhân lành nghề.

- Sáu là, cho nhận thầu công việc sản xuất - kinh doanh; cho đảm nhận từng dự

án hoặc bộ phần dự án kinh tế (của nhà nước); cho hạn ngạch hoặc tỷ phần trong

việc cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu.

- Bảy là, giúp tiếp cận thị trường, cung cấp thông tin kịp thời và chuẩn xác về

thị trường, cho tham gia nhiều hình thức thiết lập và phát triển quan hệ với các đối

tác trong và ngoài nước.

- Tám là, đặc biệt chăm sóc và giúp đỡ các DNVVN thiếu triển vọng; các

DNVVN bị thiệt thòi hoặc gặp nhiều khó khăn; các DNVVN do phụ nữ làm chủ;

các DNVVN trong một số ngành và vùng ưu tiên…

16

- Chín là, hoạch định, thông qua và thực hiện những chiến lược trung hạn và

dài hạn, những chương trình quốc gia từng năm hoặc vài năm về phát triển

DNVVN.

- Mười là, theo dõi tình hình, thường thì làm thống kê riêng về DNVVN, kiểm

điểm việc thực hiện các luật lệ, chiến lược và chương trình nói trên, phát hiện và xử

lý kịp thời các vấn đề nảy sinh để phát triển DNVVN.

- Mười một là, lập cơ quan chuyên trách về DNVVN, có nơi là cơ quan cấp bộ

hoặc chính là một bộ trong chính phủ.

- Mười hai là, giúp sự thành lập và hoạt động có hiệu quả của các hiệp hội

DNVVN. Dành cho các hiệp hội ấy cơ hội và vị trí đích đáng trong các Hội đồng,

các Uỷ ban, các hội nghị quan trọng của nhà nước để hoạch định các chính sách

kinh tế quốc gia.

Vậy có thể hiểu: Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ

quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo thuận lợi cho DNVVN phát

huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học - công

nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp

khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển

sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.

1.2.2. Nội dung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.2.1. Tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nếu muốn DNVVN thực sự trở thành động năng tăng trưởng kinh tế, các quốc

gia cần xây dựng một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp

có sức cạnh tranh, mang lại lợi nhuận. Gồm các nội dung sau:

Thứ nhất, tiến hành cải cách thủ tục hành chính

- Tiếp tục hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định khung pháp lý, cải cách thủ tục

hành chính và chính sách tài chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình

đẳng, minh bạch, thông thoáng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.

17

- Kiện toàn công tác đăng ký kinh doanh: Xây dựng đề án tổ chức hệ thống cơ

quan đăng ký kinh doanh toàn quốc, thống nhất về nghiệp vụ, kinh phí hoạt động, tổ

chức biên chế, nhân sự.

- Quy định về điều kiện kinh doanh đối với các lĩnh vực chưa được quy định:

Quy định điều kiện kinh doanh (không phân biệt thành phần kinh tế) đối với các

dịch vụ đòi nợ, đánh giá tín nhiệm.

- Điều chỉnh các quy định liên quan đến triển khai hoạt động sau đăng ký

kinh doanh.

- Hoàn thiện các quy định pháp lý về giao dịch thương mại. Xây dựng Pháp

lệnh về đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm thống nhất các quy định của pháp luật về

đăng ký giao dịch bảo đảm, không phân biệt đối với động sản hay bất động sản,

nhằm tạo ra một cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về các giao dịch bảo đảm, công

khai hóa và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, đồng thời có hiệu lực đối với người

thứ ba…

- Hoàn thiện các quy định về chế độ kế toán và báo cáo tài chính. Mở rộng

phạm vi, đối tượng áp dụng chế độ kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Nghiên cứu xây dựng phương pháp kế toán đơn giản áp dụng cho các doanh nghiệp

nhỏ, trình độ quản lý thấp; đơn giản hóa hệ thống tài khoản.

- Hoàn thiện các quy định liên quan đến thuế. Thu hẹp diện nộp thuế thu nhập

doanh nghiệp theo phương pháp khoán để khuyến khích các đối tượng nộp thuế

khoán thực hiện đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.

Thứ hai: Tạo lập môi trường tâm lý xã hội đối với khu vực DNVVN

Cần thực hiện đúng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương Ðảng khoá

IX coi doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế

quốc dân; phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là chiến lược lâu dài trong phát triển

nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa;

Một môi trường kinh doanh lành mạnh, khuyến khích doanh nghiệp thuộc các

thành phần kinh tế phát huy mọi khả năng đầu tư vốn liếng và trí tuệ kinh doanh

18

năng động, sáng tạo, cạnh tranh bình đẳng, đúng pháp luật, là nền tảng cho sự phát

triển nhanh và bền vững của nền kinh tế.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức

của chính quyền các cấp, cộng đồng dân cư đối với các DNVVN.

- Tăng cường nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của

DNVVN trong phát triển kinh tế-xã hội.

- Giáo dục về văn hoá kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng, trung

học chuyên nghiệp và trường dạy nghề. Đưa một số chuyên đề không bắt buộc về

doanh nghiệp vào chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học

chuyên nghiệp và trường dạy nghề.

Thành lập Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trực thuộc Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, để giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà

nước về xúc tiến phát triển DNVVN. Giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư định

hướng công tác xúc tiến doanh nghiệp nhỏ và vừa: Xây dựng hoặc tham gia xây

dựng chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về xúc tiến phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa, trình cấp có thẩm quyền ban hành; tổng hợp xây dựng các

chương trình trợ giúp, lập danh mục các đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa cụ thể

theo ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn hoạt động, nội dung trợ giúp, điều phối, hướng

dẫn và kiểm tra thực hiện các chương trình trợ giúp sau khi được duyệt.

1.2.2.2. Các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tổ chức tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ các tổ chức trợ giúp

doanh nghiệp nhỏ và vừa và bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp trong việc xúc tiến phát

triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thực hiện hợp tác quốc tế về xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,

thông qua cân đối nguồn lực và kêu gọi nguồn vốn từ bên ngoài để trợ giúp doanh

nghiệp nhỏ và vừa.

Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để cung cấp thông tin cần thiết

cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

19

Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan xúc tiến trợ giúp doanh nghiệp

nhỏ và vừa trong việc tư vấn kỹ thuật và tiếp cận công nghệ, trang thiết bị mới,

hướng dẫn, đào tạo vận hành quản lý kỹ thuật và quản lý doanh nghiệp.

1.2.2.3. Hỗ trợ về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh

Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa để bảo lãnh cho các

doanh nghiệp nhỏ và vừa khi không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, vay vốn của các tổ

chức tín dụng.

Chính phủ trợ giúp đầu tư thông qua biện pháp về tài chính, tín dụng, áp dụng

trong một thời gian nhất định đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào một

số ngành nghề, bao gồm ngành nghề truyền thống và tại các địa bàn cần khuyến

khích.

Chính phủ khuyến khích các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp và thể nhân

góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch, kế hoạch sử

dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Chủ

tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện thuận lợi

cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng sản xuất phù hợp chỉ đạo dành quỹ

đất và thực hiện các chính sách khuyến khích để xây dựng các khu, cụm công

nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng xây dựng tập trung cơ sở sản

xuất hoặc di dời từ nội thành, nội thị ra, bảo đảm cảnh quan môi trường.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách ưu đãi trong việc thuê

đất, chuyển nhượng, thế chấp và các quyền khác về sử dụng đất đai theo quy định

của pháp luật.

Nhờ vào chính sách này, các DNVVN đã thực hiện quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố một cách

dễ dàng và nhanh chóng hơn.

1.2.2.4. Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực

- Chính phủ, các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân địa phương cung cấp các

thông tin cần thiết qua các ấn phẩm và qua mạng in-tơ-nét cho các doanh nghiệp

20

nhỏ và vừa, thông qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và

vừa) phối hợp với các cơ quan liên quan và các tổ chức xã hội nghề nghiệp trợ giúp

doanh nghiệp nhỏ và vừa.

- Chính phủ trợ giúp kinh phí để tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực cho doanh

nghiệp nhỏ và vừa thông qua chương trình trợ giúp đào tạo. Kinh phí trợ giúp về

đào tạo được bố trí từ ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo.

- Chính phủ khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước trợ giúp các doanh

nghiệp nhỏ và vừa trong việc cung cấp thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực.

- Chính phủ khuyến khích việc thành lập các vườn ươm doanh nghiệp nhỏ và

vừa để hướng dẫn, đào tạo doanh nhân trong bước đầu thành lập doanh nghiệp.

1.2.2.5. Hỗ trợ về tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm

- Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

chỉ đạo, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các thông tin về thị

trường, giá cả hàng hóa, trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng thị trường,

tiêu thụ sản phẩm.

- Các địa phương trợ giúp việc trưng bày, giới thiệu, quảng cáo, tiếp thị các sản

phẩm có tiềm năng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, để tạo điều kiện mở rộng thị

trường.

- Chính phủ tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cung ứng

hàng hóa và dịch vụ theo kế hoạch mua sắm bằng nguồn ngân sách nhà nước; các

Bộ, ngành và địa phương có kế hoạch ưu tiên đặt hàng và các đơn hàng theo hạn

ngạch phân bổ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất hàng hóa và dịch vụ bảo

đảm chất lượng và đáp ứng yêu cầu.

- Chính phủ khuyến khích phát triển hình thức thầu phụ công nghiệp, tăng

cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp khác về hợp

tác sản xuất sản phẩm, sản xuất linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, nhận thầu xây dựng...,

nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng

cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

21

- Thông qua các chương trình trợ giúp, Chính phủ tạo điều kiện cho các doanh

nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, trang thiết bị, máy móc, phát triển sản phẩm

mới, hiện đại hóa quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, tăng khả

năng cạnh tranh trên thị trường.

- Các Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham

gia các chương trình xuất khẩu của Nhà nước.

1.2.2.6. Hỗ trợ thành lập các hiệp hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thành lập Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trực thuộc Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, để giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà

nước về xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thành lập Hội đồng Khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa làm

nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát

triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các thành viên của Hội đồng hoạt động kiêm nhiệm.

Thủ tướng Chính phủ quyết định chức năng, nhiệm vụ và thành viên Hội đồng theo

đề nghị của Chủ tịch Hội đồng.

1.3. Bài học kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và

nhỏ từ các điển hình nghiên cứu

1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước

Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hàn Quốc là một trong những hệ thống doanh

nghiệp đóng vai trò chiến lược đối với sự phát triển toàn diện của nền kinh tế. Số

lượng DNVVN chiếm khoảng 99,9% tổng số doanh nghiệp, đóng góp trên 102,9

triệu đô la Mỹ từ việc xuất khẩu và giải quyết được việc làm cho hơn 87,7% trên

tổng dân số đang ở độ tuổi lao động (theo Cơ quan quản lý DNVVN Hàn Quốc

SMBA, “SMBA – Partner of Korean SMEs” 2014). Các chính sách phát triển của

Hàn Quốc được xây dựng từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong nước khi đối

mặt với việc ngưng viện trợ từ nước ngoài, cũng như khắc phục những hạn chế của

các DNVVN.

22

Có thể khái quát toàn bộ quá tŕnh h́ nh thành các chính sách và biện pháp hỗ trợ

DNVVN của Hàn Quốc, Chính phủ tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

- Phát triển thầu phụ công nghiệp: Trước hết ban hành đạo luật khuyến khích

hệ thống hợp đồng thầu phụ để bảo vệ cho các DNVVN trong mối quan hệ với các

DN lớn. Chính phủ qui định bắt buộc các bên ký hợp đồng sản xuất và mua sản

phẩm của DNVVN phải thanh toán bằng tiền mặt ngay sau khi được giao hàng. Đối

với DN tiêu thụ sản phẩm của các DN nhỏ, sẽ được vay 50% vốn. Những DN giao

hợp đồng phụ cho các DNVVN sẽ được giảm thuế 10% nếu đầu tư vào các dự án

thử nghiệm hoặc đầu tư vào nâng cao kỹ thuật của DN thực hiện hợp đồng phụ.

- Hỗ trợ phát triển, thương mại hóa sản phẩm mới và công nghệ mới: Chính

phủ hỗ trợ tài chính cho các DNVVN sử dụng kỹ thuật hiện đại. Thành lập 3 tổ

chức tài chính khuyến khích phát minh và sáng chế công nghệ là Tổ chức hợp tác

phát triển công nghệ Hàn Quốc, Tổ chức hợp tác đầu tư phát triển và Tổ chức hợp

tác tài chính công nghệ, bảo đảm cho các tổ chức này nhận được 70% vốn vay của

ngân hàng để làm dịch vụ hỗ trợ.

- Hỗ trợ phát triển thị trường: Nhà nước hỗ trợ thị trường bằng cách công bố

những mặt hàng độc quyền sản xuất dành riêng cho DNVVN. Số lượng các mặt

hàng này tăng dần từ 103 lên đến 205 vào tháng 12/1984.

- Các biện pháp hỗ trợ vốn, tín dụng, thuế: Thông qua chính sách cho vay,

ngân hàng phải dành 35% toàn bộ vốn vay của mình cho các DNVVN; đối với ngân

hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính bảo hiểm là 25% và 75% đối với các ngân

hàng địa phương.

- Thông qua quỹ bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện cho DNVVN vay với lãi suất

ưu đãi là 1%, so với 1,5% của các DN lớn trong hạn mức 1 tỷ Won.

Kinh nghiệm của Đài Loan

Sự tăng trưởng kinh tế siêu tốc của Đài Loan trong những thập kỷ vừa qua gắn

liền với những đóng góp to lớn về mọi mặt của DNVVN, đặc biệt trong lĩnh vực

việc làm và xuất khẩu.

23

Với vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, các DNVVN ở Đài Loan luôn được

sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước để phát triển. Các cơ quan, tổ chức hỗ trợ phát

triển được thành lập như: Thiết lập các cơ cấu chuyên trách để thúc đẩy sự phát

triển của DNVVN (1954); thành lập các ngân hàng chuyên nghiệp cung cấp vốn và

tín dụng cho các DNVVN (1964); Thành lập Bộ kinh tế các DNVVN (1970); Thành

lập trung tâm dịch vụ DNVVN ở các địa phương, Trung tâm giải pháp nhanh,

Trung tâm đào tạo DNVVN…

Đến nay, Đài Loan đã hình thành được một hệ thống chính sách và biện pháp

trợ giúp DNVVN tương đối ổn định và có tính thống nhất cao. Hệ thống này đã

được thể chế hóa bởi văn bản Đại cương các chính sách và biện pháp nhằm vào các

DNVVN do Cục quản lý DNVVN phát hành. Theo văn bản này, khuôn khổ chính

sách và biện pháp trợ giúp DNVVN của Đài Loan tập trung vào ba nhóm lớn, đó là:

 Xây dựng môi trường kinh doanh tối ưu: Duy trì sự cạnh tranh công bằng

hợp lý, cải thiện hệ thống tài chính, giúp DNVVN cải thiện điều kiện lao động và

môi trường…

 Thúc đẩy sự hợp tác giữa các DNVVN và giữa các DNVVN với các DN lớn.

 Thúc đẩy sự tăng trưởng độc lập của DN: Trợ giúp các DN tối ưu hóa

quản lý, thành lập DN mới, thúc đẩy các hãng hoạt động ở nước ngoài…

Mỗi chính sách lớn trên đều được thực hiện bởi nhiều biện pháp cụ thể. Một

số biện pháp nổi bật đang được Chính phủ Đài loan thực hiện để trợ giúp các

DNVVN hiện hành là:

 Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý trợ giúp cho sự phát triển của các

DNVVN, thành lập Nhóm đặc trách thúc đẩy DNVVN có chức năng soát xét và

kiến nghị sửa đổi luật lệ để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các DNVVN.

 Thành lập các quỹ trợ giúp tài chính cho các DNVVN gồm: Quỹ bảo lãnh

tín dụng cho DNVVN, Quỹ bảo lãnh tương hỗ, Quỹ phát triển DNVVN và tập đoàn

phát triển DNVVN. Ngoài ra các DNVVN còn được nhận các khoản vay đặc biệt

nhằm vào các mục đích như giảm ô nhiểm, giảm chi phí hoạt động… thông qua

nhiều quỹ đặc biệt của Chính phủ.

24

 Hình thành hệ thống tư vấn cho các DNVVN, bao gồm: Hệ thống hướng

dẫn tài chính và tín dụng, hệ thống hướng dẫn quản lý.

1.3.2. Kinh nghiệm của các địa phương

Thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng và Bình Dương là 2 địa phương có tốc độ tăng trưởng về kinh tế - xã

hội vượt bậc trong những năm trở lại đây nhờ chính sách hỗ trợ đối với DNVVN.

Riêng tại Đà Nẵng, số lượng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng phát

triển tăng thêm bình quân trên 10%/năm; năm 2019 đã có gần 22.032 doanh nghiệp,

tổng vốn đăng kí là 129.297 tỷ đồng, giải quyết việc làm bình quân hàng năm trên

31 nghìn người, tổng vốn đầu tư từ khu vực doanh nghiệp chiếm 65%÷70% tổng

vốn đầu tư trên địa bàn thành phố.

Để DNVVN phát triển và khẳng định vị trí trong nền kinh tế, theo tinh thần

Nghị quyết của BCHTW khoá IX – Thành phố Đà Nẵng đã triển khai một số giải

pháp cụ thể sau:

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển kinh tế trên địa bàn

hàng năm; xác định chỉ tiêu hướng dẫn về sản xuất, dịch vụ, xuất nhập khẩu, giải

quyết việc làm, nộp ngân sách cho các ngành khu vực và các giải pháp hỗ trợ.

- Cải thiện môi trường phát triển thuận lợi về tâm lý cho DN, thực hiện bình đẳng,

xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp. Tổ chức

các cuộc gặp gỡ, tọa đàm, đối thoại giữa lãnh đạo thành phố và các doanh nghiệp.

- Tạo cơ hội và khả năng cho các DNVVN tiếp cận các nguồn vốn tín dụng.

Đà Nẵng còn thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN, đơn giản hoá thủ tục

hành chính trong các quan hệ tín dụng đối với các DN.

- Hỗ trợ đào tạo nghề: Thành phố hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo bồi dưỡng,

nâng cao trình độ cán bộ quản lý DN, cán bộ kế toán, thống kê cho các DN. Hỗ trợ các

làng nghề truyền thống, nghệ nhân, thợ cả trong đào tạo nghề.

- Hỗ trợ về tài chính và thuế. Công khai và tạo điều kiện để các DN được

hưởng các ưu đãi của Chính phủ như vay vốn, hỗ trợ lãi xuất, hỗ trợ xuất khẩu, hỗ

trợ phát triển thị trường.

25

- Tăng cường quản lý nhà nước đối với DNVVN. Đảm bảo cho DN kinh

doanh đúng pháp luật, hướng dẫn theo dõi hoạt động của DN đúng nội dung đăng

ký kinh doanh, giải quyết hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết những khó

khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

Tỉnh Bình Dương:

Trong những năm gần đây, Tỉnh Bình Dương có sự tăng trưởng kinh tế cao

vào loại bậc nhất của cả nước. Những thành tựu Bình Dương đạt được là nhờ sự

đóng góp đáng kể của loại hình DNVVN

Từ những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế

nhiều thành phần, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Bình Dương đã có nhiều chủ trương và

chính sách thông thoáng nhằm phát huy nội lực, thu hút ngoại lực để phục vụ chiến

lược phát triển của tỉnh với khẩu hiệu: Trải thảm đỏ mời khách đầu tư, tiến hành cải

cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, tập trung đầu mối xét và cấp giấy

phép đầu tư do Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện với thủ tục nhanh, gọn, tạo điều

kiện thuận lợi để các DN được tiếp xúc dễ dàng với lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, để

trình bày các khó khăn trong quá trình đầu tư và nhờ đó khó khăn được tháo gỡ kịp

thời. Do đó, DNVVN ở Bình Dương có những đóng góp nổi bật sau:

 Đã phát huy tiềm năng về đất đai, lao động, ngành nghề truyền thống và

nguồn vốn trong dân để phát triển kinh tế của tỉnh, tạo việc làm cho trên 100.000

lao động.

 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng CNH, HĐH đóng

góp lớn vào tăng trưởng kinh tế và ngân sách của tỉnh Bình Dương.

Từ những quan điểm chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần của tỉnh,

các sở, ban, ngành đã cụ thể hoá nội dung quản lý của mình để thực hiện các biện

pháp hỗ trợ phát triển DNVVN thông quan các chính sách đất đai, tín dụng, khoa

học - công nghệ,…

26

1.3.3. Bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm hỗ trợ DNVVN của các nước và các địa

phương, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ DNVVN ở

Việt Nam:

Chiến lược phát triển DNVVN phải gắn liền với chiến lược phát triển KT-XH:

Kinh nghiệm phát triển DNVVN của một số nước Đài Loan, Hàn Quốc cho

thấy chính sách phát triển DNVVN có thành công hay không tùy thuộc rất lớn vào

sự phù hợp của nó với chính sách phát triển KT-XH chung của đất nước. Việc coi

chiến lược phát triển DNVVN là một bộ phận của chiến lược phát triển KT-XH,

không chỉ dừng lại ở việc thực hiện các mục tiêu mà còn ở việc cùng khai thác và

sử dụng có hiệu quả nguồn lực hiện có của đất nước.

Xác định các nhóm ngành ưu tiên phát triển:

Kinh nghiệm phát triển DNVVN của các nước cho thấy rõ các nhóm ngành

cần ưu tiên phát triển đặc biệt chú trọng đến các ngành công nghiệp có định hướng

xuất khẩu. Hiện nay chính sách phát triển chung của Việt Nam là khuyến khích xuất

khẩu. Các ngành nghề truyền thống của Việt Nam góp phần không nhỏ trong việc

gia tăng giá trị xuất khẩu.

Bảo đảm sự bình đẳng cho các DNVVN, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa

các DNVVN với các DN lớn:

Các DNVVN luôn có mối quan hệ hợp tác với DN lớn chứ không phải mối

qua hệ cạnh tranh chia nhau một nguồn lực có giới hạn của nền kinh tế. Có nhiều

lĩnh vực mà DN lớn không thể vươn ra và hoạt động có hiệu quả nếu không có

mạng lưới vệ tinh là các DNVVN đặc biệt là các mảng thị trường ngách trong nền

kinh tế.

Cơ chế và hệ thống quản lý thống nhất:

DNVVN muốn phát triển phải có được hệ thống cơ chế quản lý thống nhất

giữa các ngành và địa phương. Một số nước có những cơ quan quản lý chuyên trách

của Chính phủ đối với DNVVN cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất

27

nước và phù hợp với chính sách chiến lược phát triển KT-XH chung của đất nước.

Các cơ quan này là người đại diện về mặt pháp lý bảo vệ quyền lợi của DNVVN.

Tăng cường năng lực nội tại của DN:

Các chính sách phát triển DNVVN ở các nước không chỉ tập trung vào việc

tạo ra các điều kiện và cơ hội thuận lợi cho DNVVN mà còn tập trung vào việc tăng

năng lực nội tại của bản thân DN.

28

Tóm tắt chương 1

Ở chương 1, luận văn đã hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về chính sách hỗ

trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thông qua việc nghiên cứu khái niệm, đặc

điểm, sự cần thiết của doanh nghiệp vừa và nhỏ, khái niệm và nội dung chính sách

hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cụ thể nội dung nghiên cứu chính sách

hỗ trợ phát triển DNVVN bao gồm: Tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh

nghiệp nhỏ và vừa, các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ về tài

chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh, hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ về

tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ thành lập các hiệp hội của doanh

nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với sự nghiên cứu phát triển năng động DNVVN ở một số

quốc gia và địa phương như Hàn Quốc, Đài Loan, Đà Nẵng, Bình Dương để đưa ra

những bài học kinh nghiệm cho tỉnh Phú Thọ.

29

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

2.1. Giới thiệu khái lược về tỉnh Phú Thọ

2.1.1. Về điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc của Việt Nam, có vị trí trung

tâm vùng và là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội. Tỉnh Phú Thọ nằm trên

trục hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc), phía Đông

giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Tây tiếp giáp thành phố Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hoà

Bình, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và tỉnh Tuyên Quang. Phú Thọ cách sân bay quốc

tế Nội Bài 50km, cách Trung tâm thành phố Hà Nội 80km, cách cảng Hải Phòng

170km, cách cửa khẩu quốc tế Hà Khẩu (giữa Lào Cai - Việt Nam và Vân Nam -

Trung Quốc) và cửa khẩu Thanh Thủy - Lạng Sơn 200km và là nơi hợp lưu của ba

con sông lớn: sông Hồng, sông Đà và sông Lô.

Vị trí địa lý của Phú Thọ đã tạo cho tỉnh Phú Thọ có nhiều điều kiện thuận lợi

và tiềm năng to lớn để sản xuất kinh doanh, giao lưu, phát triển kinh tế với cả trong

nước và ngoài nước.

Phú Thọ còn là mảnh đất cội nguồn, vùng đất tổ của dân tộc Việt Nam. Tại

đây có đền thờ các Vua Hùng và hệ thống di tích lịch sử, lễ hội dày đặc, mỗi lễ hội

có một sắc thái riêng đặc sắc và độc đáo, là tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch,

dịch vụ.

Đặc điểm địa hình:

Phú Thọ là tỉnh miền núi nên có đặc điểm địa hình chia cắt tương đối mạnh

do nằm cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi

thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Địa hình Phú Thọ

được chia làm 2 tiểu vùng:

- Tiểu vùng miền núi (gồm các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa và một

phần của huyện Cẩm Khê).

30

- Tiểu vùng trung du, đồng bằng (gồm thành phố Việt Trì, thị xă Phú Thọ,

huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh, huyện Thanh Thủy, huyện Tam Nông, huyện

Đoan Hùng và phần còn lại của huyện Cẩm Khê, huyện Hạ Hòa).

Tóm lại, với địa hình đa dạng, vừa có miền núi, vừa có trung du và đồng bằng

ven sông, đã tạo ra nguồn đất đai đa dạng, phong phú để phát triển DNVVN. Tuy

nhiên do địa hình chia cắt, mức độ cao thấp khác nhau nên việc đầu tư khai thác

tiềm năng, phát triển sản xuất, phát triển hạ tầng để phát triển DNVVN phải đầu tư

tốn kém, nhất là giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước.

Đặc điểm khí hậu:

Phú Thọ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm

khoảng 23°C, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.700 mm, độ ẩm trung bình

năm khoảng 86%; có 2 tiểu vùng chủ yếu gồm:

+ Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của tỉnh, chủ yếu thuộc các huyện

Thanh Sơn, huyện Yên Lập, phía Tây huyện Cẩm Khê…..là vùng có nhiều tiềm

năng phát triển về lâm nghiệp, khai thác khoáng sản.

+ Tiểu vùng đồi gò thấp, xen kẽ đồng ruộng, dải đồng bằng ven các triền sông

Hồng. sông Lô và Sông Đà.

Đất đai và nguồn nước

Tổng diện tích đất của tỉnh Phú Thọ là 3.532 km2, trong đó diện tích đất nông

nghiệp: 97.610 ha, đất rừng là 195.000 ha với 64.064 ha rừng tự nhiên, đất mặt

nước nuôi trồng thủy sản là 10.000 ha, các loại đất khác là 19.299 ha.

Tiềm năng về đất đai của Phú Thọ còn rất lớn, đất chưa sử dụng chiếm tới

hơn 30% diện tích tự nhiên.

Vùng đất đồi trung du thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây màu

lương thực và cây ăn quả - và đây cũng là một thế mạnh của tỉnh.

Nguồn nước cho sản xuất và đời sống dân cư trên lãnh thổ khá dồi dào với

lưu lượng nước của 3 con sông lớn (sông Hồng, sông Đà, sông Lô) cùng hàng trăm

suối, đầm ao lớn nhỏ chứa một lượng nước khá lớn thuận lợi cho sản xuất và tiêu

dùng.

Tài nguyên khoáng sản

31

Phú Thọ có trữ lượng về đá xây dựng, cao lanh đủ để phát triển ngành công

nghiệp vật liệu xây dựng. Khai thác tốt lợi thế này sẽ giúp tỉnh chủ động trong xây

dựng, tăng nguồn thu và nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ đó thúc đẩy

phát triển DNVVN nói riêng cũng như kinh tế xã hội của tỉnh nói chung phát triển.

Tài nguyên rừng

Phú Thọ là tỉnh miền núi - trung du, diện tích đất đồi rừng chiếm tới 60% diện

tích tự nhiên. Nhìn chung rừng ở tỉnh này không phải là rừng giàu, ngoài vùng rừng

nguyên sinh Xuân Sơn và những vùng xung quanh, rừng còn lại không có giá trị

cao, chủ yếu là khai thác làm nguyên liệu giấy. Đó cũng là thế mạnh của tỉnh và

hướng tới tập trung cho phát triển nguyên liệu giấy.

2.1.2. Về kinh tế xã hội

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của Phú Thọ giai đoạn 2017-

2019

Những chỉ tiêu chủ yếu

Thực hiện hết năm 2019

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân/năm GRDP bình quân đầu người (triệu đồng) GDP/người tăng so với năm 2015 Cơ cấu kinh tế: + Nông, lâm, thủy sản + Công nghiệp – xây dựng + Dịch vụ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng Giảm tỷ lệ hộ nghèo Giải quyết việc làm So với mục tiêu (%) 100 101.9 102 85,6 94,7 94,3 110,4 109,3 200 181,1

Tỷ lệ lao động qua đào tạo Số trạm y tế xã có bác sỹ Mục tiêu giai đoạn 2015 - 2019 9,5 - 10% 35,5 1,5 - 1,6 lần 24,5% 39,8% 35,7% Dưới 1,16% Dưới 14% Dưới 1,7% 61-62 nghìn người 60-61% 100% 9,79% 36,2 1,53 lần 28,7% 37,6% 33,7% 1,05 % 12,8% 3,08% 74,2 nghìn người 64% 100% 106,7 100

Nguồn: QH tổng thể phát triển KT-XH Phú Thọ giai đoạn 2015÷2020

Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015÷2019 trung bình đạt

9,79%, cao hơn mức trung bình của vùng trung du miền núi phía Bắc và cả nước.

32

Quy mô GDP theo giá thực tế là năm 2019 ước đạt 35.634,5 tỷ đồng, GDP bình

quân đầu người năm 2019 đạt 35 triệu đồng/người/năm.

Khi xem xét nền kinh tế chỉ bao gồm các ngành nông, lâm, thủy sản, xây

dựng, công nghiệp và dịch vụ thì cơ cấu ngành kinh tế có sự thay đổi theo từng năm

có thể thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn

2015÷2019 còn chậm.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Phú Thọ đã tiến bộ vượt bậc,

thể hiện ở việc chuyển từ nhóm PCI thấp năm 2005 sang nhóm PCI trung bình trong

giai ðoạn 2006÷2009 và nhóm PCI khá năm 2010. Đó là kết quả của việc chất lượng

điều hành kinh tế để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, sự thay đổi này rất ít dù đã có đến hơn 2/3 điểm số của các tiêu chí được cải

thiện, song mức độ thay đổi là không nhiều, sự tiến bộ còn chưa tương xứng với

thực tế.

Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) Phú Thọ so với

vùng miền núi phía Bắc và cả nước (Theo giá so sánh)

Đơn vị tính: %

Giai đoạn Chỉ tiêu Phú Thọ Cả nước

2010-2015 Toàn nền kinh tế

Trong đó: 1.Công nghiệp - xây dựng 2. Nông lâm thủy sản 3. Dịch vụ

2015-2019 Toàn nền kinh tế

Trong đó: 1.Công nghiệp - xây dựng 2. Nông lâm thủy sản 3. Dịch vụ 7,16 10,5 3,8 7,0 7,83 11,4 3,4 7,1 Vùng miền núi phía Bắc 5,6 6,73 3,45 4,20 7,6 8,6 4,7 6,3 6,7 10,9 4,6 5,3 7,02 10,3 3,6 7,0 Nguồn: QH tổng thể phát triển KT-XH Phú Thọ 2010÷2019

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Phú Thọ gia tăng liên tục qua các năm. Nếu

như giai đoạn 2010÷2015 tốc độ tăng trưởng là 7,16%, cao gấp 1,07 lần so với bình

quân cả nước; thì đến giai đoạn 2015÷2019 tốc độ tăng trưởng bình quân đã là

7,83%, gấp 1,12 lần so với bình quân cả nước.

33

Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phú Thọ

theo ngành giai đoạn 2015÷2019 (Giá thực tế)

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu 2015 2016 2017 2018 2019

Toàn nền kinh tế Tỉnh 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0

1. CN-XD 37,4 38,1 36,9 38,1 40,0

2.Nông lâm thủy sản 29,3 29,1 29,8 28,2 26,0

3. Dịch vụ 33,3 32,8 33,3 33,7 34,0

Nguồn: Sở KH & ĐT Phú Thọ

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế: Tỷ trọng khu vực kinh tế

Nhà nước giảm dần từ 2015÷2019 nhưng vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh

tế. Tỷ trọng khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng dần, đặc biệt là khu vực kinh tế có

vốn đầu tư nhà nước tăng khá mạnh.

Bảng 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phú Thọ

theo thành phần kinh tế giai đoạn 2015÷2019 (Giá thực tế)

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu 2015 2016 2017 2018 2019

Toàn nền kinh tế Tỉnh 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0

1. Khu vực Nhà nước 41,6 40,7 40,3 39,4 36,6

2. Khu vực ngoài Nhà nước 48,4 50,7 50,1 50,2 51,6

3. Khu vực có vốn ĐTNN 10,0 8,6 9,6 10,4 11,8

Nguồn: Sở KH & ĐT Phú Thọ

Hiện trạng dân số, lao động và sự chuyển dịch cơ cấu lao động:

34

Bảng 2.5 Dân số, lao động và sự chuyển dịch cơ cấu lao động năm 2015, 2019

ĐVT: Số lượng: nghìn người, cơ cấu: %

2015 2019 Tốc

Số Cơ Số Cơ độ

STT Hạng mục lượng cấu lượng cấu tăng

I Dân số 1370 100 1620 100 0.77

Thành thị 182.62 14.19 293,22 18,10 3.35

Nông thôn 1104.32 85.81 1326,78 81,9 0.32

II Mật độ dân số (người/km2) 388 373 0.75

III Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1.07 9.77 73.83

IV Nguồn lao động 912 1152 1.54

LĐ làm việc trong các 804 100,00 1032 100,00 1,28 1 ngành KT

50,62 407 482 46,71 1,18 Nông - lâm - thuỷ sản

36,32 292 367 35,56 1,26 Công nghiệp - xây dựng

25,80 105 183 37,97 1,74 Dịch vụ - Thương mại

61 74 1,21 2 Học sinh trong độ tuổi LĐ

LĐ trong độ tuổi làm nội trợ và 0,98 47 44,76 46 3 chưa có việc làm

Nguồn: QH tổng thể phát triển KTXH Phú Thọ 2015÷2019

Trình độ học vấn: Trình độ học vấn của dân cư Phú Thọ hiện nay vào loại khá

so với vùng Đông Bắc. Số người chưa biết chữ chỉ chiếm 0,5% so với tổng số dân

toàn tỉnh. Tỉnh có 2 trường Đại học, 2 trường Cao đẳng, 4 trường trung học chuyên

nghiệp, 27 trường, trung tâm và cơ cở dạy nghề, 600 trường phổ thông các cấp, bình

quân 2.310 học sinh/vạn dân.

Chuyển dịch cơ cấu lao động

Trong những năm qua, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu

lao động của tỉnh đã có sự chuyển dịch tiến bộ theo hướng giảm tỷ trọng lao động

trong ngành nông - lâm - thủy sản (từ 50,62% năm 2015 xuống còn 46,71% năm

35

2019), giảm tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng (từ 36,32% năm 2015 lên

35,56% năm 2019), lao động dịch vụ - thương mại tăng (từ 25,8% năm 2015 lên

37,97% năm 2019).

Lao động ở nông thôn hiện nay đang thiếu việc làm. Theo kết quả thống kê

của Bộ Lao động - thương binh và xã hội, hàng năm tỉnh Phú Thọ vẫn còn khoảng

23÷25 nghìn lao động không có việc làm (chiếm 2,93% tổng số người trong độ tuổi

lao động của tỉnh). Do đó, tạo việc làm cho lao động nông thôn là một trong những

vấn đề đang được quan tâm hiện nay trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội

của tỉnh.

Hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu.

Hạ tầng giao thông: Tổng chiều dài hệ thống đường bộ của tỉnh có gần 10.000

km, 320 km đường sông, gần 100 km đường sắt. Đã đảm bảo 100% số xã có đường

ôtô vào đến trung tâm.

Hạ tầng cấp điện: Hiện tại hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp

các loại đang từng bước được cải tạo, nâng cấp, thay thế và xây dựng mới. Hết năm

2003, 100% số xã đã có điện lưới quốc gia, điện năng cung cấp đạt trên

500KWh/người/năm, tăng 31,9% so với năm 2000.

Hạ tầng thông tin liên lạc: Hạ tầng thông tin liên lạc phát triển tương đối nhanh.

Hạ tầng dịch vụ: Mạng lưới thương mại và dịch vụ tổng hợp đã phát triển

rộng khắp đến các huyện, thị, thành và các xã trong tỉnh. Việc trao đổi, mua bán

hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống được kịp thời, các dịch vụ sửa chữa công cụ,

dụng cụ sản xuất, dân dụng rất thuận tiện. Hệ thống khách sạn, nhà hàng, điểm du

lịch ngày càng phát triển.

Hạ tầng đô thị và các khu công nghiệp: Hạ tầng đô thị thành phố Việt Trì đã

được đầu tư phát triển khá về hệ thống giao thông, điện, nước, vệ sinh môi trường,

các công trình văn hóa, thể thao… cơ bản đáp ứng và phục vụ tốt đời sống nhân

dân. Hạ tầng các huyện, thị xã, thị trấn cũng được đầu tư phát triển. Hạ tầng các khu

công nghiệp được đầu tư ngày càng hoàn thiện, phục vụ một cách tốt nhất hoạt động

sản xuất công nghiệp trên địa bàn Tỉnh.

Hạ tầng giáo dục - y tế:

36

Về giáo dục - đào tạo: Có 295 trường mầm non, 293 trường tiểu học, 2 trường

Đại học, 2 trường Cao đẳng, 4 trường trung học chuyên nghiệp, 27 trường, trung

tâm và cơ cở dạy nghề, 600 trường phổ thông các cấp. Số phòng học được kiên cố

hóa, đạt 94,3%.

Về y tế: Có 23 bệnh viện, 12 trung tâm y tế huyện và 273 trạm y tế xã

phường, thị trấn với 1.528 giường bệnh, 70% trạm y tế được xây dựng kiên cố, 55%

trạm y tế có bác sỹ đa khoa, 100% trạm có y sỹ sản khoa và nữ hộ sinh. Nhưng việc

kết hợp giữa đông y, tây y còn hạn chế.

Hạ tầng cấp thoát nước và thủy lợi: Hệ thống hạ tầng cấp thoát nước, hệ thống

thủy lợi đã và đang được đẩy mạnh đầu tư, đặc biệt là hệ thống thủy lợi phục vụ sản

xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

2.2. Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh

2.2.1 Số lượng và quy mô

Thực tế trong những năm qua, sự phát triển vượt bậc kể cả về số lượng và

chất lượng của các DNVVN đã góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng cũng

như ngân sách, tạo việc làm, tăng thu nhập cá nhân, góp phần đáng kể trong việc

huy động vốn đầu tư trong dân cho phát triển kinh tế- xã hội.

Theo kết quả điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của cục thống kê tỉnh,

hiện tỉnh Phú Thọ có trên 2.213 cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút 68.316 lao động.

Bảng 2.6 Số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh và việc làm tại Phú Thọ năm 2019

Phú Thọ, 2019 DNVVN DN lớn

Số lượng DN Siêu nhỏ Nhỏ Vừa

Số lượng cơ sở SXKD 4320,00 2300,00 880,00 50,00

Tỉ lệ % trên tổng số Cơ sở 54,68 30,67 11,73 0,67

Số lượng lao động (nghìn 306086,00 662886,00 111836,00 71192,00 người)

Tỉ lệ % trên tổng LĐ 57,54 9,71 6,18 26,57

Quy mô trung bình 1Cơ sở 288,21 127,09 1423,84 70,85

Theo nguồn sở KH&ĐT Phú Thọ

37

Tại Phú Thọ, doanh nghiệp tư nhân phát triển cả chất lượng và số lượng, năm

2019 cả tỉnh có trên 7.900 doanh nghiệp, trong đó số doanh nghiệp vừa và nhỏ lên

tới 7.500, chiếm 95%. Số doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2019 là 700, số

lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là 650 doanh nghiệp.

Kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực (1/1/2000) số lượng các doanh

nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh đăng ký thành lập mới đã tăng nhanh chóng.

Bảng 2.7 Số lượng đăng ký kinh doanh mới qua các năm

Tổng số DNTN Công ty TNHH Công ty cổ phần Năm

2015 404 103 167 134

2016 510 137 214 159

2017 645 185 359 101

2018 757 183 414 160

2019 710 190 422 98

Nguồn Niên giám Thống kê tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015 - 2019

Theo tiêu chí phân loại dựa vào tổng giá trị vốn, trong tổng số 710 doanh

nghiệp trong cuộc điều tra các cơ sở kinh tế trên phạm vi tỉnh có tới 620 là doanh

nghiệp là các DNVVN. Trong đó số lượng doanh nghiệp Công ty TNHH có tỷ lệ

cao hơn DNTN và Công ty cổ phần.

Số DNVVN theo quy mô nguồn vốn

Tổng vốn đăng ký mới giai đoạn 2000÷2007 cao gấp 16,68 lần so với 10 năm

trước đây 1990÷2000.

Bảng 2.8 Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Năm Tổng số DN Theo quy mô vốn( Tỷ đồng)

Dưới 1 Từ 1-5 Từ 5-10

2015 2016 2017 2018 2019 3340 4308 5136 6590 7900 890 1268 1660 2579 2680 660 500 496 982 1141 1790 2540 2980 3029 4079

Nguồn cục thống kê Tỉnh Phú Thọ

38

Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng đầu tư toàn tỉnh

đã tăng từ 32% năm 2015 lên 34% năm 2018 và năm 2019 là 41%. Vốn đầu tư thực

hiện của doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh đã lớn hơn vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài vào tỉnh. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp khu vực DNVVN được thực hiện

ở gần như tất cả các huyện, thị xã, thành phố với nhiều điều kiện khác nhau.

Bảng 2.9 Quy mô vốn bình quân trên một doanh nghiệp

Loại hình doanh nghiệp Qui mô vốn đầu tư / bình quân 1 DN Số

(Triệu đồng) TT

1 Doanh nghiệp tư nhân 754,3 triệu đồng/1 doanh nghiệp

2 Công ty TNHH 2.96 tỷ/1 công ty

3 Công ty cổ phần 5,2 tỷ đồng/1công ty

Theo số liệu sở KH&ĐT Tỉnh Phú Thọ

Với quy mô vốn bình quân trong doanh nghiệp thời điểm (năm 2017) là 4.581,0

triệu đồng/1 doanh nghiệp. Nếu so sánh với quy mô vốn doanh nghiệp trong giai đoạn

2000 – 2010 đã tăng khoảng gần 10 lần. Tuy nhiên vốn đầu tư vào các loại hình doanh

nghiệp cũng khác nhau, qua biểu ta thấy sự thu hút vốn tốt nhất là Công ty cổ phần,

Công ty TNHH và điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan.

2.2.2 Kết cấu vốn doanh nghiệp theo mỗi loại hình doanh nghiệp

Trong một doanh nghiệp có hai nguồn vốn cơ bản là: Vốn cố định là giá trị

đầu tư dài hạn, tài sản cố định theo giá trị còn lại và vốn lưu động là giá trị đầu tư

tài chính ngắn hạn và tài sản lưu động.

Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn song nguồn vốn trong các

cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ không ngừng tăng lên. Theo số

liệu thống kê tỉnh:

 Đầu năm 2019, nguồn vốn doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc doanh nghiệp nhà

nước đạt 6.619,564 tỷ đồng, bình quân 128.154 triệu đồng/1 doanh nghiệp, trong đó

vốn chủ sở hữu 1.917.856 triệu đồng, vốn tự có là 48.431 triệu đồng.

39

 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có tổng nguồn vốn đạt 4.690.800 triệu đồng,

bình quân 4.823,7 triệu đồng/ 1 doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu đạt 1.821.846 triệu

đồng, vốn tự có là 419.774 triệu đồng.

 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tổng nguồn vốn là 3.293.790

triệu đồng, bình quân 113.965,9 triệu đồng/ doanh nghiệp, trong đó vốn chủ sở hữu

là 1.726.918 triệu đồng, vốn tự có 201,14 triệu đồng.

Qua cuộc khảo sát của chi cục thuế tỉnh tại các đơn vị kinh doanh trên địa bàn

cho thấy 38% vốn kinh doanh là đi vay (trong đó vay vốn tín dụng đầu tư của nhà

nước của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài lần lượt là: 55.892 triệu đồng, 235.248 triệu đồng, 258.957

triệu đồng, vay từ ngân hàng thương mại và các nguồn khác lần lượt là: 45.410 triệu

đồng, 215.340 triệu đồng, 65.200 triệu đồng hay vay nhà nước chiếm 8%, vay ngân

hàng thương mại và các nguồn khác chiếm 30%).

2.2.3 Kết cấu, ngành nghề kinh doanh

Các DNVVN của tỉnh bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã,

doanh nghiệp và công ty tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo

số liệu của phòng đăng ký kinh doanh, năm 2019 có 125 doanh nghiệp nhà nước có

quy mô nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ 70% số doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã có 22

doanh nghiệp chiếm tới 100% hợp tác xã của tỉnh, doanh nghiệp tư nhân có 1.440

doanh nghiệp chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm

hữu hạn có 3.760 chiếm tới 87% tổng số công ty trách nhiệm hữu hạn, có 67 doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 77% tổng số doanh nghiệp có vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài có quy mô nhỏ và vừa.

2.2.4 Tình hình sử dụng lao động và trả lương lao động

Theo số liệu điều tra của Cục Thống kê tỉnh thì tỉ lệ lao động qua đào tạo

những năm gần đây: Năm 2019 tỉ lệ lao động qua đào tạo là 64%. Tuy nhiên nguồn

nhân lực nhìn chung còn thấp, cơ cấu trình độ ngành nghề chưa phù hợp. Điều này

đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và

vừa, cụ thể:

40

- Hàng năm tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt 16,8%, tỷ lệ cán bộ khoa

học kỹ thuật chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong dân số chỉ đạt khoảng 1,3% trong cả nước tỷ

lệ này chiếm khoảng 2,1%.

- Cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Tỷ

lệ công nhân lành nghề, công nhân có kỹ thuật cao còn quá thấp.

- Tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 79,6%

tổng lao động, nhưng chỉ chiếm 5,3% số cán bộ khoa học, kỹ thuật của tỉnh. Số

được đào tạo rất ít, chủ yếu là lao động giản đơn.

Bảng 2.10 Số người đã qua đào tạo (năm 2019)

STT Trình độ chuyên môn Tổng số Tỷ lệ % so ĐVT: người

với người

hoạt động

kinh tế

Tổng số 737.280 64%

1 Công nhân kỹ thuật có bằng, 282.261,00 24,50

chứng chỉ

2 Công nhân kỹ thuật không 233.642,00 20,28

bằng, chứng chỉ

3 95.987,00 8,33 Trung cấp

4 Đại học, Cao đẳng, trên Đại 125.390,00 10,88

học

Nguồn: Cục Thống kê Tỉnh Phú Thọ

Bên cạnh đó, thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa

trên địa bàn tỉnh cũng tăng lên đáng kể trong thời gian qua. Tiền công trung bình

của người lao động tăng 13,8% năm 2016 và năm 2019 là 9,1%.

41

Bảng 2.11 Tình hình trả lương lao động phân theo quy mô lao động

Lương trả cho Tổng số <6 6-9 9-49 50-300 >300

người lao động

Số lượng việc làm 737280 78075 45640 80830 107283 425452

(người)

Số lao động bình 3.1 1.5 7.1 19.0 112.2 523.3

quân một cơ sở

Lương bình quân

một người lao 5,5 4,1 4,2 4,5 6,5 8,2

động

Nguồn: Thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2006

Qua bảng trên ta thấy, số lao động bình quân một doanh nghiệp là 5,5 triệu

đồng/ người. Mức lao động bình quân một doanh nghiệp như vậy là khá. Trong đó

loại doanh nghiệp siêu nhỏ có trung bình 1.5 người, doanh nghiệp nhỏ có 19 người,

doanh nghiệp vừa có 113 người. Theo số liệu thống kê tỉnh, lương trung bình của

người lao động ngày một tăng. Tiền lương bình quân khu vực xây dựng là cao nhất

(4,1÷8,2 triệu/người/tháng). Đây là mức lương phù hợp với điều kiện mặt bằng

chung ở tỉnh Phú Thọ hiện nay.

2.2.5 Về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh

Năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá

dựa trên các mặt như: Trình độ công nghệ sản xuất, tài sản và vốn của doanh

nghiệp, công tác tổ chức sản xuất và hợp tác sản xuất, các yếu tố đầu vào, nguyên

nhiên vật liệu, chi phí, thị phần, hoạt động xúc tiến marketing và đầu ra của doanh

nghiệp, giá trị gia tăng của sản phẩm, lợi nhuận của doanh nghiệp…

42

Bảng 2.12 Mức trang bị vốn trung bình của DNVVN năm 2019

Chỉ tiêu

Số doanh nghiệp VVN 7.500 293 DNVVN theo khu vực kinh tế DNNQD 3.102 35 DNVNG 4.273 432 DNNN 125 412

14.604.154 6.619.564 4.690.800 3.293.790 số vốn

6.599.256 132.391 2.231.5 54.896.5

doanh (Triệu

6.567.8 60.406 2.357.3 72.259.1

Số doanh nghiệp LĐBQ1DN Số (Người) Tổng (Triệu đồng) Vốn/ nghiệp đồng) Tài sản cố định BQ/1DN (Triệu đồng) TSCĐ/LĐ (%) 123.73 162.705 80.2 179.99 Nguồn: Tính toán theo số liệu cục thống kê tỉnh năm 2019

Trong DNVVN của tỉnh, hệ số trang bị tài sản cố định cho một lao động là

124 triệu đồng. Hệ số trang bị vốn cố định của DNVVN nhà nước là 108.633 triệu

đồng, khu vực ngoài quốc doanh là 80.2 triệu đồng, khu vực có vốn đầu nước ngoài

là 179.99 triệu đồng. Như vậy mức trang bị tài sản cố định cho một lao động trong

các DNVVN khu vực ngoài quốc doanh là khá thấp.

So với các doanh nghiệp nước ngoài thì các doanh nghiệp trong nước có hệ số

trang bị vốn quá thấp (chỉ bằng 12÷14%). Ngoài ra tỷ lệ tài sản cố định bình quân/1

doanh nghiệp vốn trong nước quá thấp (chỉ có 23÷24%) Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp nhỏ trong nước chủ yếu kinh doanh bằng vốn lưu động và đầu tư

ngắn hạn, vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn.

Bảng 2.13 Trang bị tài sản cố định bì nh quân trên 1 lao động

Triệu đồng

Tiêu chí Trang bị TSCĐBQ1LĐ

Thời điểm Thời điểm

1/1/2019 31/12/2019

Doanh nghiệp nhà nước 248.866 257.293

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 68.432 91.175

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 188.242 228.050

Theo số liệu cục thống kê tỉnh, năm 2019

43

Giá trị mua sắm máy móc thấp, thời hạn sử dụng ngắn và điều kiện mua sắm dễ

dàng đã làm cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có điều kiện trang bị máy móc

mới, khả năng tiếp cận công nghệ mới thuận lợi hơn so với doanh nghiệp quốc doanh.

Phần lớn các doanh nghiệp sử dụng yếu tố đầu vào tại địa phương 73%, ở địa

phương khác là 30% và nước ngoài là 11%. Tỷ lệ này dao động tùy thuộc vào từng

khu vực. Đối với khu vực nông, lâm, thủy sản thì tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu địa

phương chiếm hơn 90%, trong khi ngành may mặc, giấy và thương mại có tới 30%

sử dụng yếu tố đầu vào ở nước ngoài.

Bảng 2.14 Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh

Đơn vị tính: DN

Tiêu chí

Lỗ

Lãi

Không lãi không lỗ

Doanh nghiệp

125

80

153.653 7

14

-15.266

3

6

Lãi bình quân 1 DN 3841.3

Lỗ bình quân 1DN -2180.9

nhà nước

Doanh nghiệp

3102

78.3

43.297

153 12.74

-40.709

108

8.99

46.1

-266.1

ngoài quốc

doanh

Doanh nghiệp

4273

50

81.158

21

36.11

-45.124

9

13.89 4508.8

-3471.1

có vốn đầu tư

nước ngoài

Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Phú Thọ, 2019

Nhìn vào bảng số liệu trên đây có thể thấy, hiệu quả kinh doanh của các

doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh nói riêng tuy chưa

cao nhưng đã được cải thiện hơn so với trước đây. Các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận

trên vốn và trên doanh thu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều rất thấp. Tỷ suất

lợi nhuận bình quân trên vốn bình quân của doanh nghiệp trong nước năm 2019 là

0.015, năm 2015 là 0.009. Khu vực ngoài quốc doanh chỉ tiêu này chỉ đạt 0.0052.

Điều này có thể lý giải tính hiệu quả theo quy mô, khi quy mô quá nhỏ bé thì hiệu

quả kinh doanh sẽ không cao.

44

2.3. Thực trạng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh

Phú Thọ

Trên cơ sở Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về

trợ giúp phát triển DNVVN, chỉ thị số 27/2003/CT-TTg ngày 11/12/2005 của Thủ

tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện luật DN, khuyến khích phát triển

DNVVN, chỉ thị số 40/2005/CT-TTg ngày 16/12/2005 của thủ tướng chính phủ về

việc tiếp tục đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển DNVVN, tỉnh Phú Thọ đã triển

khai thực hiện một số chương trình hỗ trợ phát triển DN nói chung, DNVVN nói

riêng; qua đó, bước đầu đã tác động tích cực đến quá trình sản xuất kinh doanh của

DN, tạo tiền đề cho việc hỗ trợ phát triển DN trong những năm tiếp theo.

Tuy có nhiều cố gắng trong việc hỗ trợ phát triển DNVVN từ phía tỉnh

nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của DN trong quá trình

SXKD. Việc hỗ trợ phát triển DN chưa đem lại hiệu quả cao.

2.3.1. Tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên các lĩnh vực theo Nghị

quyết 19/NQ-CP. Về lĩnh vực khởi sự kinh doanh, thời gian thực hiện thủ tục thành

lập mới doanh nghiệp là 1,33 ngày làm việc (thời gian quy định là 03 ngày).

Thời gian thực hiện thủ tục thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trung

bình 0,98 ngày (thời gian quy định là 03 ngày).

Về thời gian cấp phép đầu tư, thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

01 ngày (thời gian quy định là 05 ngày).

Thời gian giải quyết thủ tục hành chính về đầu tư thuộc thẩm quyền giải quyết

của Ủy ban nhân dân tỉnh 21 ngày (thời gian quy định là 35 ngày)

Về lĩnh vực thuế, thời gian mua hóa đơn VAT, in hóa đơn VAT: Kết quả thực

hiện 01÷02 ngày (giảm 08 ngày so với mục tiêu Nghị quyết 19/NQ-CP).

Thời gian nộp thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trước bạ: Kết quả

thực hiện 03 ngày (giảm 08 ngày so với mục tiêu Nghị quyết 19/NQ-CP).

45

Về lĩnh vực Hải quan: Thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới đảm bảo

còn 70 giờ đối với hàng hóa xuất khẩu, 90 giờ đối với hàng hóa nhập khẩu (bằng

mục tiêu Nghị quyết 19/NQ-CP).

Về lĩnh vực Bảo hiểm xã hội: Đảm bảo duy trì việc thực hiện thời gian giao

dịch nộp hồ sơ bảo hiểm xã hội là 45 giờ/năm (bằng mục tiêu Nghị quyết 19/NQ-

CP); giảm bớt 32 thủ tục hành chính xuống còn 28 thủ tục hành chính.

Về lĩnh vực cấp phép xây dựng: Tổng thời gian cấp phép xây dựng trên thực

tế (bao gồm thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế kỹ thuật, cấp phép xây

dựng) là 57 ngày, giảm 06 ngày so với Nghị quyết 19/NQ-CP.

Về thời gian đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản: Thủ tục đăng ký bổ sung

tài sản gắn liền với đất được rút ngắn còn không quá 12 ngày (giảm 03 ngày so với

thời gian quy định).

Về tiếp cận điện năng: Tổng thời gian giải quyết thủ tục tiếp cận được rút

xuống còn 26 ngày (giảm 9 ngày so với Nghị quyết 19/NQ-CP).

Thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban,

ngành, các địa phương cấp huyện đã triển khai thực hiện tốt công tác đối thoại định kỳ

với doanh nghiệp, nhằm giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc cho doanh

nghiệp.

Chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh

nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Theo đó, các sở, ban, ngành, địa

phương chỉ được phép tiến hành thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp, hợp tác xã,

hộ kinh doanh theo nội dung, danh sách đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

Các trường hợp thực sự cần thiết, phát sinh ngoài danh sách (nếu có) phải được sự

đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh trước khi triển khai thực hiện.

Hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đăng ký thực hiện các dự

án đầu tư tại các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, các cụm công nghiệp - tiểu

thủ công nghiệp và các vị trí khác trên địa bàn tỉnh.

46

Triển khai các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chương trình khuyến

công, chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ nâng cao nguồn nhân lực cho các

doanh nghiệp thông qua các lớp đào tạo do Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức…

2.3.2. Các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Về hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp mới:

Phú Thọ đã hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại tỉnh

với sự tham gia của các cơ quan đơn vị liên quan, sự tham gia của các trường đại

học, cao đẳng, các Viện nghiên cứu, hội doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể, các

quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và các nhà đầu tư…

Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ về đào tạo nguồn lực, chuyên gia về hệ

sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tỉnh Phú Thọ triển khai việc xây dựng kế

hoạch truyền thông chiến lược về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Từ đó, tạo nên một mạng lưới, sức mạnh truyền thông và khai thác triệt để

nguồn thông tin, tạo nên các sản phẩm truyền thông về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi

mới sáng tạo đạt chất lượng và hiệu quả cao.

Hoạt động tư vấn cho DNVVN:

Triển khai thực hiện Thông tư số 06/2019/TT-BKHĐT ngày 29/3/2019 của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn quy chế tổ chức và hoạt động của mạng lưới tư

vấn viên, hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới tư vấn

viên. UBND tỉnh đã yêu cầu các sở, ban, ngành, các địa phương có liên quan thành

lập tổ đầu mối tư vấn, hỗ trợ miễn phí về thủ tục pháp lý như thủ tục thành lập

doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh với ngành nghề kinh doanh có điều kiện,

tờ khai đăng ký thuế….

Năm 2019, có khoảng 1.000 doanh nghiệp được hỗ trợ sử dụng tư vấn thuộc

mạng lưới tư vấn viên. Trong đó:

- Hỗ trợ hợp đồng tư vấn cho 800 doanh nghiệp siêu nhỏ.

- Hỗ trợ hợp đồng tư vấn cho 100 doanh nghiệp nhỏ.

- Hỗ trợ hợp đồng tư vấn cho 100 doanh nghiệp vừa

Hoạt động tư vấn thông tin pháp lý:

47

Trong năm 2019, tiếp tục thực hiện hỗ trợ thông tin, pháp lý cho doanh

nghiệp nhỏ và vừa với các nội dung như sau:

- Hỗ trợ tư vấn thủ tục pháp lý về thành lập doanh nghiệp cho các tổ chức, cá

nhân thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, chuyển đổi hộ kinh doanh

thành doanh nghiệp.

- Hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin hỗ trợ doanh nghiệp trên địa

bàn tỉnh để cung cấp, phổ biến thông tin về các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt

động của doanh nghiệp, các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển DNNVV

và các thông tin khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Phát triển, nâng cấp trang thông tin điện tử của Sở Kế hoạch và Đầu tư trở

thành đầu mối cung cấp thông tin, các chương trình, kế hoạch hỗ trợ DNNVV, tiếp

nhận các đăng ký hỗ trợ của các DNNVV trên địa bàn tỉnh.

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn phí truy cập thông tin theo quy định tại

khoản 1 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cổng thông tin quốc gia

hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý và trang thông

tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương. Được khai thác miễn phí các thông tin kinh tế- xã hội, thông tin về quy

hoạch, kế hoạch của tỉnh trên trang thông tin điện tử của tỉnh và các sở, ban, ngành.

Hoạt động tư vấn thông quan các diễn đàn

Phú Thọ tổ chức các diễn đàn hợp tác, liên kết và phát triển doanh nghiệp khu

vực phía Bắc lần thứ XII, với chủ đề: Thực hiện Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và

vừa để bứt phá, phát triển theo các quý trong năm.

Thường sẽ có đại diện từ Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ

Công thương, Ban Kinh tế Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Mặt trận Tổ

quốc, VCCI, cùng đại diện lãnh đạo tỉnh, UBND, một số sở, ban, ngành tỉnh Phú

Thọ, các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp nhỏ các tỉnh, thành phố khu

vực phía Bắc, một số doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ và các tỉnh khu vực phía Bắc.

Diễn đàn là một trong những hoạt động thường niên do Hiệp hội doanh

nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chủ trì, luân phiên tổ chức tại các địa phương,

48

nhằm gắn kết doanh nghiệp liên kết sản xuất kinh doanh xúc tiến đầu tư và tiêu thụ

sản phẩm hàng hóa.

Mục tiêu của diễn đàn nhằm tăng cường vai trò chỉ đạo của các cấp chính

quyền trong việc hỗ trợ DNVVN phát triển bền vững; tháo gỡ các rào cản, khó khăn

trong việc đưa Luật Hỗ trợ DNVVN năm 2019 đi vào cuộc sống, sớm giải quyết

những vướng mắc của DN trong sản xuất - kinh doanh, tạo điều kiện để doanh

nghiệp tìm kiếm thị trường trong nước, phát huy tiềm năng, lợi thế, kết nối cung cầu

hàng hóa giữa các doanh nghiệp sản xuất và phân phối, thúc đẩy sản xuất kinh

doanh phát triển, tạo mối liên kết giữa các tập đoàn kinh tế lớn với các DNVVN,...

mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia nhiều hơn vào chuỗi giá

trị trong nước và toàn cầu, đóng góp nhiều hơn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã

hội của đất nước và địa phương...

2.3.3. Hỗ trợ về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh

UBND tỉnh và hầu hết các huyện, thị xã đều đã công bố quy hoạch phát triển

kinh tế - xã hội, làm cơ sở để định hướng và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài

tỉnh. Nhà đầu tư được các cơ quan liên quan cung cấp thông tin, số liệu về điều kiện

tự nhiên, kinh tế - xã hội, các chính sách ưu đãi đầu tư, các qui định về thành lập và

hoạt động của DNVVN.

Nhà đầu tư còn được hướng dẫn khảo sát thực địa điểm lựa chọn phương án

địa điểm tối ưu của dự án trên cơ sở phù hợp với quy hoạch của tỉnh.

UBND tỉnh đã phê duyệt đề án quy hoạch mạng lưới Cụm công nghiệp trên

địa bàn tỉnh với mục tiêu tạo mặt bằng, giải quyết những vấn đề bức xúc trong việc

đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, phát triển có hệ thống, trật tự và bền

vững, tạo điều kiện cho địa phương lập quy hoạch chi tiết và tổ chức bố trí không

gian hợp lý các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa, tạo việc làm, tăng thu nhập

cho lao động tại địa phương.

UBND tỉnh đã trình Chính phủ xét duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất

đến năm 2020, trong đó điều chỉnh về mặt bằng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất

kinh doanh như sau:

49

Bảng 2.15 Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020

Hiện trạng năm 2015 Điều chỉnh quy hoạch đến năm 2019 Loại đất

Diện tích (ha) 1.040.878 Cơ cấu (%) 100 Diện tích (ha) 1.040.878 Cơ cấu (%) 100

3.862,7 777,9 1.360,7 1.165,0 559,1 0,37 0,07 0,13 0,11 0,06 13.216,4 3.386,2 6.841,0 1.900,0 1.089,2 1,27 0,33 0,66 0,18 0,10 động hoạt

Tổng diện tích đất tự nhiên Đất sản xuất kinh doanh Trong đó: Đất khu công nghiệp Đất cơ sở sản xuất kinh doanh Đất cho khoáng sản Đất sản xuất vật liệu, gốm sứ

Nguồn Sở KH&ĐT Phú Thọ.

Tỉnh đã tập trung đầu tư hàng trăm tỷ đồng từ nhiều nguồn như chương trình

mục tiêu của Chính phủ, ngân sách, nguồn ODA.... để xây dựng các công trình giao

thông, công trình điện, trung tâm dạy nghề, đê bao nuôi trồng thuỷ sản, làng nghề,

các khu và cụm công nghiệp... từng bước tạo điều kiện thúc đẩy DN trên địa bàn

tỉnh nói chung và DNVVN nói riêng ngày càng phát triển.

Cụ thể về cơ chế đặc thù thu hút đầu tư tại Khu công nghiệp Phú Hà, thị xã

Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

Đối tượng được hỗ trợ và ưu tiên thu hút đầu tư:

- Đối tượng được hỗ trợ: Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết

cấu hạ tầng khu công nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong khu

công nghiệp Phú Hà.

- Đối tượng ưu tiên thu hút đầu tư: Các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công

nghiệp điện tử, vật liệu xây dựng cao cấp, chế biến thực phẩm, đồ uống, các mặt

hàng cơ khí, dược phẩm... phù hợp với tính chất khu công nghiệp được duyệt tại

Quyết định số 178/QĐ-UBND ngày 27/01/2015 của UBND tỉnh, ưu tiên thu hút

đầu tư các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp có mức nộp

ngân sách Nhà nước từ 50 tỷ đồng/năm trở lên.

50

Các chủ đầu tư và doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trong khu công

nghiệp được quy định tại Điều 1 của Quy định này ngoài việc được hưởng các

chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định hiện hành của Nhà nước và của

tỉnh còn được hưởng cơ chế hỗ trợ và khuyến khích đầu tư theo Quy định này.

Hỗ trợ đối với chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ

tầng khu công nghiệp.

- Hỗ trợ về tiền thuê đất

+ Đơn giá thuê đất đối với các dự án đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp được

tính tỷ lệ tiền thuê đất ở mức thấp nhất là 0,5% nhân với (x) giá đất tính thu tiền

thuê đất. Giá đất để tính tiền thuê đất được xác định theo quy định tại Khoản 4,

Khoản 5, Điều 4 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về

thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

+ Thời điểm áp dụng: Sau thời hạn miễn tiền thuê đất theo quy định.

- Hỗ trợ chi phí san lấp mặt bằng

+ Hỗ trợ chủ đầu tư dự án đầu tư và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp tối

đa không quá 30 tỷ đồng kinh phí san lấp mặt bằng theo thiết kế dự toán được cơ

quan có thẩm quyền phê duyệt.

+ Điều kiện hỗ trợ: Chủ đầu tư hoàn thành san nền toàn bộ diện tích đất được

giao tại Quyết định số 2898/QĐ-UBND ngày 26/11/2015 của UBND tỉnh, hoàn

thành thủ tục cho thuê lại đất có hạ tầng tối thiểu 50% diện tích đất được giao đối

với các doanh nghiệp đầu tư đảm bảo điều kiện, đối tượng nêu tại Điều 2.

+ Nguồn hỗ trợ: Bù trừ từ tiền thuê đất nộp hàng năm kể từ thời điểm tính tiền

thuê đất. Phần còn lại tỉnh hỗ trợ một lần từ nguồn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung

ngân sách tỉnh vào năm cuối nộp tiền thuê đất.

- Hỗ trợ đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải

+ Hỗ trợ 25% giá trị quyết toán dự án đầu tư hệ thống xử lý nước thải trong

khu công nghiệp, tối đa không quá 10 tỷ đồng.

51

+ Nguồn hỗ trợ: Bù trừ từ tiền thuê đất nộp hàng năm kể từ thời điểm tính

tiền thuê đất. Phần còn lại tỉnh hỗ trợ một lần từ nguồn đầu tư xây dựng cơ bản tập

trung ngân sách tỉnh vào năm cuối nộp tiền thuê đất.

- Hỗ trợ đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp

Phú Hà

+ Ưu tiên thu hút đầu tư và hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh đối với các

doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp Phú Hà có mức nộp ngân

sách địa phương một năm đạt từ 50 tỷ đồng trở lên.

+ Mức hỗ trợ đối với các doanh nghiệp đủ điều kiện hàng năm: 100% giá thuê hạ

tầng.

+ Nguồn hỗ trợ: Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung, nguồn tăng thu

ngân sách tỉnh hàng năm.

2.3.4. Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực

Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 1290/QĐ-UBND

phê duyệt Dự án nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của các

doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2014÷2020. Dự án này là một

trong 9 dự án thuộc Chương trình Quốc gia Nâng cao năng suất và chất lượng sản

phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020 được phê duyệt tại

Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Căn cứ vào tình hình đăng ký doanh nghiệp và cơ cấu hoạt động của doanh

nghiệp trên địa bàn tỉnh, nhu cầu đào tạo doanh nghiệp về khởi sự doanh nghiệp và

quản trị doanh nghiệp chiếm số lượng lớn. Các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn

chiếm tỷ lệ thấp hơn. Cụ thể:

Năm 2019, tổ chức khoảng 12 khóa đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho

DNNVV với trên 900 lượt học viên, trong đó:

- Tổ chức 04 khóa đào tạo khởi sự kinh doanh, bình quân mỗi lớp 100 học

viên/khóa, thời gian ðào tạo 02 ngày/khóa.

- Tổ chức 04 khóa đào tạo quản trị kinh doanh, bình quân mỗi lớp 80 học

viên/khóa, thời gian đào tạo 02 ngày/khóa.

52

- Tổ chức 02 khóa đào tạo quản trị chuyên sâu, bình quân mỗi lớp 50 học

viên/khóa, thời gian đào tạo 07 ngày/khóa.

- Tổ chức 02 khóa đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp, bình quân mỗi lớp 20

học viên/khóa, thời gian đào tạo 07 ngày/khóa.

Đối tượng hỗ trợ: Theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 05/2019/TTBKH

ngày 12/5/2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn hỗ trợ phát triển nguồn nhân

lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Điều kiện hỗ trợ: Các doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí tại Điều 6 Nghị định số

39/2018/NĐCP ngày 11/3/2018 của Chính phủ.

Mức hỗ trợ: Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày

11/3/2018 của Chính phủ.

Báo cáo Cục Phát triển doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã xác định 4

nhóm nhiệm vụ và giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh

trong năm 2014: Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy thành lập doanh

nghiệp; đào tạo phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ đổi mới, nâng cao năng lực, công

nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến thương mại, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp nhỏ

vừa vừa.

Dự án có nội dung, nhiệm vụ: Đào tạo, phát triển nguồn lực về năng suất và

chất lượng; hình thành mạng lưới chuyên gia hoạt động chuyên sâu, chuyên nghiệp

hỗ trợ cho doanh nghiệp xây dựng và thực hiện các dự án nâng cao năng suất và

chất lượng; tăng cường năng lực quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất

lượng; khuyến khích các sở, ngành, các doanh nghiệp thuộc tỉnh thành lập tổ chức

đánh giá sự phù hợp theo phạm vi quản lý của ngành và mục đích sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp để tạo nguồn lực cung cấp dịch vụ chứng nhận hợp chuẩn,

chứng nhận hợp quy, chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng, thử nghiệm, giám

định, kiểm định chất lượng theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ

thuật, luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

Ngoài ra, tỉnh cũng khuyến khích các dự án đào tạo nghề. Các ngành nghề

được tổ chức đào tạo rất phong phú đa dạng và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội

53

của từng huyện, thị xã như mây tre đan, nghề làm lồng đèn, nghề gốm đỏ truyền

thống, nghề mộc điêu khắc, đúc đồng, dệt thổ cẩm, may công nghiệp, làm hương,

dệt chiếu, nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu...

Việc nâng cao chất lượng của nguồn lao động là một trong những quan tâm

hàng đầu của tỉnh. UBND tỉnh đã có chính sách hỗ trợ chi phí cho các DN để đào

tạo lao động nâng cao tay nghề và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở dạy nghề

hoạt động. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có nhiều cơ sở dạy nghề. Trong năm

2019, các cơ sở này đã đào tạo và cấp chứng chỉ đào tạo nghề cho 5.667 người, cấp

bằng đào tạo nghề cho 591 người.

2.3.5. Hỗ trợ về tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm

Về phát triển thương mại

Tỉnh Phú Thọ tăng cường công tác quản lý nhà nước về các hoạt động kinh

doanh thương mại trên địa bàn tỉnh, nhằm đảm bảo các hoạt động kinh doanh tuân

thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, lưu thông hàng hóa

thông suốt, ổn định thị trường, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, hỗ trợ các

doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu

cầu phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

- Về trung tâm thương mại và siêu thị: Tạo cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp

đầu tư xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh, tập trung chỉ

đạo các dự án đã được phê xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại hoàn thiện để đi

vào hoạt động. Phát triển 5÷7 siêu thị và trung tâm thương mại, đến năm 2020 trên

địa bàn tỉnh có trên 20 siêu thị và trung tâm thương mại.

- Về hệ thống kho, cửa hàng xăng dầu: Tập trung phát triển hệ thống kho và

cửa hàng xăng dầu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Phát

triển 15÷20 cửa hàng xăng dầu mới, đến năm 2020 có trên 200 cửa hàng bán lẻ

xăng dầu.

- Hệ thống kho, bến bãi, logictic hàng hóa: Trên cơ sở kho bến bãi, logictic

hàng hóa hiện có tăng cường cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu

tư, nhất là hệ thống logictic nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển, trung chuyển hàng

54

hóa của các doanh nghiệp. Phát triển 1÷2 hệ thống kho logictic tại khu công nghiệp

Phú Hà và tại thành phố Việt Trì.

- Hệ thống chợ: Tập trung kêu gọi cho các doanh nghiệp đầu tư, cải tạo nâng

cấp các chợ trên địa bàn tỉnh, nhất là các chợ đầu mối, nhất là các chợ đã được

UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt quy hoạch tại Quyết định số 831/QĐ-UBND ngày

26/3/2012 và Quyết định số 6481/QĐ-BCT ngày 26/6/2015 của Bộ Công Thương

trên địa bàn tỉnh có 6 chợ đầu mối. Tập trung chỉ đạo thực hiện chuyển đổi mô hình

quản lý chợ từ các ban quản lý chợ sang mô hình doanh nghiệp và HTX.

- Xây dựng thêm các mô hình chợ thí điểm vệ sinh an toàn thực phẩm từ đó

nhân rộng trên tất cả các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh.

- Phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội

tăng bình quân 11÷12% trong giai đoạn 2019÷2020 (năm 2019 ước đạt: 31.722 tỷ

đồng; năm 2020: 35.212 tỷ đồng).

Về Thương mại điện tử

Giai đoạn 2019÷2020 sẽ tiếp tục tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm

vụ, như:

- Tuyên truyền, đào tạo phát triển nguồn nhân lực TMĐT:

+ Tổ chức các khoá đào tạo, tập huấn ngắn hạn cho cán bộ doanh nghiệp,

người tiêu dùng, sinh viên năm cuối các Trường Đại học về TMĐT nhằm phát triển

nguồn nhân lực cho hoạt động TMĐT trên địa bàn tỉnh. Số lượng học viên được đào

tạo từ 300÷500 học viên.

+ Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về TMĐT thông

qua các hoạt động truyền thông trên báo giấy, báo điện tử, phát thanh, truyền hình;

xây dựng sổ tay TMĐT, các tờ rơi quảng bá về TMĐT và các hình thức khác; tổ

chức các sự kiện thúc đẩy phát triển TMĐT; tuyên truyền trên các phương tiện

truyền thông nội dung văn bản pháp luật, chủ trương chính sách của nhà nước về

TMĐT, các mô hình ứng dụng TMĐT của các tổ chức, doanh nghiệp.

+ Thu thập, biên tập thông tin về tiềm năng xuất khẩu của địa phương và danh

sách các doanh nghiệp xuất khẩu cập nhật lên Cổng thông tin xuất khẩu Việt Nam

55

(VNEX) có địa chỉ http://vietnamexport.com từ đó giới thiệu tiềm năng xuất khẩu

của Phú Thọ với 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu

về các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam theo các lĩnh vực ngành hàng.

- Các hoạt động hỗ trợ ứng dụng thương mại điện tử:

+ Hỗ trợ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng website thương mại điện

tử phục vụ quảng bá giới thiệu sản phẩm và bán hàng. Dự kiến hỗ trợ 20÷30 đơn vị

xây dựng website;

+ Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng phần mềm chuyên dụng, phần mềm bán

hàng, ứng dụng chữ ký số, hóa đơn điện tử, tem điện tử... trong hoạt động sản xuất

kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng marketing trực tuyến nhằm xây dựng

thương hiệu trên môi trường internet; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng chữ ký số sử

dụng trong các giao dịch thư điện tử, các e-mail, để mua hàng trực tuyến, đầu tư

chứng khoán trực tuyến, chuyển tiền ngân hàng, thanh toán trực tuyến….

- Vận hành, nâng cấp và duy trì sàn giao dịch thương mại điện tử tỉnh Phú

Thọ (giaothuong.net.vn):

+ Tổ chức các hội nghị quảng bá giới thiệu về sàn giao dịch thương mại điện

tử tỉnh Phú Thọ (giaothuong.net.vn) để các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh biết,

nhằm đưa các sản phẩm của doanh nghiệp giới thiệu trên sàn giao dịch TMĐT.

+ Duy trì quản trị sàn, nghiên cứu nâng cấp về mặt kỹ thuật, tích hợp sàn giao

dịch vào các cổng thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu; tổng hợp thông tin của

doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa theo từng ngành hàng cụ thể, các chương trình

xúc tiến thương mại, cập nhật dữ liệu; hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp thông tin,

tạo cơ hội giao thương, thực hiện các giao dịch qua mạng Internet thông qua sàn

giao dịch TMĐT của tỉnh.

+ Phối hợp với Bộ Công Thương kết nối với các kênh do Bộ quản lý, đồng

thời kết nối các chương trình hợp tác quốc tế về lĩnh vực TMĐT. Hỗ trợ các doanh

nghiệp, đặc biệt giới thiệu lựa chọn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp cận

thương mại điện tử thế giới qua Amazon.com, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy

mạnh xuất khẩu và phát triển thương hiệu thông qua thương mại điện tử do Bộ

56

Công Thương và Amazon Global Selling phối hợp thực hiện chương trình hợp tác

“hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu thông qua thương mại

điện tử”.

- Nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý nhà nước về TMĐT: Tổ chức điều

tra, thu thập số liệu thống kê tình hình ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại

điện tử trên địa bàn tỉnh nhằm nắm bắt kịp thời thực trạng và xu hướng phát triển để

ban hành các giải pháp quản lý hiệu quả lĩnh vực thương mại điện tử và công nghệ

thông tin.

- Tăng cường mối quan hệ hợp tác: Cử cán bộ phụ trách TMĐT dự hội thảo,

hội nghị về thương mại điện tử do các Bộ, ngành, đơn vị liên quan tổ chức; tham gia

các khoá tập huấn ngắn hạn về TMĐT… Tăng cường mối quan hệ hợp tác với các

tỉnh, thành phố có ký kết thỏa thuận hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với tỉnh Phú

Thọ, trong đó đặc biệt quan tâm đến những chương trình hợp tác xây dựng và phát

triển TMĐT;

Về xúc tiến thương mại:

+ Tổ chức từ 10÷12 hội chợ triển lãm, hội chợ thương mại trên địa bàn tỉnh

với quy mô từ 80÷300 gian hàng. Trong đó có Hội chợ Hùng Vương trong chương

trình giỗ Tổ Hùng Vương; tổ chức 01÷02 phiên chợ đưa hàng việt về nông thôn,

miền núi và khu công nhân nhằm tuyên truyền và hưởng ứng thực hiện cuộc vận

động: “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

+ Tổ chức 02 lớp đào tạo, tập huấn nhằm trang bị kỹ năng kinh doanh cho các

đơn vị, doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ với 100 học viên tham gia.

+ Xây dựng 03 chợ mô hình thí điểm chợ an toàn thực phẩm và xây dựng 04

điểm bán hàng Việt cố định.

+ Tổ chức cho các doanh nghiệp đưa các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ

công nghiệp và sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh tham gia 4-6 hội chợ trọng

điểm trong chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Ngoài ra, còn giới thiệu cho

các doanh nghiệp tham gia các hội chợ chuyên ngành trong nước và quốc tế.

57

+ Thực hiện tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Xây dựng tài liệu xúc

tiến thương mại, bản tin Công Thương và chuyên trang xúc tiến thương mại; in tài

liệu xúc tiến thương mại 900 cuốn tài liệu giới thiệu về 1 số doanh nghiệp tiêu biểu

về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh; phát hành 4 số bản tin công

thương: 600 bản/số.

+ Viết tin bài đăng tải trên wesite, sản xuất phóng sự về sản phẩm nông sản

tỉnh Phú Thọ và phát sóng trên truyền hình tỉnh Phú Thọ: 06 phóng sự về nông sản

tỉnh Phú Thọ; hỗ trợ doanh nghiệp nông sản xây dựng website: 04 đơn vị.

+ Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận, phát triển thị trường cho một số sản

phẩm nông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Phú Thọ được tham gia quảng bá

trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại Hội chợ các tỉnh, thành phố. Hỗ trợ 03 doanh

nghiệp cải tiến bao bì, nhãn hiệu sản phẩm.

+ Tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia Hội nghị kết nối cung - cầu hàng

hóa giữa Phú Thọ với các tỉnh, thành phố; tổ chức kết nối cho các doanh nghiệp đưa

sản phẩm vào hệ thống siêu thị tiêu thụ.

+ Tổ chức đoàn xúc tiến thương mại khảo sát thị trường các nước Trung

Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và thị trường các nước EU, các nước tham gia hiệp định

CPTPP cho các doanh nghiệp trong nhóm ngành hàng thủ công mỹ nghệ và nông

lâm sản chế biến của tỉnh.

+ Tổ chức kết nối cho 5÷7 doanh nghiệp đưa từ 5 đến 10 sản phẩm vào hệ

thống siêu thị để tiêu thụ.

2.3.6. Hỗ trợ thành lập các hiệp hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quyết định thành lập Hiệp hội số 2454 /QĐ - UBND, ngày 28 tháng 9 năm

2007 của UBND Tỉnh Phú Thọ có địa chỉ: số 2068 Đại lộ Hùng Vương, Phường

Nông Trang, Thành Phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, điện thoại: 02103966 799, fax:

0210 3953542.

Thành lập năm 2007 với 60 hội viên, qua 2 kỳ đại hội, đến nay Hiệp hội

DNVVN tỉnh đã phát triển hơn 300 hội viên với 15 chi hội, hội huyện trực thuộc ở

13 huyện, thành, thị trong tỉnh. Hiệp hội DNVVN tỉnh được coi là mái nhà chung,

58

nơi hội tụ, liên kết, hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ các DNVVN tỉnh phát triển nghề

nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giúp nhau tháo gỡ khó

khăn trong sản xuất kinh doanh, ưu tiên tiêu thụ sản phẩm của nhau, tìm kiếm thông

tin, cơ hội đầu tư, góp vốn sản xuất... tạo sự chủ động trong huy động các nguồn lực

đầu tư phát triển.

Được sự quan tâm của các cấp, các ngành trong tỉnh, thời gian qua các doanh

nghiệp tích cực thực hiện nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vươn lên từ nội lực,

ổn định sản xuất kinh doanh. Bình quân mỗi năm, các DNVVN đóng góp cho ngân

sách tỉnh từ 36÷42% tổng thu ngân sách, tạo việc làm và đảm bảo thu nhập cho

hàng chục nghìn lao động, tích cực thực hiện các chính sách an sinh xă hội, nhân

đạo, từ thiện.

Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp trong hiệp hội được vay vốn tín

dụng phát triển sản xuất, hỗ trợ quảng bá xúc tiến thương mại. Đặc biệt, hàng năm

nguồn vốn khuyến công của tỉnh đã hỗ trợ không ít doanh nghiệp trong công tác đào

tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động, đổi mới dây chuyền máy móc thiết bị

sản xuất, quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm, tham gia hội chợ, hội nghị xúc

tiến thương mại...

Các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng

quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO. Nhiều lĩnh vực sản xuất đã khai thác các

tiềm năng, lợi thế của tỉnh như: Sản xuất giấy, chè, khai thác tài nguyên, khoáng

sản... Các sản phẩm đã gắn với vùng nguyên liệu, một số doanh nghiệp chế biến đã

có vùng nguyên liệu tập trung. Đa số các ngành sản xuất truyền thống đều có đội

ngũ công nhân lành nghề, có điều kiện cung ứng nguồn nhân lực tại chỗ. Nhiều

doanh nghiệp đã tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản

xuất sạch hơn để bảo vệ môi trường như: Công ty cổ phần Tân Phong; Công ty

TNHH thương mại và xây dựng Ngọc Tuệ; Công ty cổ phần Kim Quy; Công ty cổ

phần giống vật tư nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam…

Hiệp hội đã phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức các lớp tập huấn, bồi

dưỡng nâng cao trình độ điều hành, quản lý doanh nghiệp như xây dựng văn hóa

59

doanh nghiệp, kỹ năng quản trị doanh nghiệp cho gần 100 học viên doanh nhân,

doanh nghiệp tham gia nhằm cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản về quản

trị doanh nghiệp, nâng cao văn hóa doanh nghiệp.

Cùng với những đóng góp trong phát triển kinh tế ÷ xã hội, tạo việc làm, giảm

tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, Hiệp hội còn tích cực tham gia

các hoạt động nhân đạo, từ thiện. Trong giai đoạn 2012 ÷ 2017, các doanh nghiệp

đã tham gia đóng góp, ủng hộ, tài trợ với kinh phí hàng chục tỷ đồng để xây dựng

các công trình phúc lợi công cộng như: Ủng hộ quỹ nối vòng tay nhân ái vì người

nghèo đất tổ; phụng dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng, tặng học bổng cho các

học sinh, sinh viên nghèo vượt khó, cán bộ công nhân viên thuộc các công ty; tích

cực hưởng ứng phong trào giọt máu hồng cứu người, trợ giúp đồng bào vùng lũ…

Tuy nhiên, hoạt động của hiệp hội vẫn còn bộc lộ một số tồn tại như: Một bộ

phận doanh nghiệp còn chậm đổi mới, chưa gắn bó với hiệp hội, chưa năng động,

sáng tạo, chưa khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của địa phương nên hiệu quả sản

xuất kinh doanh thấp. Cơ sở vật chất của hiệp hội còn khó khăn, đặc biệt là trụ sở

làm việc của hội thường xuyên thay đổi không ổn định, ảnh hưởng đến việc giao

dịch, kết nối hội viên, việc thu hút tập hợp thành viên còn hạn chế…

2.4. Đánh giá chung

2.4.1. Những thành công

* Số lượng DNVVN và tổng số vốn đầu tư tăng nhanh

Năm 2019, tỉnh Phú Thọ đạt mức tăng trưởng kinh tế 7,8%; trong đó, khu vực

công nghiệp tăng trưởng 11,4%, còn dịch vụ tăng 7,1%. Giá trị xuất khẩu ước đạt

1,95 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2018. Tổng thu ngân sách ước đạt hơn 7,1 nghìn

tỷ đồng, tăng 6% so với dự toán. Trong thành tựu ấy của tỉnh, có sự đóng góp lớn

của các doanh nghiệp.

Đặc biệt, UBND tỉnh Phú Thọ đã có đột phá về thu hút đầu tư khi môi

trường đầu tư tiếp tục được cải thiện. Ngoài ra, tỉnh cũng có nỗ lực trong công tác

quản lý và phát triển doanh nghiệp và sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước.

60

Trong năm 2019, đã có 800 doanh nghiệp mới được thành lập, nâng số doanh

nghiệp trên địa bàn tỉnh là 8.100 doanh nghiệp, với 76% đang hoạt động.

Các di sản văn hoá thế giới đã phát huy vai trò trung tâm, làm động lực lam

toả trong việc thu hút khách du lịch, thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đây là

một lợi thế so sánh đối với ngành dịch vụ ở Phú Thọ trong quá tŕnh hội nhập và

phát triển.

* Công tác hỗ trợ phát triển DNVVN đã góp phần tạo ra nhiều việc làm và

tăng thu nhập cho người lao động:

Theo số liệu thống kê, số lao động trong các DNVVN năm 2015 là 912.000

người, đến năm 2019, số lao động trong các DNVVN tăng lên đến 1.152.000 người.

Như vậy, trong 5 năm 2015÷2019 DNVVN bình quân mỗi năm tăng thêm trên

5.000 lao động, đây là con số đáng kể trong yêu cầu tạo việc làm cho xã hội. Việc

tăng thêm các DN cùng với việc mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh của các DN

hiện có, chắc chắn, sẽ tạo ra thêm nhiều việc làm mới cho người lao động, với điều

kiện đó, nguồn lực lao động sẽ từng bước được sử dụng một cách hiệu quả nhất,

góp phần dịch cơ cấu lao động của tỉnh theo hướng tiến bộ.

* Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện:

Trong những năm qua, chính quyền địa phương đã không ngừng đẩy mạnh

công tác cải cách hành chính đối với người dân và DN, thực hiện nhiều chương

trình hỗ trợ phát triển DNVVN có kết quả khả quan. Qua khảo sát đánh giá của tổ

chức sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh so sánh

trong các tỉnh, thành trên cả nước thì trong năm 2019, tỉnh Phú Thọ được xếp vào

hạng khá của tổ chức sáng kiến cạnh tranh Việt Nam.

2.4.2. Những hạn chế

Về xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhiều bấp cập

DNVVN là lực lượng trực tiếp đương đầu trong cạnh tranh và hội nhập; vì

vậy, mối quan hệ giữa nhà nước và DNVVN cần phải gắn bó chặt chẽ hơn, nhà

nước phải là người mở đường, phải là người hỗ trợ, tạo mọi điều kiện có thể để DN

hội nhập thắng lợi. Vì vậy, trong điều kiện hội nhập hiện nay, DN ở Phú Thọ ngoài

61

việc nỗ lực tự thân, còn phải được sự quan tâm, hỗ trợ thiết thực, có hiệu quả từ

phía nhà nước. Tỉnh Phú Thọ trong những năm qua đã có những cơ chế chính sách

hỗ trợ DNVVN một cách thiết thực, thu hút đầu tư có hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh

cơ chế chính sách, tỉnh cần phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngủ cán bộ hỗ trợ, xúc tiến

đầu tư và thương mại, cũng có hệ thống cơ quan xúc tiến phát triển DN. Hiện nay,

hệ thống xúc tiến phát triển DN của tỉnh vẫn còn rời rạc chưa có sự phối hợp chặt

chẽ, trách nhiệm chưa cụ thể, chưa có tính chuyên sâu đối với việc hỗ trợ phát triển

DN. Để tác động một cách đồng bộ, hiệu quả đòi hỏi phải tăng cường hệ thống tổ

chức thực hiện xúc tiến phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến.

Khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Phú Thọ còn nhiều khó khăn trong việc thu hút đầu tư. Các nhà đầu tư còn

do dự khi đến Phú Thọ vì lợi thế về đầu tư của tỉnh Phú Thọ so với các địa phương

khác còn thấp, suất đầu tư cao, độ rủi ro lớn do kết cấu hạ tầng vừa yếu, vừa thiếu

và không đồng bộ, chi phí sản xuất và vận chuyển cao, thị trường nhỏ và phân tán,

dịch vụ chậm phát triển, chưa đáp ứng đầy đủ các nhu cấu cần thiết của đầu tư, số

lao động nhiều nhưng chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo... gây bất lợi

cho đầu tư.

Chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước chưa thật sự khuyến khích được các

nhà đầu tư vào Phú Thọ. Tỉnh Phú Thọ phần lớn là các huyện núi cao và trung du,

các huyện này có rất ít dự án đầu tư. Do vậy, trên thực tế, xét về địa bàn ưu đãi đầu

tư thì phần lớn các dự án đầu tư ở Phú Thọ không được hưởng ưu đãi đầu tư của

chính phủ. Điều đó dẫn đến: DN đầu tư ở Phú Thọ rõ ràng thua thiệt so với DN ở

các địa bàn thuận lợi như thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc và rất nhiều tỉnh, thành

khác. Với điều kiện về địa bàn ưu đãi đầu tư như vậy thì Phú Thọ khó có thể thu hút

đầu tư so với địa bàn ở các thành phố lớn và các tỉnh có lợi thế so sánh cao hơn.

Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế

Tuy có nhiều cố gắng trong việc hỗ trợ phát ttriển DNVVN từ phía tỉnh

nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của DN trong quá trình

sản xuất kinh doanh.

62

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đặt ra

Việc hỗ trợ phát triển DN chưa đem lại hiệu quả cao chủ yếu là do những

khó khăn, hạn chế như sau:

Một là, việc nhận thức vai trò của DNVVN trong nền kinh tế quốc dân còn chưa

đầy đủ, chưa quán triệt ở các cấp, các ngành, do đó, chưa có được sự quan tâm đúng

mức.

Hai là, việc cải cách thủ tục hành chính tuy có nhiều tiến bộ so với trước, tuy

nhiên đôi lúc, đôi nơi vẫn còn gây phiền hà, chậm trễ đối với DN. Thiếu sự phối

hợp đồng bộ giữa các sở, ban, ngành trong việc hỗ trợ phát triển, theo dõi, quản lý

DN do đó tính hiệu lực của chính sách chưa cao. Chưa xây dựng được một hệ thống

chặt chẽ, có tính chuyên sâu trong việc hỗ trợ và phát triển DN.

Ba là, việc hỗ trợ cho các DNVVN về mặt bằng sản xuất kinh doanh, hỗ trợ

về ứng dụng, đổi mới công nghệ, xúc tiến thương mại, xây dựng các công trình kết

cấu hạ tầng, xây dựng và duy trì trang web về DNVVN, hỗ trợ về đào tạo lao động

và một số chính sách hỗ trợ khác gặp phải nhiều khó khăn do nguồn ngân sách của

nhà nước còn eo hẹp, trong khi đó Trung ương chưa có những cơ chế thuận lợi đúng

mức cho các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn như tỉnh

Phú Thọ hiện nay.

Bốn là, tỉnh chưa thành lập được Quỹ bảo lãnh tín dụng do những qui định

của quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng còn thiếu

tính khả thi, ví dụ: DNVVN là đối tượng góp vốn, họ không muốn góp vì cho rằng

bị đọng vốn trong khi đó lại vẫn phải thế chấp và phải trả phí bảo lãnh tín dụng

bằng 0,8%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh tín dụng, các đối tượng góp vốn

cũng chưa phù hợp... vì vậy, việc thành lập quỹ bản lãnh tín dụng cho DNVVN gặp

nhiều khó khăn.

Năm là, đội ngủ cán bộ hỗ trợ phát triển DNVVN quá mỏng (như Phòng DN

chỉ có 4 biên chế trong khi đó số lượng DN đã đăng ký khoảng 1.800 DN, mỗi

huyện chỉ có một cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh), điều kiện kinh phí,

phương tiện phục vụ công tác xúc tiến đầu tư, công tác hậu kiểm còn hạn chế. Công

tác kiểm tra của các cơ quan chuyên ngành còn trông chờ nhau, chưa có qui chế

63

phối hợp rõ ràng, một bộ phận cán bộ quản lý nhà nước vẫn còn hạn chế về kiến

thức, năng lực trong khi đó việc phân cấp được thực hiện mạnh cho địa phương...

do đó, dẫn đến sự bấp cập, yếu kém trong việc quản lý nhà nước về hoạt động sản

xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh, cũng như chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu hỗ trợ

DNVVN phát triển trong tình hình hiện nay.

Sáu là, đội ngủ quản lý của DNVVN trên địa bàn tỉnh phần lớn chưa qua lớp

đào tạo khởi nghiệp, thiếu kiến thức về pháp luật, thiếu thông tin về tín dụng, về thị

trường nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chưa đủ năng động

so với tính cạnh tranh gay gắt của thị trường, công nghệ, kỹ thuật sản xuất của các

DNVVN còn lạc hậu do đó sản phẩm thiếu khả năng cạnh tranh. Các DN lớn còn ít

về số lượng và chưa có sự liên kết chặt chẽ với các DNVVN nhằm tạo điều kiện cho

các DNVVN đóng vai trò các vệ tinh trong quá trình phát triển kinh doanh.

64

Tóm tắt chương 2

Ở chương 2, luận văn khái quát thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Luân văn tập trung nghiên cứu: Khái

lược về tỉnh Phú Thọ, sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh bằng

nghiên cứu số lượng, quy mô DNVVN, kết cấu vốn doanh nghiệp theo mỗi loại

hình doanh nghiệp, kết cấu, ngành nghề kinh doanh, tình hình sử dụng lao động và

trả lương lao động, về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.

Thực trạng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú

Thọ cũng đánh giá thông qua các khía cạnh: Tạo lập môi trường kinh doanh cho

doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ

trợ về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh, hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực,

hỗ trợ về tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ thành lập các hiệp hội của

doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Từ việc nghiên cứu này tác giả đã rút ra những thành công, tồn tại, hạn chế

và nguyên nhân tồn tại.

65

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DN NVV

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và phương

hướng hoàn thiện chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của tỉ nh

Phú Thọ

3.1.1. Quan điểm phát triển

Trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và

phát triển thương mại, quan điểm phát triển phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên

địa bàn tỉnh Phú Thọ như sau:

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Phú Thọ phải đặt trong chiến lược

phát triển nền kinh tế toàn xã hội

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền

kinh tế thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển lâu dài, quan hệ bình đẳng,

hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,

kinh tế nhà nước trong lĩnh vực thương mại phải phát huy vai trò nòng cốt ở một số

khâu, một số mặt hàng trọng yếu. Cụ thể, thương mại Nhà nước là lực lượng quan

trọng trong hoạt động bán buôn, là hạt nhân cơ bản trong các tập đoàn kinh tế

thương mại Việt Nam, xuất nhập khẩu một số mặt hàng vật tư chiến lược, trọng yếu

như xăng, dầu, phân bón, sắt, thép, hoá chất, thuốc tân dược..

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Phú Thọ phải đặt trong môi

trường cạnh tranh lành mạnh

Quan điểm của là doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển lâu dài, quan hệ bình

đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Nhà nước chủ trương không phân biệt đối

xử đối với các chủ thể kinh tế thương mại thuộc các thành phần kinh tế. Xoá bỏ sự

phân biệt đối xử, tạo sự bình đẳng giữa thành phần kinh tế, để phát huy được sức

mạnh của các thành phần kinh tế, nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển và phục vụ tốt

đời sống nhân dân là yêu cầu của việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN.

66

Nhà nước định hướng, dẫn dắt doanh nghiệp vừa và nhỏ theo chiến lược, quy

hoạch phát triển chung của nền kinh tế; thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân

và quyền sở hữu tài sản; tạo môi trường pháp lý và chính sách ổn định, nhất quán,

thông thoáng, nghiêm minh, bình đẳng, phù hợp với nhiều trình độ, không phân biệt

thành phần kinh tế, để công dân phát huy tự chủ, sáng tạo, thực hiện quyền tự do

kinh doanh theo pháp luật, yên tâm đầu tư lâu dài, hợp tác và cạnh tranh, thu hút

được nhiều nguồn nhân lực để phát triển.

Hệ thống luật pháp, các chính sách và các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước phải

được quy định chung cho mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp vừa và

nhỏ, tạo được sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong thụ hưởng các ưu đãi,

hỗ trợ của Nhà nước.

Nhà nước tháo gỡ những khó khăn vướng mắc để doanh nghiệp vừa và nhỏ

có điều kiện thuận lợi về môi trường pháp lý, tâm lý xã hội mà yên tâm đầu tư phát

triển kinh doanh, yên tâm về những tài sản được làm giàu hợp pháp của mình.

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Phú Thọ với quy mô và phân bố

hợp lý trên các địa bàn

Từng bước tổ chức lại mạng lưới kinh doanh ở Phú Thọ, tỉnh cần chú trọng

quy hoạch, xây dựng lại mạng lưới kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

trong lĩnh vực thương mại, tổ chức mạng lưới kinh doanh cho phù hợp với quy mô và

trình độ tổ chức; phải đảm bảo đủ diện tích kinh doanh theo những khu tập trung, nhằm

nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh, trên cơ sở đó ổn định hoạt động kinh doanh trên

thị trường.

Tổ chức sắp xếp lại, hoàn thiện và phát triển mạng lưới trên địa bàn Phú Thọ

theo hướng hợp lý, đa dạng, nhiều tầng, với nhiều hình thức quy mô và phương

thức kinh doanh khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng đa dạng và

phong phú tại chỗ.

3.1.2. Mục tiêu phát triển

Các hoạt động sản xuất kinh doanh dưới các loại hình doanh nghiệp mà luật

Doanh nghiệp quy định sẽ ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng,

67

cả bề rộng lẫn bề sâu, trong đó loại hình công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn một

thành viên sẽ phát triển nhanh hơn. Bước đầu hình thành mô hình công ty hợp danh,

giảm dần doanh nghiệp tư nhân.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ ngày càng mang yếu tố quốc tế đậm nét về

định hướng sản xuất kinh doanh, về thị trường, về công nghệ và các yếu tố cần thiết

khác cho quá trình tái sản xuất mở rộng.

Phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ngày càng đa dạng, xét theo cả

từng doanh nghiệp, cũng như toàn bộ khu vực doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh sang kinh

doanh dịch vụ và sản xuất công nghiệp có hàm lượng vốn và khoa học cao.

Các doanh nghiệp dân doanh phát triển đến quy mô nhất định có thể tổ chức

thành lập tổng công ty hoặc tập đoàn. Mô hình tổng công ty sẽ được tổ chức dưới

dạng công ty TNHH một thành viên hoặc công ty cổ phần… trong đó mối quan hệ

giữa tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều

lệ. Doanh nghiệp trong nước mua lại doanh nghiệp liên doanh cũng là một xu thế tất

yếu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Bên cạnh đó sẽ xuất hiện phổ biến các hiện tượng

phá sản, giải thể, chia nhỏ, mua bán chuyển nhượng lại các doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nhà nước nằm trong khối doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ chuyển

đổi theo hướng cổ phần hóa, chuyển thành công ty TNHH một thành viên và thành

lập những công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con.

Hộ kinh doanh cá thể trong những năm tới sẽ vẫn phát triển bởi mô hình tổ chức

đơn giản, thủ tục thành lập nhanh, lao động chủ yếu là lao động gia đình giản đơn

Tiếp tục thực hiện việc chuyển đổi, sắp xếp lại mô hình quản lý phù hợp như

công ty cổ phần, mô hình công ty mẹ- công ty con, công ty vệ tinh ... để huy động

thêm nguồn lực cho sản xuất kinh doanh; hình thành một hệ thống liên kết từ khâu

sản xuất- chế biến- xuất khẩu đối với từng khu vực như CN chế biến thuỷ sản, CN

sản xuất vật liệu xây dựng, CN khai khoáng... hướng đến hình thành tập đoàn kinh

tế CN đa ngành nghề.

Tập trung đẩy mạnh thực hiện trong năm 2020 định hướng cho doanh

nghiệp, doanh nhân hợp tác, liên doanh, liên kết, ưu tiên khuyến khích vào các lĩnh

68

vực sản xuất có lợi thế về nguồn nguyên liệu và lao động như công nghiệp chế biến

nông, lâm sản, liên kết phát triển công nghiệp dệt may, công nghiệp khai khoáng,

sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ, vật liệu xây dựng...

Tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất, đào tạo tay nghề kỹ thuật cho công

nhân, chọn hướng đi phù hợp trong xây dựng chiến lược sản phẩm, tận dụng lợi thế

những đơn hàng nhỏ kết hợp đầu tư mặt hàng phục vụ thị trường nội địa để quảng

bá, khẳng định thương hiệu.

3.1.3. Phương pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Một là, tập trung đẩy mạnh hỗ trợ các DNVVN sản xuất các sản phẩm có lợi

thế như chế biến gỗ, chế biến thuỷ sản, hàng may mặc, giầy da, lắp ráp ô tô..., tăng

nhanh các sản phẩm công nghiệp sử dụng công nghệ cao, công nghiệp sản xuất

hàng xuất khẩu, công nghiệp giải quyết việc làm nhiều, công nghiệp phục vụ phát

triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

Hai là, đẩy mạnh công tác quảng bá, kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư vào các

khu công nghiệp. Tích cực tìm cơ chế tài chính nguồn thu để lại đầu tư xây dựng kết

cấu hạ tầng trong khu kinh tế mở.

Ba là, rà soát qui hoạch phát triển công nghiệp, cụm công nghiệp phù hợp

với khả năng đầu tư. Trước mắt đầu tư vào các khu vực thuận lợi. Tiếp tục đầu tư hạ

tầng như giao thông, điện nước vào các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề, thu

hút mạnh các nhà đầu tư.

Bốn là, phát triển mạnh các cụm công nghiệp tại các địa phương, phục vụ

công nghiệp để chế biến và sơ chế nông sản, thuỷ sản, lâm sản; mở rộng qui mô,

phát huy các ngành nghề truyền thống nhằm giải quyết việc làm vùng nông thôn,

tăng thu nhập cho người dân.

Năm là, tháo gỡ vướng mắc về mặt bằng sản xuất của các doanh nghiệp. Trợ

giúp phát triển các DNVVN, giải quyết kịp thời các vướng mắc của DNVVN. Triển

khai các giải pháp mở rộng thị trường, tăng tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến

để nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu.

69

Sáu là, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư, mở rộng hình thức

đầu tư thông qua thị trường chứng khoán. Hướng dẫn các doanh nghiệp cổ phần hóa

niêm yết và tham gia thị trường chứng khoán.

Bảy là, nghiên cứu khuyến khích phát triển các DNVVN thuộc ngành công

nghiệp phụ trợ nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm ô tô, xe máy, bột giấy,

phụ kiện các ngành dệt may, giầy dép.

Tám là, xây dựng cơ chế quản lý phù hợp đối với các DNNN sau khi được

sắp xếp, đổi mới. Tiếp tục kiểm tra, rà soát, thu hồi giấy phép các dự án không triển

khai thực hiện đúng thời gian theo cam kết.

Chín là, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các cam kết mà nhà

nước đã ký với các tổ chức AFTA, WTO, với các nước khác để DNVVN có giải

pháp ứng phó và đẩy mạnh xuất khẩu.

Mười là, tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch. Phát triển du lịch

sinh thái, du lịch văn hóa. Nâng cao chất lượng du lịch rõ rệt, góp phần nâng cao

chất lượng dịch vụ, tăng khả năng hấp dẫn và sức cạnh tranh.

Mười một là, đẩy mạnh hỗ trợ các DNVVN xuất khẩu, khuyến khích mọi

thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu.

3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và

nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

3.2.1. Nâng cao tính minh bạch của thể chế và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý

Nhà nước với vai trò điều hành nền kinh tế vĩ mô cần nâng cao năng lực tổ

chức, quản lý, hoàn thiện hệ thống pháp luật, ra quyết định chính sách, kịp thời phù

hợp với tình hình thực tế, tạo ra môi trường pháp lý chặt chẽ và thông thoáng cho

hoạt động sản xuất kinh doanh. Tất cả làm cho môi trường đầu tư và kinh doanh có

nhiều thuận lợi, tạo cho các DN phát triển bền vững và có sức cạnh tranh lớn.

Công khai qui trình của các ngành, địa phương liên quan đến đầu tư và phát

triển DNVVN. Tập trung giải quyết các vấn đề tiếp cận với các cơ quan thuế, hải

quan theo hướng tiết kiệm thời gian nhất, minh bạch nhất. Tổ chức diễn đàn tiếng

nói từ các DNVVN, về môi trường đầu tư ở tỉnh Phú Thọ. Nắm bắt kịp thời những

70

vướng mắt và các rào cản về mặt chính sách, cơ chế nhằm giải quyết có hiệu quả,

tạo môi trường thuận lợi cho các DNVVN hoạt động.

DNVVN phát triển kéo theo lao động tập trung, từng bước hình thành đô thị

hóa.... Song còn phát sinh những điều bất cập như môi trường, các vấn đề tệ nạn xã

hội… Do đó cần có những chính sách đồng bộ để hạn chế đến mức thấp nhất những

mặt trái của nó.

Phát triển các loại hình dịch vụ: Bảo hiểm quốc tế, khu vui chơi giải trí, các

nhà hàng, khách sạn cao cấp, bệnh viện, trường học, đường giao thông... đạt tiêu

chuẩn quốc tế để thu hút các tập đoàn tài chính quốc tế. Có cơ chế, chính sách thu

hút nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho trung tâm tài chính.

Có thể nói thiếu vốn là một trong những hạn chế lớn nhất trong quá trình

hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và phát triển DNVVN nói riêng. Giải

pháp giải quyết khó khăn về vốn phải là giải pháp mang tính tổng hợp của nhiều

giải pháp như: Chính sách huy động, tận dụng vốn trong nước, chính sách khuyến

khích đầu tư của mọi thành phần kinh tế trong nước, đặc biệt là giải pháp thu hút

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn vay ưu đãi.

Hoàn thiện cơ chế huy động vốn cho đầu tư phát triển, tạo thị trường vốn

lành mạnh, hấp dẫn, đảm bảo vốn cho doanh nghiệp vay hoạt động. Đồng thời giám

sát việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, nhằm khắc phục tình trạng thất thoát

vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản như lãng phí, tham ô, tham nhũng (chủ yếu khu

vực DN nhà nước và nguồn vốn đầu tư, vốn tín dụng ưu đãi từ nhà nước).

Đây là khâu khó khăn nhất cho DN nói chung cũng như DNVVN nói riêng.

Thiếu vốn gây nên những ách tắc trong sản xuất, lưu thông hàng hoá. Nhu cầu về

vốn đòi hỏi các DNVVN tự huy động, tìm kiếm. Tuy nhiên nhà nước cũng cần có

những biện pháp hỗ trợ các DNVVN dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn

vốn, thoả mãn nhu cầu vốn cho SXKD.

Tạo cơ sở bình đẳng giữa các loại hình DN, giữa DNNN và DNTN, tạo môi

trường tài chính thuận lợi cho các DNVVN. Đây được coi là chính sách trọng tâm

71

cần giải quyết. Cần xúc tiến đổi mới một số chính sách và giải pháp về tài chính để

hỗ trợ phát triển DNVVN ở tỉnh Phú Thọ. Cụ thể là:

- Hình thành trung tâm thông tin tín dụng tư nhân, đáp ứng nhu cầu vay vốn

của các DNVVN.

- Đổi mới nội dung và phương thức đầu tư tài chính hỗ trợ phát triển

DNVVN trên địa bàn. Cần coi trọng việc chi ngân sách Nhà nước để hỗ trợ cải

thiện điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng.

Cần phải tự do hóa và bình đẳng hơn nữa việc cho phép các nhà kinh doanh tư nhân

tự phát triển các dự án, công trình giao thông công chính,…

3.2.2. Chính sách thuế

So với trước đây, hệ thống thuế của Việt Nam đã được cải thiện theo hướng

đảm bảo sự công bằng cho các thành phần kinh tế, tuy nhiên hệ thống thuế hiện nay

đặc biệt là thuế VAT là một thách thức đối với DNVVN, thời gian miễn giảm thuế

cho DNVVN còn quá ngắn so với các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Thuế suất và

cách tính còn phức tạp so với trình độ của DNVVN, thuế ít nhưng lệ phí thì nhiều.

Để giải quyết những bất cập trong chính sách thuế cần thực hiện một số giải

pháp sau đây:

- Chính sách thuế thu nhập của công ty cần được đơn giản hóa và loại bỏ dần

các trùng lặp miễn giảm tiến tới thống nhất thuế suất đối với các loại hình DNVVN.

- Cần đơn giản hóa chế độ kế toán cho phù hợp với trình độ kế toán của

DNVVN, xóa bỏ những đóng góp ngoài thuế, khi có luật thuế thay đổi cần tập huấn,

đào tạo cho cả cán bộ thuế, cán bộ kế toán cũng như chủ DNVVN để họ nhận thức

được và tự quyền nộp thuế.

- Chúng ta đã thực hiện chế độ DNVVN tự kê khai và nộp thuế, nhưng để

cho kết quả kiểm tra, kiểm toán hàng năm phù hợp với thông lệ quốc tế cần có

những hướng dẫn và đơn giản hoá các yêu cầu về sổ sách kế toán và báo cáo tài

chính đối với DNVVN.

72

- Cần chi tiết hoá biểu thuế, thực hiện tốt hơn nữa hệ thống thuế giá trị gia

tăng, đặc biệt là cải tiến các chính sách về hoàn thuế giá trị gia tăng cho các

DNVVN nói riêng và các DN nói chung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và cả nước.

- Chính sách thuế phải phù hợp với điều kiện đặc thù của DNVVN và cần

dành những ưu đãi để khuyến khích các chủ thể kinh tế hướng theo mục tiêu Nhà

nước dự định. Ưu đãi thuế nhằm vào những ngành nghề được khuyến khích phát

triển dành cho các DNVVN ở những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa,…

- Xoá bỏ hình thức thuế khoán hoặc định mức thuế cho các cán bộ thu thuế,

vì đây là hình thức khiến cán bộ thuế dễ dàng áp dụng các định mức thuế cho DN

và tăng khả năng trốn thuế.

3.2.3. Chính sách tín dụng

- Tạo vốn qua việc mở rộng tín dụng ngân hàng: Một yếu tố quan trọng cho

sự phát triển các DNVVN là khả năng tiếp cận các khoản vay, trong đó hệ thống

ngân hàng là một kênh tài chính quan trọng. Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, các

DNVVN gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc tiếp cận nguồn vốn này.

Những hạn chế xuất phát từ cả 2 phía:

+ Về phía ngân hàng: Các điều kiện về năng lực tài chính, tài sản đảm bảo nợ

vay rất chặt chẽ; các thủ tục cấp tín dụng liên quan đến nhiều ngành chưa được xử

lý đồng bộ và kịp thời; công tác tư vấn lập phương án kinh doanh còn nhiều hạn

chế…

+ Về phía DNVVN: Năng lực tài chính thấp, thiếu phương án SXKD có hiệu

quả; không đáp ứng đủ các điều kiện về tín dụng; khả năng quản trị, điều hành kinh

doanh thấp, chưa coi trọng công tác kế toán, lập báo cáo kế toán thường là để đối

phó…

Do vậy, để mở rộng tín dụng các ngân hàng thương mại cần chủ động tìm kiếm dự

án khả thi, nâng cao năng lực thẩm định dự án để mở rộng cho vay có bảo đảm bằng

tài sản hình thành từ vốn vay, cho vay tín chấp… Tăng cường công tác cung cấp

thông tin đến các DNVVN và đưa ra nhiều dịch vụ phù hợp với nhiều đối tượng

khác nhau; tăng cường đội ngũ cán bộ tín dụng có đủ khả năng tư vấn cho các

73

DNVVN lập phương án vay vốn, thẩm định hiệu quả đầu tư các dự án để quyết định

cho vay.

- Đẩy mạnh việc thành lập và vận hành quỹ bảo lãnh tín dụng giúp các

DNVVN có thể vay vốn khi gặp khó khăn về tài sản thế chấp.

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối

với các dự án kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, để quỹ này hoạt động tốt cần

có quy định rõ ràng về trách nhiệm của quỹ với cơ quan cấp tín dụng và

DNVVN cũng như làm rõ cơ chế quản lý điều hành quỹ để tránh tình trạng làm

nảy sinh một khâu trung gian giữa DNVVN và ngân hàng trong quá trình thực

hiện các giao dịch kinh doanh.

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh và các tổ chức tín dụng: Triển khai

Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001, Quyết định số 115/2004/QĐ-

TTg ngày 25/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế thành lập,

tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN và Chỉ thị số

40/2005/CT-TTg ngày 16/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy

mạnh công tác trợ giúp phát triển DNVVN, Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh và

các Tổ chức tín dụng trên địa bàn cần thực hiện một số nội dung sau:

+ Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh: Phối hợp với các ban, ngành tại

địa phương, tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thành lập Quỹ bảo

lănh tín dụng.

+ Các tổ chức tín dụng: Căn cứ vào tình hình thực tế của vốn điều lệ, quỹ dự

trữ của mình và nhu cầu thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng của từng địa phương, để

quyết định việc tham gia góp vốn vào Quỹ bảo lãnh tín dụng. Cử đại diện tham gia

Ban trù bị thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh,

thành phố. Tham gia Hội đồng quản lý Quỹ bảo lãnh tín dụng để đại diện cho phần

vốn góp của tổ chức tín dụng, theo quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

+ Phối hợp với Quỹ bảo lãnh tín dụng xây dựng quy trình, thủ tục bảo lãnh.

Phối hợp với Quỹ bảo lãnh tín dụng kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và

hoàn trả nợ của khách hàng, đảm bảo an toàn vốn.

74

- Mở rộng hình thức cho thuê tài chính (CTTC):

Do đặc điểm của DNVVN là ít vốn, các điều kiện để vay vốn ngân hàng

không đảm bảo, đặc biệt là điều kiện về tài sản thế chấp. CTTC về máy móc, thiết

bị sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN. Giải quyết khó khăn về vốn trung và

dài hạn, giúp các DNVVN nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh

trên thị trường. Hoạt động CTTC mang lại những lợi ích sau:

+ Thuê mua tài chính góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế: Với mức

độ rủi ro thấp, phạm vi tài trợ rộng rãi nên thuê mua có thể khuyến khích các thành

phần kinh tế, tư nhân cá thể đầu tư vốn để kinh doanh. Do đó sẽ thu hút được những

nguồn vốn nhàn rỗi trong nội bộ nền kinh tế. Mặt khác, CTTC cũng góp phần giúp

các quốc gia thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho nền kinh tế thông quan các loại

máy moc, thiết bị mà quốc gia đó nhận được.

+ Thuê mua góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học

công nghệ; thông qua tín dụng thuê mua, các loại máy móc, thiết bị có trình độ công

nghệ tiên tiến được đưa vào sử dụng tại các DNVVN, góp phần nâng cao trình độ

công nghệ của nền sản xuất trong những điều kiện khó khăn về vốn đầu tư.

+ Tín dụng thuê mua là hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao: Người cho

thuê có quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng tài sản nên họ có thể tránh được

những thiệt hại, rủi ro về tài sản. Khoản tiền tài trợ được sử dụng đúng mục đích mà

người tài trợ yêu cầu nên đảm bảo được khả năng trả nợ vốn vay.

+ Người thuê tài sản có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều kiện

hạn chế về vốn đầu tư. Thuê mua không gây ảnh hưởng bất lợi đối với các hệ số

kinh doanh của DNVVN. Những DNVVN không thoả mãn các yêu cầu vay vốn của

các Ngân hàng thương mại cũng có thể nhận được vốn tài trợ thông qua tín dụng

thuê mua; Thuê mua giúp cho các DNVVN không bị đọng vốn trong tài sản cố

định; Rút ngắn được thời gian triển khai đầu tư đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh

doanh. Thuê mua cho phép DN hiện đại hóa sản xuất theo kịp tốc độ phát triển của

công nghệ mới….

75

3.2.4. Chính sách nguồn nhân lực

Trình độ lao động trong các DN còn thấp, hiện có khoảng 70% lao động

chưa qua đào tạo, riêng khu vực ngoài nhà nước tỷ lệ này còn cao hơn. Đây là trở

ngại lớn cho việc tiếp nhận và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới, quản lý sản

xuất kinh doanh. Không ít các ngành, các DN thiếu lao động có tay nghề cao. Cần

có chính sách khuyến khích đào tạo nghề, tạo điều kiện để người lao động được đào

tạo nhằm thực hiện tốt mục tiêu giải quyết việc làm, việc đào tạo phải gắn với nhu

cầu sử dụng, mở các trường với chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

hiện nay và tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

Để có thể cung ứng cho thị trường lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu

cầu của các nhà tuyển dụng, các trường Đại học, trung tâm đào tạo nghề cần phải

nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp nói riêng, của nền kinh tế nói chung. Chính ở

đây, các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở

đào tạo nắm được nhu cầu lao động mà thị trường cần. Do vậy, vì lợi ích của chính

mình, các trường Đại học luôn có nhu cầu phải gắn kết với doanh nghiệp.

Về phía các DNVVN, thiếu vốn đã làm họ không thể chủ động giải quyết

nguồn nhân lực cho chính mình, ngay cả với những chủ doanh nghiệp có tầm nhìn

chiến lược về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Con đường chung

mà các doanh nghiệp vẫn thực hiện là tìm lao động qua các hội chợ việc làm.

Trong điều kiện đó, có cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp

ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp là điều lý tưởng nhất. Chính vì

vậy, được hợp tác với một cơ sở đào tạo Đại học thực sự cũng là nhu cầu thiết thực

của chính doanh nghiệp. Như vậy, liên kết đào tạo giữa nhà trường Đại học và

DNVVN là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Do đó, mối liên

kết này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao

động cho doanh nghiệp.

3.2.5. Chính sách đất đai

Trong giai đoạn hiện nay, hầu hết các DNVVN thiếu mặt bằng SXKD. Nhiều

DN phải sử dụng chính nhà ở của chủ DN để làm trụ sở giao dịch, kinh doanh. Việc

76

sử dụng nhà ở làm trụ sở giao dịch, SXKD thường gây ra nhiều khó khăn cho hoạt

động của DN do diện tích trật hẹp, điều kiện và phương tiện làm việc không thuận

lợi. Vì vậy, UBND tỉnh cần phải hỗ trợ, tạo điều kiện cho các DNVVN có mặt bằng

SXKD phù hợp:

- Ưu tiên đầu tư về cơ sở hạ tầng, nhất là ngoài và trong các khu công nghiệp

tập trung và các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, từ nhiều nguồn vốn: Ngân sách nhà

nước, vốn ODA, vay thương mại, phát hành trái phiếu trong và ngoài nước..

- Có chính sách quy định về hoạt động của các khu công nghiệp dành riêng

cho DNVVN. Cho phép khu vực DNVVN tư nhân được hưởng quyền lợi về sử

dụng đất đai như đối với DNNN, tạo điều kiện cho DNVVN mở rộng quan hệ liên

kết, liên doanh và được phép sử dụng mặt bằng kinh doanh của các DNNN khi

những DNNN không có nhu cầu sử dụng.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh có khả năng mua quyền sử

dụng đất hợp pháp và được quyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất nếu xét thấy

việc đó đúng với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong vùng; xoá bỏ các thủ

tục hành chính phiền hà trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho

chủ sở hữu.

- Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu

nhà theo Nghị định 60/NĐ-CP nhằm tạo điều kiện khai thông các quan hệ giao dịch

trên thị trường bất động sản, thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn.

- Hỗ trợ các DNVVN có cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm di dời ra

khỏi đô thị, khu dân cư thông qua việc cho phép chuyển quyền sử dụng đất từ đất

sản xuất sang đất ở và đất thương mại nhằm mục đích bán và trang trải chi phí di

chuyển.

- Thống kê và thu hồi đất hoang hóa, sử dụng không đúng mục đích để tạo

quỹ đất cho các doanh nghiệp thuê.

Nhằm khuyến khích các DN đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng, khu công

nghiệp vào thuê đất trong khu công nhiệp, Tỉnh cần áp dụng một số giải pháp cụ

thể sau:

77

+ Áp dụng mức giá cho thuê đất thấp nhất trong khung giá do Chính phủ và

Tỉnh quy định.

+ Đối với những DN đã thuê đất trong các KCN cần đẩy nhanh tiến độ cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho DN; UBND tỉnh bảo đảm đầu tư xây dựng

các cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào và hỗ trợ cho các DN trong các KCN tập trung tiền

đền bù giải phóng và xây dựng cơ sở hạ tầng trong hàng rào bằng vốn ngân sách.

+ Ưu tiên cho các DN đầu tư vào KCN vay vốn tín dụng đầu tư đãi; nghiên

cứu áp dụng một số chính sách miễn giảm thuế đầu tư kinh doanh trên địa bàn.

+ Phát triển thị trường bất động sản, hỗ trợ các DNVVN giải quyết mặt bằng

kinh doanh, tiếp tục thành lập các trung tâm giao dịch bất động sản nhằm phát triển

thị trường bất động sản. Từng bước hình thành thị trường đất đai và bất động sản,

hình thành thị trường vốn, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt

động của trung tâm địa ốc, các trung tâm môi giới dịch vụ cho vay, giao dịch thanh

toán theo hướng chuyên nghiệp.

3.2.6. Chính sách về công nghệ và thông tin

Con người và công nghệ giữ vai trò quyết định trong phát triển nền kinh tế -

xã hội, là động lực tăng trưởng kinh tế là nhân tố để chuyển đổi cơ cấu sản xuất

nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Do nhu cầu của thị trường đòi hỏi phải thay đổi nhanh chóng về công nghệ

và năng lực chuyên môn của đội ngũ lao động, đặc biệt đối với các DNVVN trong

lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nhu cầu thay thế trang thiết bị mới cũng như các yêu

cầu về quản lư là cần thiết để DNVVN phải đối phó thích ứng với sự thay đổi nhanh

chóng về công nghệ như hiện nay là một áp lực rất lớn cho DNVVN.

Hiện nay những chủ trương chính sách về công nghệ đối với DNVVN đều

được vận dụng chung từ những chủ trương chính sách chung của nhà nước đối với

tất cả các DN, chưa có chính sách riêng nào cho DNVVN, đối với Tỉnh các tổ chức

làm công tác khoa học công nghệ trên địa bàn chưa tiếp cận và phối hợp với các

DNVVN để hỗ trợ giúp đỡ các DN, do đó DNVVN thiếp sự tiếp cận cần thiết với

78

thị trường vốn trong và ngoài nước và với các nguồn vốn dài hạn để mua sắm thiết

bị mới…

Để hỗ trợ cho các DNVVN có thể tiếp cận lĩnh vực công nghệ tiên tiến và

đầu tư đổi mới công nghệ tương ứng với định hướng phát triển của cả nước và của

Tỉnh thì cần phải thực hiện những giải pháp sau:

- Một là, thành lập trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn:

+ Các DNVVN ít có khả năng nhập thiết bị nước ngoài, do đó cần cung cấp

thông tin thị trường, hỗ trợ tiếp thị, tư vấn chuyển giao công nghệ, môi giới kinh

doanh cho các DN trên địa bàn Tỉnh.

+ Cần phải nghiên cứu đổi mới công nghệ trong các lĩnh vực nâng cao chất

lượng sản phẩm, cho phép khấu hao nhanh để DNVVN có thể nhanh chóng đổi mới

thiết bị, áp dụng công nghệ mới. Có chương trình giới thiệu các công nghệ kỹ thuật

tiên tiến trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Hai là, xây dựng chính sách tạo lập mối quan hệ thiết thực giữa cơ quan

nghiên cứu như các trường Đại học, Viện chuyên ngành, các chuyên gia của cả

nước với DN. Nhà nước đặt hàng với các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, sản xuất

công nghiệp tạo lập cơ sở ban đầu cho thị trường công nghệ phát triển bền vững.

- Ba là, hỗ trợ về vốn cho DN thay đổi kỹ thuật công nghệ: Hàng năm Tỉnh

trích một phần (15÷20%) từ nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học cho các DNVVN

có sử dụng phần vốn cho nghiên cứu đổi mới công nghệ, ứng dụng những tiến bộ

KHKT vào sản xuất, nghiên cứu cải tiến, thay đổi mẫu mã hàng hoá,…

3.2.7. Chính sách xúc tiến thương mại

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về các hoạt động kinh doanh thương

mại trên địa bàn tỉnh, nhằm đảm bảo các hoạt động kinh doanh tuân thủ các quy

định của pháp luật, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, lưu thông hàng hóa thông suốt,

ổn định thị trường, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, hỗ trợ các doanh nghiệp

đầu tư phát triển hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu phát triển

kinh tế- xã hội của tỉnh và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

79

- Về trung tâm thương mại và siêu thị: Tạo cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp

đầu tư xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh, tập trung chỉ

đạo các dự án đã được phê duyệt xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại hoàn

thiện để đi vào hoạt động. Phát triển 5÷7 siêu thị và trung tâm thương mại, nhằm

đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh có trên 20 siêu thị và trung tâm thương mại.

- Về hệ thống kho, cửa hàng xăng dầu: Tập trung phát triển hệ thống kho và

cửa hàng xăng dầu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Phát

triển 15÷20 cửa hàng xăng dầu mới, để đến năm 2020 có trên 200 cửa hàng bán lẻ

xăng dâu.

- Hệ thống kho, bến bãi, logictic hàng hóa: Trên cơ sở kho bến bãi, logictic

hàng hóa hiện có tăng cường cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu

tư, nhất là hệ thống logictic nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển, trung chuyển hàng

hóa của các doanh nghiệp. Phát triển 1÷2 hệ thống kho logictic tại khu công nghiệp

Phú Hà và tại thành phố Việt Trì.

- Hệ thống chợ: Tập trung kêu gọi cho các doanh nghiệp đầu tư, cải tạo nâng

cấp các chợ trên địa bàn tỉnh, nhất là các chợ đầu mối, các chợ đã được UBND tỉnh

Phú Thọ phê duyệt quy hoạch tại Quyết định số 831/QĐ-UBND ngày 26/3/2012 và

Quyết định số 6481/QĐ-BCT ngày 26/6/2015 của Bộ Công Thương trên địa bàn

tỉnh có 6 chợ đầu mối. Tập trung chỉ đạo thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý chợ

từ các ban quản lý chợ sang mô hình doanh nghiệp và HTX.

- Xây dựng thêm các mô hình chợ thí điểm vệ sinh an toàn thực phẩm từ đó

nhân rộng trên tất cả các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh.

- Phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội

tăng bình quân 11÷12% trong giai đoạn 2019÷2020 (năm 2019 ước đạt: 31.722 tỷ

đồng; năm 2020: 35.212 tỷ đồng).

+ Tổ chức từ 10÷12 hội chợ triển lãm, hội chợ thương mại trên địa bàn tỉnh

với quy mô từ 80÷300 gian hàng. Trong đó có Hội chợ Hùng Vương trong Chương

trình giỗ Tổ Hùng Vương; tổ chức 01÷02 phiên chợ đưa hàng việt về nông thôn,

80

miền núi và khu công nhân nhằm tuyên truyền và hưởng ứng thực hiện cuộc vận

động: Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.

+ Tổ chức 02 lớp đào tạo, tập huấn nhằm trang bị kỹ năng kinh doanh cho các

đơn vị, doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ với 100 học viên tham gia.

+ Xây dựng 03 chợ mô hình thí điểm chợ an toàn thực phẩm và xây dựng 04

điểm bán hàng Việt cố định.

+ Tổ chức cho các doanh nghiệp đưa các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ

công nghiệp và sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh tham gia 04÷06 hội chợ

trọng điểm trong chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Ngoài ra, còn giới

thiệu cho các doanh nghiệp tham gia các các hội chợ chuyên ngành trong nước và

quốc tế.

+ Thực hiện tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Xây dựng tài liệu xúc

tiến thương mại, bản tin Công thương và chuyên trang xúc tiến thương mại; in tài

liệu xúc tiến thương mại: 900 cuốn tài liệu giới thiệu 1 số doanh nghiệp tiêu biểu về

công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh; phát hành 4 số bản tin công

thương: 600 bản/số.

+ Viết tin bài đăng tải trên wesite, sản xuất phóng sự về sản phẩm nông sản

tỉnh Phú Thọ và phát sóng trên truyền hình tỉnh Phú Thọ: 06 phóng sự về nông sản

tỉnh Phú Thọ; hỗ trợ doanh nghiệp nông sản xây dựng website: 04 đơn vị.

+ Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận, phát triển thị trường cho một số sản

phẩm nông nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Phú Thọ được tham gia quảng bá

trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại Hội chợ các tỉnh, thành phố. Hỗ trợ 03 doanh

nghiệp cải tiến bao bì, nhãn hiệu sản phẩm.

+ Tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia hội nghị kết nối cung - cầu hàng

hóa giữa tỉnh Phú Thọ với các tỉnh, thành phố; tổ chức kết nối cho các doanh nghiệp

đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị tiêu thụ.

+ Tổ chức đoàn xúc tiến thương mại khảo sát thị trường các nước Trung

Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và thị trường các nước EU, các nước tham gia hiệp định

81

CPTPP cho các doanh nghiệp trong nhóm ngành hàng thủ công mỹ nghệ và nông

lâm sản chế biến của tỉnh.

+ Tổ chức kết nối cho 5÷7 doanh nghiệp đưa từ 5÷10 sản phẩm vào hệ thống

siêu thị để tiêu thụ.

3.3. Một số kiến nghị

3.3.1. Khuyến khích phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội,

nghề nghiệp giữ vai trò cực kỳ quan trọng, trực tiếp khai thác và phát huy khả năng

tiềm tàng trong nhân dân để làm những công việc mà người dân làm thì hiệu quả

hơn nhà nước. Nhà nước chỉ nên làm những công việc mà thị trường và xã hội

không làm được hoặc làm không hiệu quả mà nhà nước có thể làm tốt hơn. Đó

chính là xã hội hoá các hoạt động liên quan đến đời sống và công ăn việc làm của

người dân.

Trên thế giới các tổ chức phi chính phủ thực hiện hiện các dịch vụ phát triển

kinh doanh dưới nhiều tên gọi khác nhau như trung tâm, công ty,… được thành lập

và hoạt động nhằm hỗ trợ các DNVVN trong nhiều lĩnh vực: tư vấn về thị trường,

tư vấn đầu tư, thuế, kiểm toán và kế toán, lập kế hoạch SXKD, cung cấp thông tin

về thị trường, giá cả, văn bản pháp luật, mở các lớp đào tạo… Thực tế, đây là những

dịch vụ có vị trí và vai trò quan trọng do các thành phần kinh tế mà chủ yếu là khu

vực kinh tế dân doanh hình thành, bằng việc khai thác chất xám của các chuyên gia

trong các lĩnh vực để đưa ra những lời khuyên đối với các DNVVN trong các vụ

việc cụ thể. Các tổ chức dịch vụ phát triển kinh doanh này giúp đỡ DNVVN một

cách cụ thể, trực tiếp, sát với tình hình, đặcđiểm của mỗi DN, là những tổ chức cần

được khuyến khích, định hướng nhằm hình thành một thị trường doanh nghiệp phát

triển kinh doanh có tổ chức để hỗ trợ DNVVN đạt hiệu quả thiết thực hơn.

Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động dịch vụ phát triển kinh doanh của các đoàn

thể, tổ chức trên ở Tỉnh hiện đang còn rời rạc, hiệu quả thấp. Do những nguyên

nhân sau:

82

- Hiện nay khách hàng chủ yếu sử dụng dịch vụ này là các DN nước ngoài

đến kinh doanh và hoạt động tại Việt Nam hoặc những DN liên doanh. Các DN

trong nước vẫn còn dè dặt và xem ra còn khá xa lạ với loại hình dịch vụ này, do đó

chưa chủ động tìm đến các tổ chức cung cấp dịch vụ mặc dù những DN này đều có

những khó khăn cần được tư vấn, hỗ trợ.

- Các DNVVN chưa thấy hết được tầm quan trọng và vai trò của hình thức

khá mới này ở Việt Nam do đó chưa tin tưởng vào kết quả của dịch vụ này.

- Sử dụng dịch vụ phát triển kinh doanh có trả tiền chưa trở thành tập

quán của các DN, đặc biệt là các DNVVN có tâm lý ngại chi tiền cho những việc

như thế này.

Ngoài các nguyên nhân trên, sự hạn chế của doanh nghiệp phát triển kinh

doanh còn do các DN trong nước luôn có xu hướng thích chọn nhà tư vấn độc lập,

đặc biệt là những người tư vấn đang làm việc ở các cơ quan nhà nước. Chẳng hạn

DN cần chuẩn bị hồ sơ quyết toán thuế, họ thuê nhân viên Cục thuế đến tư vấn sẽ có

hiệu quả hơn so với thuê một công ty chuyên nghiệp. Tuy nhiên loại hình tư vấn

không chính thức này lại không có lợi cho sự phát triển của thị trường tư vấn

chuyên nghiệp. Nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng, tạo cơ hội cho

tham ô và hạn chế sức phát triển của thị trường chính thức.

Để phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh ở Phú Thọ, cần thực

hiện một số bước sau:

- Thứ nhất, nguồn cung dịch vụ phát triển kinh doanh cần được khuyến khích

cả về số lượng lẫn chất lượng thông qua các hoạt động hướng tới các nhà cung cấp

như: Đưa hoạt động cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh vào danh mục được

hưởng ưu đãi của tỉnh, tạo điều kiện cho các nhà cung cấp giảm giá dịch vụ cho

DNVVN; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp tăng cường

năng lực và cải thiện các hoạt động marketing.

- Thứ hai, nâng cao hiểu biết cơ bản và đánh giá của các DN về dịch vụ phát

triển kinh doanh. Để thực hiện tốt công việc này, các phương tiện thông tin đại

chúng cần có những chương trình dành cho DN, các hiệp hội DN, câu lạc bộ DN,

83

các hội ngành nghề... là những kênh lý tưởng để phổ biến vấn đề này. Dịch vụ phát

triển kinh doanh còn được tuyên truyền phổ biến qua các khoá đào tạo chủ DN, các

buổi họp DN, tạo đàm.

- Thứ ba, tại tỉnh Phú Thọ, các DN có nhu cầu rất thấp về các dịch vụ tư vấn

này nên phải có biện pháp kích cầu, một là, giúp các DN hiểu đầy đủ về các dịch

vụ, hai là giúp DN hiểu được tầm quan trọng của dịch vụ phát triển kinh doanh và

lợi ích mà các dịch vụ đó có thể mạng lại cho DN.

- Thứ tư, cần có chính sách khuyến khích thành lập các tổ chức tư vấn và hỗ trợ

một phần kinh phí cho các DNVVN khi sử dụng dịch vụ này, nên thành lập Quỹ hỗ trợ

chi phí tư vấn, chi trả 50% phí tư vấn cho các DNVVN có sử dụng dịch vụ tư vấn.

3.3.2. Thực hiện trợ giúp có trọng điểm

Nhằm giúp nông dân khai thác tiềm năng thế mạnh trong chế biến nông

nghiệp, tỉnh Phú Thọ cần đưa ra cơ chế hỗ trợ đặc thù khuyến khích doanh nghiệp

đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn sắp tới.

Đối với các doanh nghiệp có dự án đầu tư vào lĩnh vực giết mổ gia súc, gia

cầm tập trung cần được hỗ trợ chi phí, để xây dựng cơ sở hạ tầng về điện, nước, nhà

xưởng, xử lý chất thải và mua thiết bị.

Các nhà đầu tư có dự án đầu tư vào chăn nuôi gia súc, gia cầm và đầu tư nuôi

trồng thủy sản tập trung, nuôi cá lồng trên sông, hồ với quy mô nuôi tập trung cần

được hỗ trợ chi phí tùy từng dự án để xây dựng cơ sở hạ tầng.

Đối với các dự án trồng và chế biến chè, rau, củ, quả, thịt, tỉnh hỗ trợ chi

phí, như để xây dựng nhà xưởng, nhà lưới, hệ thống giao thông, điện, cấp thoát

nước, kênh mương, thủy lợi, thu gom và xử lý chất thải.

Bên cạnh đó, tỉnh cần hỗ trợ để xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các nhà đầu

tư có dự án đầu tư nhà máy chế biến gỗ rừng trồng, sản xuất gỗ ván…

Địa phương phải rà soát kế hoạch sử dụng đất để xây dựng các vùng chuyên

canh, vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư vào

sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích các hộ nông dân góp vốn bằng quyền sử dụng

đất với các doanh nghiệp để tạo quỹ đất hình thành vùng sản xuất quy mô lớn.

84

Nghiên cứu thu hồi đất của các nông lâm trường và chuyển một phần diện tích đất

rừng phòng hộ sang rừng sản xuất để tạo quỹ đất sạch thu hút cho các doanh nghiệp

vào đầu tư.

Đồng thời cần tìm được hướng đi phù hợp cho phát triển du lịch như xây

dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, liên kết hình thành các tua, các tuyến du lịch

hấp dẫn, phù hợp điều kiện thực tế của địa phương. Qua đó, sẽ giúp lượng khách du

lịch đến tỉnh Phú Thọ ngày càng tăng lên, nhiều điểm trở thành địa chỉ tin cậy, thu

hút du khách trong những ngày nghỉ lễ của đất nước.

3.3.3. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý các cấp

Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phát triển DNVVN,

kế hoạch hành động và lộ trình thực hiện; phối hợp với các bộ, ngành để thực hiện

nhiệm vụ phát triển DNVVN tại điạ phương; bố trí nhân lực, ngân sách hàng năm

đảm bảo thực hiện kế hoạch tại tỉnh.

Thành lập Ban điều phối thực hiện kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và

vừa cấp tỉnh trực thuộc ủy ban nhân dân, do Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh

làm Trưởng ban. Thành viên của Ban điều phối thực hiện kế hoạch phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa cấp tỉnh gồm đại diện của các Sở liên quan và các Hiệp hội

doanh nghiệp tại tỉnh. Hàng năm, tiến hành đánh giá tình hình triển khai thực hiện

kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ trên địa bàn.

Nhằm cũng cố và thúc đẩy các DNVVN phát triển có hiệu quả, bền vững theo

định hướng chung, qua nghiên cứu thực trạng của DNVVN và theo yêu cầu của nền

kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế, đòi hỏi cần phải có một tổ chức đầu mối

với một mạng lưới hỗ trợ nhằm phát triển các DNVVN. Việc xác lập một tổ chức

đầu mối đòi hỏi phải khẳng định các chức năng chủ yếu của nó là tham mưu giúp

Chính phủ và chính quyền địa phương tạo môi trường thuận lợi cho phát triển

DNVVN, điều phối các hoạt động giúp các DNVVN từ việc đào tạo, tiếp thị, làm

cầu nối giữa DNVVN với các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành, các hiệp hội,

nhằm phát triển SXKD, chuyển giao công nghệ,…. có hiệu quả. Chính vì thế theo

NĐ 90/2001 đã quy định thành lập hai tổ chức để xúc tiến phát triển DNVVN, đó

85

là: Cục phát triển DNVVN và Hội đồng khuyến khích phát triển DNVVN. Tại địa

bàn Tỉnh, để hỗ trợ và khuyến khích phát triển DNVVN cần:

- Một là, thành lập tổ chức xúc tiến phát triển DNVVN của tỉnh để chuyên

trách theo dõi, tổng hợp, đề xuất thể chế, chính sách khuyến khích DNVVN trong

từng thời kỳ cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và phối

hợp với các sở, ban, ngành trong việc tổ chức thực hiện.

- Hai là, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hơn nữa sự hoạt động của

Trung tâm hỗ trợ và đầu tư phát triển HTX&DNVVN của tỉnh.

- Ba là, khuyến khích thành lập các tổ chức trợ giúp DNVVN như hiệp hội,

câu lạc bộ DN. Đó là các tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhằm khai thác mọi nguồn

lực của xã hội, kể cả thu hút tài trợ bên ngoài, để phát triển các hoạt động trợ giúp

một cách trực tiếp, có hiệu quả thiết thực cho DNVVN. Các hiệp hội DN này có thể

tổ chức theo địa bàn địa phương, theo ngành nghề để cùng nhau thương thảo giải

quyết vấn đề mà từng DN riêng lẻ không tự giải quyết, để hỗ trợ nhau trong kinh

doanh, đồng thời làm vai trò cầu nối giữa các hội viên với cơ quan của Chính phủ,

đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của DNVVN.

- Bốn là, tăng cường cán bộ quản lý các DNVVN trong các sở, ban, ngành

cấp tỉnh, cấp huyện, đặc biệt là các bộ phận như đăng ký kinh doanh của Sở Kế

hoạch và Đầu tư, bộ phận quản lý DNVVN trong các Sở công nghiệp, Sở thương

mại,…

- Năm là, tăng cường chức năng của bộ máy quản lý nhà nước đối với

DNVVN theo hướng tăng thêm chức năng cho một số cơ quan, bộ phận hiện có

như: chức năng kiểm tra sau đăng ký kinh doanh cho phòng đăng ký kinh doanh,

chức năng và định hướng phát triển cho các Sở chuyên ngành, chức năng cung cấp

thông tin,… Ngoài ra cần phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các chức năng

được giao giữa các cơ quan hữu quan trong việc quản lý và hỗ trợ các DNVVN.

- Sáu là, thực hiện tốt chức năng kiểm soát đối với DN nhằm ngăn ngừa hạn

chế các vi phạm, việc kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN phải

được thực hiện theo đúng chức năng, thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật,

tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng để tránh trùng lắp, tránh gây

phiền hà không đáng có cho các doanh nghiệp.

86

Tóm tắt chương 3

Ở chương 3 luận văn đưa ra quan điểm, mục tiêu phát triển doanh nghiệp

vừa và nhỏ và phương hướng hoàn thiện chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa

và nhỏ của tỉnh Phú Thọ. Đồng thời đưa ra một số giải pháp về: Nâng cao tính minh

bạch của thể chế và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; chính sách thuế; chính sách tín

dụng; chính sách nguồn nhân lực; chính sách đất đai; chính sách về công nghệ và

thông tin; chính sách xúc tiến thương mại và một số kiến nghị khác.

87

KẾT LUẬN

Với vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của

tỉnh, đặc biệt là trong việc giải quyết công ăn việc làm và thu hút vốn đầu tư từ

người dân, việc thúc đẩy sự phát triển các DNVVN sẽ góp phần rất quan trọng vào

sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng

kinh tế, xoá đói giảm nghèo,…

Phú Thọ là một tỉnh nông nghiệp, dân số chủ yếu tập trung ở nông thôn và

làm nghề nông. Là một tỉnh có rất nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội,

trong đó có những tiềm năng quan trọng như lợi thế về vị trí chiến lược, nguồn tài

nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, có quỹ đất dồi dào, có nhiều làng nghề truyền

thống, có di sản văn hoá thế giới, người dân năng động, sáng tạo, cần cù,… Phú

Thọ còn đóng vai trò trung tâm văn hóa xã hội và nhân văn của cả nước đó là Đất tổ

Hùng Vương nên có thể phát triển nhiều loại hình du lịch. Tuy nhiên, tỉnh cũng có

không ít khó khăn trong việc phát triển kinh tế nói chung và DNVVN nói riêng.

Từ khi chia tách tỉnh đến nay, tỉnh Phú Thọ đã đạt được nhiều thành tựu

quan trọng về kinh tế - xã hội. Trong những thành công đó có sự đóng góp đáng kể

của các DNVVN, đã góp phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm, tăng thu

nhập dân cư,.. DNVVN với những ưu thế và hạn chế nhất định nên khó có thể phát

triển nhanh và bền vững nếu thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ

chức hỗ trợ khác. Do đó, để phát huy vai trò tích cực của các DNVVN trong sự phát

triển kinh tế - xã hội của tỉnh thì phải có sự định hướng và hỗ trợ các DN này trong

quá trình hình thành và phát triển.

Từ việc nghiên cứu lý thuyết về DNVVN, nghiên cứu kinh nghiệm hỗ trợ

DNVVN ở một số nước và địa phương; phân tích thực tế tình hình phát triển

DNVVN, chính sách biện pháp hỗ trợ DNVVN của tỉnh trong 5 năm qua, đề tài đã

đưa ra một số giải pháp hỗ trợ cho các DNVVN tỉnh Phú Thọ trong những năm tới,

nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN phát triển và tăng khả năng cạnh

tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, vừa giúp cho các DNVVN của tỉnh

88

khắc phục được những hạn chế của chính bản thân DN. Những giải pháp hỗ trợ phát

triển DNVVN đề cập ở đây bao gồm các giải pháp hỗ trợ về tài chính, tín dụng; các

giải pháp về đất đai, mặt bằng sản xuất; các giải pháp về thị trường tiêu thụ sản

phẩm, về đào tạo, tư vấn, về thành lập các hiệp hội DNVVN,…

Đánh giá đúng thực trạng và đề ra được các giải pháp hữu hiệu để phát triển

DNVVN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề khá phức

tạp. Việc hỗ trợ phát triển DNVVN là một sự nghiệp lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực của

từng DN và sự giúp đỡ về nhiều mặt, kịp thời của các cơ quan nhà nước cũng như

các tổ chức hỗ trợ DN đang hoạt động trên địa bàn tỉnh.

Do thời gian nghiên cứu có hạn với nội dung rộng và các số liệu thống kê không

nhất quán giữa các sở ban ngành. Nhưng học viên đã cố gắng hoàn thành bản luận văn

của mình. Tuy nhiên, luận văn cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định,

học viên mong nhận được các ý kiến đóng góp của các nhà khoa khọc, các chuyên gia,

các nhà quản lý và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.

89

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Văn An (2016) “Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp

vừa và nhỏ trên địa bàn Tỉnh Nghệ An”, luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Huế.

2. PGS.TS Nguyễn Cúc, “Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đến năm 2005”, năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

3. Hoàng Thu Hòa - Vũ Quốc Tuấn - 2001, “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ,

kinh nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”.

4. Lê Thị Tâm (2018) “Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong các

doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế”, luận văn

thạc sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân.

5. Phạm Minh Tuấn (2015), luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện chính sách phát triển

doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Viện Quản lý kinh tế

- Học viện CTQG Hồ Chí Minh.

6. TS. Đỗ Việt Tuấn và Chu Minh Phương, “Tài chính hỗ trợ phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ, Nxb Tài Chính”, năm 2000.

7. Trần Anh Trung (2017), luận văn thạc sỹ “Doanh nghiệp công nghiệp vừa và

nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - thực trạng và giải pháp phát triển”, Viện Quản lý

kinh tế - Học viện CTQG Hồ Chí Minh.

8. Chính phủ (2001), Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp

phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

9. Chính phủ (2003), Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg , ngày 11 tháng 12 năm 2003 về

tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Luật doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh

nghiệp nhỏ và vừa.

10. Chính phủ (2003), Chỉ thị số 40/2005/CT-TTg , ngày 16 tháng 12 năm 2005 về

tiếp tục đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

11. Chính phủ (2004), Nghị định số 134/2004/NĐ-CP , ngày 09 tháng 6 năm 2004

về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn.

90

12. Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2015 - 2019), Kết quả điều tra doanh nghiệp năm

2015, 2019.

13. Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2019), Niên giám thống kê 2018.

14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7-BCH TW khoá

7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

16. Thủ tướng Chính phủ (2005), Quyết định số 148/2005/QĐ-TTg ngày 17/6/2005

phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2015.