BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------------
LÊ VINH QUANG
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Phú Thọ, năm 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
LÊ VINH QUANG
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
Luận văn thạc sĩ kinh tế
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Phạm Minh Đạt
Phú Thọ - 2020
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận văn là trung thực và nội dung này chưa từng được ai khác công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Vinh Quang
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của Trường Đại học Thương
Mại đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin đượcbày tỏ lòng biết ơn tới Thầy giáo hướng dẫn thực hiện luận văn
TS. Phạm Minh Đạt. Từ những vấn đề thực tế của tỉnh Phú Thọ nơi tôi chọn để
hoàn thành luận văn, thầy Đạt đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để tôi hoàn thành đề
tài luận văn nghiên cứu của mình.
Tôi xin được cảm ơn Ban lãnh đạo công ty, bạn bè đồng nghiệp đang công
tác đã nhiệt thành hợp tác và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn tin tưởng và khích lệ tôi
trong thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Trân trọng cảm ơn!
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN.................................................................................................................... ii
MỤC LỤC .........................................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .............................................................................. vi
DANH MỤC B ẢNG, HÌNH ......................................................................................... vii
MỞ ĐẦU..............................................................................................................................1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ ................................................................................7
1.1. Khái niệm, sự cần thiết phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ..........................7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ .....................................7
1.1.2. Các quan điểm của chính quyền nhà nước về doanh nghiệp vừa và nhỏ.. 10
1.1.3. Sự cần thiết của việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ........................... 11
1.1.4. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ .................................................................. 13
1.2 Khái niệm và nội dung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.... 14
1.2.1 Khái niệm chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ .............. 14
1.2.2. Nội dung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ............... 16
1.3. Bài học kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ từ các điển hình nghiên cứu ................................................................................. 21
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước............................................................................ 21
1.3.2. Kinh nghiệm của các địa phương ...................................................................... 24
1.3.3. Bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ................... 26
Tóm tắt chương 1............................................................................................................ 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ ............................. 29
2.1. Giới thiệu khái lược về tỉnh Phú Thọ ................................................................. 29
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên ........................................................................................... 29
2.1.2. Về kinh tế xã hội ................................................................................................... 31
iv
2.2. Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh ............................ 36
2.2.1 Số lượng và quy mô ............................................................................................... 36
2.2.2 Kết cấu vốn doanh nghiệp theo mỗi loại hình doanh nghiệp ........................ 38
2.2.3 Kết cấu, ngành nghề kinh doanh ........................................................................ 39
2.2.4 Tình hình sử dụng lao động và trả lương lao động......................................... 39
2.2.5 Về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh ............................................ 41
2.3. Thực trạng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ............................................................................................................................. 44
2.3.1. Tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ................... 44
2.3.2. Các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ..................................... 46
2.3.3. Hỗ trợ về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh ................................... 48
2.3.4. Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực ..................................................................... 51
2.3.5. Hỗ trợ về tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm ........................................ 53
2.3.6. Hỗ trợ thành lập các hiệp hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa ...................... 57
2.4. Đánh giá chung ........................................................................................................ 59
2.4.1. Những thành công ................................................................................................ 59
2.4.2. Những hạn chế...................................................................................................... 60
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đặt ra........................... 62
Tóm tắt chương 2............................................................................................................ 64
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT
TRIỂN DN NVV TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ............................................ 65
3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và phương
hướng hoàn thiện chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của tỉnh
Phú Thọ............................................................................................................................. 65
3.1.1. Quan điểm phát triển ........................................................................................... 65
3.1.2. Mục tiêu phát triển ............................................................................................... 66
3.1.3. Phương pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
............................................................................................................................................. 68
v
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ .................................................................................... 69
3.2.1. Nâng cao tính minh bạch của thể chế và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý .. 69
3.2.2. Chính sách thuế .................................................................................................... 71
3.2.3. Chính sách tín dụng ............................................................................................. 72
3.2.4. Chính sách nguồn nhân lực ............................................................................... 75
3.2.5. Chính sách đất đai ................................................................................................ 75
3.2.6. Chính sách về công nghệ và thông tin .............................................................. 77
3.2.7. Chính sách xúc tiến thương mại........................................................................ 78
3.3. Một số kiến nghị ...................................................................................................... 81
3.3.1. Khuyến khích phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh ............ 81
3.3.2. Thực hiện trợ giúp có trọng điểm ...................................................................... 83
3.3.3. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý các cấp .............................. 84
Tóm tắt chương 3............................................................................................................ 86
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 89
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT TỪ VIẾT TẮT NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ
CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1
2 CP Chính phủ
3 DN Doanh nghiệp
4 DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
5 KT Kinh tế
6 KT - XH Kinh tế xã hội
7 GDP Tăng trưởng kinh tế
8 NXB Nhà xuất bản
9 SX - KD Sản xuất – Kinh doanh
10 UBND Ủy ban nhân dân
11 USD Đô la Mỹ
vii
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 1.1 Tiêu thức phân loại DNVVN của một số nước...............................................9
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của Phú Thọ giai đoạn 2017-2019 .... 31
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) Phú Thọ so với ................... 32
vùng miền núi phía Bắc và cả nước (Theo giá so sánh) .............................................. 32
Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phú Thọ ........................... 33
theo ngành giai đoạn 2015÷2019 (Giá thực tế) ............................................................ 33
Bảng 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phú Thọ............................................................. 33
theo thành phần kinh tế giai đoạn 2015÷2019 (Giá thực tế)...................................... 33
Bảng 2.5 Dân số, lao động và sự chuyển dịch cơ cấu lao động năm 2015, 2019 .... 34
Bảng 2.6 Số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh và việc làm tại Phú Thọ năm 2019 .. 36
Bảng 2.7 Số lượng đăng ký kinh doanh mới qua các năm .......................................... 37
Bảng 2.8 Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa ............................................. 37
Bảng 2.9 Quy mô vốn bình quân trên một doanh nghiệp............................................ 38
Bảng 2.10 Số người đã qua đào tạo (năm 2019) .......................................................... 40
Bảng 2.11 Tình hình trả lương lao động phân theo quy mô lao động ....................... 41
Bảng 2.12 Mức trang bị vốn trung bình của DNVVN năm 2019 .............................. 42
Bảng 2.13 Trang bị tài sản cố định bình quân trên 1 lao động ................................... 42
Bảng 2.14 Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh..... 43
Bảng 2.15 Quy ho ạch sử dụng đất đến năm 2020 ........................................................ 49
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Đảng, Nhà nước cũng như
của các chính quyền địa phương là phát triển kinh tế và đưa ra những chính sách tốt
nhất để nâng cao chất lượng đời sống cho người dân. Muốn làm được điều này thì
đòi hỏi huy động được vốn, phát triển hệ thống doanh nghiệp tại các địa phương đó.
Các chính sách hỗ trợ DNVVN dù đã đạt được những thành công nhất định
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhu cầu của DN trong bối cảnh hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng. Việc triển khai các chính sách hỗ trợ DNVVN trong
thời gian qua cho thấy, chính sách hỗ trợ đối với DNVVN còn ở mức thấp, tỷ lệ
DNVVN tham gia và thụ hưởng các chương trình hỗ trợ chính sách của Nhà nước
còn ở mức khiêm tốn. Hoạt động trợ giúp đối với DNVVN chưa có trọng tâm, trọng
điểm, chưa hỗ trợ phát triển cho các cụm liên kết ngành. Bên cạnh đó, nguồn lực
dành cho trợ giúp phát triển DNVVN còn phân tán, trình tự thủ tục để DNVVN thụ
hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước còn nhiều bất cập, khó khăn…
Cụ thể, khó khăn lớn nhất của DNVVN là chi phí đầu vào cho sản xuất còn
lớn. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNVVN chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay
ngân hàng có lãi suất rất cao và khả năng tiếp cận khó khăn. Nguồn lao động bị
cạnh tranh với các DN lớn trong nước và cả DN nước ngoài. Các DNVVN cũng
phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực có tay nghề cao.
Riêng đối với Phú Thọ là một tỉnh nghèo, xuất phát điểm kinh tế thấp, nội
lực của các doanh nghiệp yếu, đặc biệt là vốn và trình độ khoa học công nghệ; kinh
nghiệm và điều kiện tham gia hội nhập còn ít; mô hình tổ chức hoạt động sản xuất
kinh doanh còn chậm đổi mới. Kết quả điều tra, khảo sát tại 168 doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế trên địa bàn 13 huyện/thành/thị thuộc tỉnh, cho thấy đến năm
2015 có đến 90% số doanh nghiệp xây dựng và áp dụng Tiêu chuẩn cơ sở cho sản
phẩm do doanh nghiệp sản xuất. Chỉ có 10% doanh nghiệp áp dụng Tiêu chuẩn
Quốc gia hoặc tiêu chuẩn nước ngoài; 10/168 doanh nghiệp (6%) có sản phẩm được
2
chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, 5/168 doanh nghiệp (3%) có sản phẩm được đánh
giá chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm khoảng 90% trong tổng số doanh nghiệp
của tỉnh) có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm; tăng thu nhập cho người
lao động; huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển; đóng góp đáng kể
vào nguồn thu ngân sách của tỉnh. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn đầu tư ban
đầu tuy không lớn nhưng được hình thành và phát triển rộng khắp ở hầu hết các
ngành nghề, các lĩnh vực, tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư
vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
Hơn nữa, doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tỉnh Phú Thọ còn phát triển chưa đồng
bộ, còn nhỏ lẻ, làm ăn manh mún, công nghệ còn lạc hậu, phát triển chưa đồng bộ
cả về vùng lãnh thổ, nghành nghề kinh doanh, đóng góp vào ngân sách nhà nước
còn chiếm tỷ trọng thấp, phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, mới tập trung vào
các khu vực đô thị, các khu, các cụm công nghiệp. Ngoài ra, kiến thức quản lý kinh
tế của các chủ doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, các chủ trang trại chưa đồng
đều, chưa gắn được sản xuất kinh doanh với thị trường, khả năng nắm bắt thông tin
thị trường còn nhiều hạn chế, chưa đủ mạnh để cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường.
Đối với công tác quản lý Nhà nước cũng bộc lộ không ít những khó khăn
vướng mắc nảy sinh, thiếu sự phối hợp giữa các cấp, các ngành đối với các doanh
nghiệp, hộ kinh doanh cá thể sau đăng ký kinh doanh, làm cho quản lý Nhà nước bị
buông lỏng, từ đó dẫn tới sự phối hợp kém nhiệt tình, sự trì trệ trong quản lý, hỗ trợ
doanh nghiệp.
Chính vì vậy để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể hội nhập kinh tế quốc tế
tốt, có thể cạnh tranh được với các đối thủ bên ngoài, tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát
triển khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại
hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị
trường, phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho
người lao động thì chúng ta phải có một định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và
3
nhỏ để từ đó chúng ta có được một số biện pháp chính sách để phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Chính vì những lý do đó tôi đã chọn đề tài Chính sách hỗ trợ
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ làm đề tài nghiên
cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới đã có rất nhiều sách, bài viết về doanh nghiệp nhỏ và vừa như
cuốn “Small and medium-sized enterprises in countries in transition/Economic
commission for Europe" của United Nation - Geneva New York; “Accounting and
financial reporting guidelines for small and medium- sized enterprises (SMEGA):
Level 3 guidance” của United Nations Conference on trade and development.
Trong những năm gần đây, những vấn đề liên quan đến DNVVN luôn được
nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong đó, đã có
nhiều tác giả nghiên cứu về vai trò của Nhà nước và các chính sách, giải pháp hỗ trợ
phát triển DNVVN như:
“Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Việt Nam đến năm 2005”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, do PGS.TS
Nguyễn Cúc chủ biên. “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh nghiệm nước
ngoài và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”, năm 2001, do đồng tác
giả Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hòa. “Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Hà Nội 2003, Viện nghiên cứu Thương Mại. “Tài chính
hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Nxb Tài Chính, Hà Nội năm 2000 của
GS.TS Hà Xuân Phương, TS. Đỗ Việt Tuấn và Chu Minh Phương. Qua những tài
liệu này, tác giả đã chọn lọc và kế thừa được những cơ sở lý luận về khái niệm, đặc
điểm, tiêu chí đánh giá doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Lê Thị Tâm (2018) Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế, luận văn
thạc sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân. Luận văn đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về
doanh nghiệp vừa và nhỏ, nội dung nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế.
Trên cơ sở này, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo nhân lực tại các
4
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn từ năm 2014÷2018 và đề xuất những giải
pháp để phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Với luận văn này, tác giả kế thừa được cơ sở lý luận và
những chính sách thực hiện trong nguồn nhân lực của DNVVN.
Đinh Văn An (2016) Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ trên địa bàn Tỉnh Nghệ An, luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế - Đại học
Huế. Tác giả hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp vừa và
nhỏ, đánh giá chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời
đưa ra thực trạng các chính sách hỗ trợ phát triển cũng như các giải pháp để hoàn
thiện trong thời gian tới. Kế thừa và chọn lọc từ luận văn, tác giả đã tổng hợp và
phân tích được những cơ sở lý luận và một số chính sách về hỗ trợ phát triển
DNVVN.
Trần Anh Trung (2017), luận văn thạc sỹ Doanh nghiệp công nghiệp vừa và
nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - thực trạng và giải pháp phát triển, Viện Quản lý
kinh tế - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã nêu rõ được cơ sở
lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ, đánh giá được thực trạng phát triển của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, qua đó đánh giá và đưa ra
những giải pháp để phát triển trong giai đoạn 2020÷2025. Qua luận văn, tác giả kế
thừa được những cơ sở lý luận và cách đánh giá sự phát triển DNVVN qua các chỉ
tiêu khác nhau.
Phạm Minh Tuấn (2015), luận văn thạc sỹ Hoàn thiện chính sách phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Viện Quản lý kinh tế -
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về
chính sách phát triển DNVVN, phân tích thực trạng tình hình phát triển DNVVN
trên địa bàn thành phố Hà Nội, đánh giá và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện
chính sách phát triển cho DNVVN. Qua luận văn này, tác giả cũng kế thừa và chọn
lọc được những cơ sở lý luận mà tác giả đưa ra cùng với đề xuất một số giải pháp
vận dụng trong luận văn.
5
Tuy nhiên, ở tỉnh Phú Thọ chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu các chính
sách hỗ trợ của Nhà nước đối với các DNVVN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là những giải pháp hỗ trợ phát triển
DNVVN. Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi cần có những đầu tư nghiên cứu cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách hỗ trợ
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, luận văn đề xuất phương hướng và các giải
pháp đẩy mạnh chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
những năm tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Làm rõ những vấn đề lý luận về DNVVN, chính sách hỗ trợ phát triển
DNVVN;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ giai đoạn 2015÷2019;
+ Đề xuất phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh chính sách hỗ trợ phát
triển DNVVN ở tỉnh Phú Thọ những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các chính sách hỗ trợ của Nhà nước
cấp tỉnh. Đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và những khó khăn,
vướng mắc của các chính sách trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian, khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
+ Về thời gian, nghiên cứu các số liệu, văn bản hỗ trợ thành lập và phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian 5 năm (2015÷2019)
6
+ Đề xuất các giải pháp chính nhằm thúc đẩy việc ra đời và phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ, thu hút mạnh vốn đầu tư trong nước và tạo ra nhiều việc làm
cho người dân của tỉnh phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
đến năm 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính
Thông qua việc tiến hành tham khảo các giáo trình, tài liệu, báo, tạp chí, các
công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ để làm
cơ sở lý luận và rút ra các kinh nghiệm cần thiết.
Tiếp đến, sẽ nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
cấp Trung ương, cấp tỉnh thông qua các văn kiện, văn bản pháp luật, tài liệu có liên
quan đến đề tài nhằm củng cố các tiền đề, làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng
+ Phương pháp tổng hợp
Bằng các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đã thu thập được, sẽ tiến hành tổng hợp
và đưa ra các số liệu cung cấp cho nội dung nghiên cứu.
+ Phương pháp so sánh
Với kết quả tổng hợp trên, tiến hành so sánh giữa các năm, nhận xét sự chênh
lệch và chỉ ra nguyên nhân chênh lệch đó.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết
cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chương 2: Thực trạng hỗ trợ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Phương hướng và chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. Khái niệm, sự cần thiết phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo định nghĩa tại Luật Doanh Nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức
kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh. Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp thường được dùng để chỉ các loại hình:
Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty hợp
doanh thưộc các thành phần kinh tế”.
Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ một hoạt động hợp pháp nào trong sản
xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ để bán, cung ứng cho khách hàng và
thu lợi nhuận, dù hoạt động đó chỉ là của một cá nhân, một hộ gia đình, đều có thể
được coi là một doanh nghiệp (DN).
Ở nước ta, Luật Doanh nghiệp 2005 cũng đã nêu rõ: “Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh”.
Tiếp theo đó, Luật cũng đã định nghĩa kinh doanh như sau: “Kinh doanh là
việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi.”
Theo nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ, tại điều III, chương I đã định nghĩa DNVVN như sau:
"Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh
doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao
động trung bình hàng năm không quá 300 người"
8
Như vậy, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể
nếu không có đăng ký kinh doanh, không được gọi là DN, mặc dù số hộ này vẫn
thực hiện các hoạt động kinh doanh hợp pháp, được thực hiện các quyền và nghĩa
vụ dân sự giống như DN. Do đó, ở nước ta, quan niệm về DN có hai phạm vi rõ rệt:
Phạm vi hẹp chỉ bao gồm các DN chính thức đã đăng ký với tư cách tên gọi là DN;
phạm vi rộng bao gồm cả các hộ gia đình kinh doanh hợp pháp và các tổ chức, cá
nhân tham gia kinh doanh dưới danh nghĩa các tổ chức sự nghiệp có thu...
Trong một nền kinh tế, tùy theo các tiêu chí khác nhau mà người ta phân ra
các loại DN khác nhau. Theo ngành kinh tế có thể chia ra DN công nghiêp, DN
nông nghiệp, DN thương mại dịch vụ; theo tính chất hoạt động thì có DN hoạt động
công ích (phi lợi nhuận) và DN kinh doanh (vị lợi); theo hình thức sở hữu thì có
DNNN, DNDD và DN có vốn đầu tư nước ngoài; theo quy mô, mà chủ yếu là quy
mô về vốn và lao động thì có DN lớn, DNVVN.
Các DNVVN là loại hình DN có số lượng áp đảo ở hầu hết các nước. Có khá
nhiều cách định nghĩa khác nhau về DNVVN. Các định nghĩa này có những điểm
giống nhau và khác nhau, vì vậy khó mà tìm được một định nghĩa thống nhất, mặc
dù ai cũng thống nhất rằng kinh doanh vừa và nhỏ thì khối lượng công việc ít hơn,
đơn giản hơn là kinh doanh ở các DN lớn.
Hiện nay, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy
mô DN ở các nước. Ở mỗi nước, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ
thể mà có cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định. Bảng 1.1 dưới
đây cho thấy tình hình này.
9
Bảng 1.1 Tiêu thức phân loại DNVVN của một số nước
Lĩnh vực Công nghiệp Thương mại - Dịch vụ
Các DN vừa DN nhỏ DN vừa DN nhỏ
nước
Mỹ Dưới 3,5 triệu Dưới 3,5 triệu
USD USD
Dưới 500 lao Dưới 500 lao
động động
Nhật bản Dưới 100 triệu 10-30 triệu Yên
Yên Dưới 20 lao động Dưới 100 lao Dưới 5 lao
Dưới 300 lao động động
động
CHLB 1đến<100 triệu Dưới 1 triệu DM 1-100 triệu DM Dưới 1 triệu
Đức DM Dưới 9 lao động 10-<500 lao động DM
10-<500 lao Dưới 9 lao
động động
Philippin 15-60 triệu Peso < 15 triệu Peso 15-60 triệu Peso < 15 triệu
Không quy định Không q/định lđ Không quy định Peso
lđ lđ Không q/định
lđ
Đài Loan 1,6 triệu USD 1,6 triệu USD
Nguồn: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb
4-10 lao động 4-10 lao động
Chính trị quốc gia, Hà Nội
Ngoài ra, còn có định nghĩa chung của EU, có hiệu lực áp dụng từ tháng
6/1996:
10
DNVVN là các DN tư nhân và độc lập, trong khu vực phi sơ cấp, không bao
gồm các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, sử dụng dưới 200 công
nhân. Trong khu vực DNVVN có sự phân loại như sau theo quy mô:
DN siêu nhỏ: sử dụng dưới 10 công nhân;
DN nhỏ: sử dụng từ 10 đến 49 nhân công và có doanh thu hàng năm dưới
7 triệu ECU;
DN vừa: sử dụng từ 50 đến 249 nhân công và có doanh thu hàng năm
dưới 40 triệu ECU.
1.1.2. Các quan điểm của chính quyền nhà nước về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Từ nhiều năm trước, khi Chính phủ chưa ban hành chính thức tiêu chí quy
định DNVVN, một số cơ quan và nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí và tiêu
chuẩn cụ thể khác nhau để phân loại DNVVN. Có thể kể ra các cách phân loại tiêu
biểu sau:
- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) căn cứ vào 2 tiêu chí
lao động và vốn của các ngành để phân biệt:
+ Trong ngành công nghiệp: DNVVN là tổ chức kinh tế có số vốn từ 5÷10 tỷ
đồng và có số lao động 200÷500 người. Trong đó DN nhỏ có số vốn dưới 5 tỷ đồng
và có số lao động nhỏ hơn 200 người.
+ Trong ngành thương mại- dịch vụ: DNVVN là tổ chức có số vốn từ 5÷10
tỷ đồng và có số lao động từ 50÷100 người.
- Ngân hàng Công thương hoạt động cho vay tín dụng đối với các DN quy định
rằng: DN vừa là DN có vốn từ 5÷10 tỷ đồng và số lao động từ 500÷1000 người, DN
nhỏ là DN có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 500 người;
- Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, DN có
vốn dưới 1 tỷ đồng và dưới 100 lao động được xếp là DN nhỏ, DN có vốn từ 1÷10
tỷ đồng và có từ 100÷500 lao động là DN vừa. Trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ,
DN có vốn từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng, lao động từ 50÷250 người là DN vừa…
Tóm lại, người ta thường dùng 2 tiêu chí về vốn đăng ký và số lao động
thường xuyên để xác định DNVVN vì tất cả các DN đều có thể xác định được 2 tiêu
11
chí này. Riêng tiêu thức doanh thu ít được sử dụng vì đối với các nước đang phát
triển, đặc biệt là Việt Nam thì tiêu chí này có thể biến động do nhiều yếu tố và cũng
khó xác định.
Để thống nhất tiêu chí xác định DNVVN, ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban
hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định các DNVVN.
Theo quy định này, DNVVN là các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao
động trung bình hàng năm dưới 200 người. Quy định tạm thời này chỉ tồn tại
khoảng 3 năm và ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-
CP về trợ giúp phát triển DNVVN, theo quy định tại Nghị định này, DNVVN là cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có
vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không
quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế- xã hội cụ thể của ngành, địa phương,
trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp
dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Với tiêu thức phân loại mới này, DNVVN ở nước ta chiếm tỷ trọng khoảng
90% trong tổng số DN hiện nay, trong đó phần lớn là các DN thuộc khu vực doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Điều này phù hợp với tình hình kinh tế của nước ta vốn là nền
kinh tế sản xuất vừa và nhỏ là chủ yếu.
1.1.3. Sự cần thiết của việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, DNNVV có vị trí đặc biệt quan trọng,
thể hiện qua các mặt dưới đây:
Tạo việc làm cho người lao ðộng
Ðây là một thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến
chúng ta phải đặc biệt trú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay. Khu vực
DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút khoảng 25÷26% lực lượng lao
động phi nông nghiệp của cả nước, nhưng triển vọng thu hút thêm lao động rất lớn
vì suất đầu tư cho một chỗ làm việc ở đây thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn,
chủ yếu là do chi phí thấp và thu hút được nguồn vốn rải rác trong dân.
12
Ðóng góp vào tăng trưởng kinh tế
Mỗi năm, DNNVV đóng góp khoảng 25%÷26% GDP của cả nước. Các
DNNVV ở Việt Nam đã cung cấp ra thị trường nhiều loại sản phẩm khác nhau, đáp
ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần
thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành tiểu thủ công nghiệp cũng
như các hàng hoá tiêu dùng khác.
Ðảm bảo cho nền kinh tế năng động hơn
Do yêu cầu vốn ít, quy mô nhỏ, DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng,
chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ… làm cho nền kinh tế năng động hơn.
Tãng thu nhập cho dân cư
Thu nhập của dân ta còn quá thấp, do kinh tế chậm phát triển. Phát triển
DNNVV ở thành thị cũng như nông thôn là biện pháp chủ yếu để tăng thu nhập, đa
dạng hóa thu nhập của các tầng lớp nhân dân khắp các vùng trong cả nước, góp phần
rất quan trọng thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Góp phần thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện ðại hóa
Việc phát triển DNNVV sẽ tạo ra những chuyển biến hết sức quan trọng về
cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế, từ một nền kinh tế nhỏ, thuần nông là chủ yếu sang
nền kinh tế có cơ cấu theo hướng hiện đại.
Góp phần ðào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn một đội ngũ doanh
nhân mới trong kinh tế thị trường
Các DNNVV là nơi đào tạo, rèn luyện cho các nhà quản lý DN. Với quy mô
vừa và nhỏ là môi trường thuận lợi cho các nhà quản lý DN làm quen với môi
trường kinh doanh. Bắt đầu từ đây một số nhà quản lý DN đã trưởng thành lên
những nhà quản lý DN lớn, tài ba, biết đưa DN của mình nhanh chóng phát triển.
Ðây là vấn đề quan trọng bởi ở Việt Nam trong nhiều năm đội ngũ các nhà quản lý
DN gắn liền với cơ chế bao cấp nên chưa có kinh nghiệm với kinh tế thị trường.
Tóm lại, DNNVV có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất
nước và vai trò này ngày càng được tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hóa,
13
hiện đại hóa, bởi DNNVV đang là động lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việc
làm, huy động vốn trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.1.4. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ðặc ðiểm của các DNVVN xuất phát trước hết từ chính quy mô của doanh
nghiệp. Cũng như các DNVVN trên thế giới, với quy mô nhỏ, DNVVN Việt nam
cũng có những đặc điểm tương tự như ở các quốc gia khác. Ngoài ra, do đặc
trưng riêng của nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên các
DNVVN Việt nam còn có những đặc điểm riêng. Những đặc điểm cơ bản của
các DNVVN Việt nam thể hiện như sau:
Các DNVVN ở Việt nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức
tổ chức doanh nghiệp, bao gồm từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và các
công ty tư nhân đến hợp tác xã. Trong một thời gian dài, các doanh nghiệp thuộc
các thành phần khác nhau không được đối xử bình đẳng, bị phân biệt đối xử. Ðiều
đó ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay,
đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cận nguồn lực không như nhau
(trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng…).
Là những doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, vì vậy DNVVN
thường có điểm mạnh là dễ khởi sự và tính linh hoạt cao, có các lợi thế trong việc
duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống. Tuy nhiên, đây thường là những
doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Ðặc điểm này đã làm cho các
DNVVN gặp nhiều khó khãn trong quá trình hoạt động của mình do không có các
lợi thế kinh tế theo quy mô. Mặt khác, do rất dễ khởi nghiệp nên DNVVN cũng
phải chịu nhiều loại rủi ro trong kinh doanh. Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới
cho thấy, càng nhiều DNVVN ra đời thì cũng càng có nhiều DNVVN bị phá sản.
Khả năng quản lý hạn chế: Các chủ doanh nghiệp thường là những kỹ sư
hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp. Họ vừa là người
quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn
trong quản lý không cao. Ðôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng,
14
những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất. Phần lớn những người chủ doanh nghiệp đều không được đào tạo qua một
khóa quản lý chính quy nào, thậm chí chưa qua một khóa đào tạo nào.
Trình độ tay nghề của người lao động thấp: Các chủ DNVVN không đủ khả
năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao động có
tay nghề cao do hạn chế về tài chính. Bên cạnh đó, định kiến của người lao động
cũng như của những người thân của họ về khu vực này vẫn còn khá lớn. Người lao
động ít được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp vì vậy trình độ thấp và kỹ
năng thấp.
Khả nãng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển
khai. Nhiều DNVVN có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài
chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc
bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ.
Các DNVVN Việt nam thường sử dụng chính những diện tích đất riêng của
mình làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh và rất khó thuê ðược các mặt bằng sản
xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp này rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh
doanh khi quy mô của doanh nghiệp được mở rộng. Một số doanh nghiệp thuê được
đất thì gặp nhiều trở ngại trong việc giải phóng mặt bằng và đền bù.
Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài.
Nguyên nhân chủ yếu là do các DNVVN thường là những doanh nghiệp mới hình
thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa
có nhiều khách hàng truyền thống.
1.2 Khái niệm và nội dung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Khái niệm chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hỗ trợ phát triển DNVVN: Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN phát
triển, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Chương trình trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhà nước (gọi tắt là
Chương trình trợ giúp) là chương trình mục tiêu dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa,
căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành và
15
các địa bàn cần khuyến khích. Chương trình trợ giúp này được bố trí trong kế hoạch
hàng năm và kế hoạch 5 năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.
Chương trình trợ giúp gồm: Mục tiêu, đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa cụ
thể theo ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn hoạt động, nội dung trợ giúp, nguồn lực,
kế hoạch và biện pháp về cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện. Chú trọng ưu tiên
chương trình trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa do doanh nhân nữ quản lý.
Tóm lại những chính sách về hỗ trợ phát triển DNVVN của nhà nước được thể
hiện như sau:
- Một là, tạo môi trường thuận lợi cho việc khởi nghiệp và hành nghề của
DNVVN.
- Hai là, cho vay vốn với điều kiện thuận lợi (như nhà nước góp phần thế chấp
hoặc bảo lãnh) với lãi suất thấp, với ân hạn dài, với sự trợ giúp khi gặp khó khăn
trong việc trả nợ.
- Ba là, cho hưởng nhiều ưu đãi về thuế.
- Bốn là, chuyển giao và giúp làm chủ công nghệ và quản lý tiến tiến.
- Năm là, giúp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, từ giám đốc đến kỹ thuật
viên, nhân viên quản lý, kế toán và công nhân lành nghề.
- Sáu là, cho nhận thầu công việc sản xuất - kinh doanh; cho đảm nhận từng dự
án hoặc bộ phần dự án kinh tế (của nhà nước); cho hạn ngạch hoặc tỷ phần trong
việc cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu.
- Bảy là, giúp tiếp cận thị trường, cung cấp thông tin kịp thời và chuẩn xác về
thị trường, cho tham gia nhiều hình thức thiết lập và phát triển quan hệ với các đối
tác trong và ngoài nước.
- Tám là, đặc biệt chăm sóc và giúp đỡ các DNVVN thiếu triển vọng; các
DNVVN bị thiệt thòi hoặc gặp nhiều khó khăn; các DNVVN do phụ nữ làm chủ;
các DNVVN trong một số ngành và vùng ưu tiên…
16
- Chín là, hoạch định, thông qua và thực hiện những chiến lược trung hạn và
dài hạn, những chương trình quốc gia từng năm hoặc vài năm về phát triển
DNVVN.
- Mười là, theo dõi tình hình, thường thì làm thống kê riêng về DNVVN, kiểm
điểm việc thực hiện các luật lệ, chiến lược và chương trình nói trên, phát hiện và xử
lý kịp thời các vấn đề nảy sinh để phát triển DNVVN.
- Mười một là, lập cơ quan chuyên trách về DNVVN, có nơi là cơ quan cấp bộ
hoặc chính là một bộ trong chính phủ.
- Mười hai là, giúp sự thành lập và hoạt động có hiệu quả của các hiệp hội
DNVVN. Dành cho các hiệp hội ấy cơ hội và vị trí đích đáng trong các Hội đồng,
các Uỷ ban, các hội nghị quan trọng của nhà nước để hoạch định các chính sách
kinh tế quốc gia.
Vậy có thể hiểu: Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là một nhiệm vụ
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo thuận lợi cho DNVVN phát
huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học - công
nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp
khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển
sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.
1.2.2. Nội dung chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.2.1. Tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nếu muốn DNVVN thực sự trở thành động năng tăng trưởng kinh tế, các quốc
gia cần xây dựng một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp
có sức cạnh tranh, mang lại lợi nhuận. Gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, tiến hành cải cách thủ tục hành chính
- Tiếp tục hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định khung pháp lý, cải cách thủ tục
hành chính và chính sách tài chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình
đẳng, minh bạch, thông thoáng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.
17
- Kiện toàn công tác đăng ký kinh doanh: Xây dựng đề án tổ chức hệ thống cơ
quan đăng ký kinh doanh toàn quốc, thống nhất về nghiệp vụ, kinh phí hoạt động, tổ
chức biên chế, nhân sự.
- Quy định về điều kiện kinh doanh đối với các lĩnh vực chưa được quy định:
Quy định điều kiện kinh doanh (không phân biệt thành phần kinh tế) đối với các
dịch vụ đòi nợ, đánh giá tín nhiệm.
- Điều chỉnh các quy định liên quan đến triển khai hoạt động sau đăng ký
kinh doanh.
- Hoàn thiện các quy định pháp lý về giao dịch thương mại. Xây dựng Pháp
lệnh về đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm thống nhất các quy định của pháp luật về
đăng ký giao dịch bảo đảm, không phân biệt đối với động sản hay bất động sản,
nhằm tạo ra một cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về các giao dịch bảo đảm, công
khai hóa và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, đồng thời có hiệu lực đối với người
thứ ba…
- Hoàn thiện các quy định về chế độ kế toán và báo cáo tài chính. Mở rộng
phạm vi, đối tượng áp dụng chế độ kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nghiên cứu xây dựng phương pháp kế toán đơn giản áp dụng cho các doanh nghiệp
nhỏ, trình độ quản lý thấp; đơn giản hóa hệ thống tài khoản.
- Hoàn thiện các quy định liên quan đến thuế. Thu hẹp diện nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp theo phương pháp khoán để khuyến khích các đối tượng nộp thuế
khoán thực hiện đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.
Thứ hai: Tạo lập môi trường tâm lý xã hội đối với khu vực DNVVN
Cần thực hiện đúng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương Ðảng khoá
IX coi doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế
quốc dân; phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là chiến lược lâu dài trong phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa;
Một môi trường kinh doanh lành mạnh, khuyến khích doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế phát huy mọi khả năng đầu tư vốn liếng và trí tuệ kinh doanh
18
năng động, sáng tạo, cạnh tranh bình đẳng, đúng pháp luật, là nền tảng cho sự phát
triển nhanh và bền vững của nền kinh tế.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức
của chính quyền các cấp, cộng đồng dân cư đối với các DNVVN.
- Tăng cường nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền về vị trí, vai trò của
DNVVN trong phát triển kinh tế-xã hội.
- Giáo dục về văn hoá kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp và trường dạy nghề. Đưa một số chuyên đề không bắt buộc về
doanh nghiệp vào chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp và trường dạy nghề.
Thành lập Cục phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trực thuộc Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, để giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về xúc tiến phát triển DNVVN. Giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư định
hướng công tác xúc tiến doanh nghiệp nhỏ và vừa: Xây dựng hoặc tham gia xây
dựng chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về xúc tiến phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa, trình cấp có thẩm quyền ban hành; tổng hợp xây dựng các
chương trình trợ giúp, lập danh mục các đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa cụ thể
theo ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn hoạt động, nội dung trợ giúp, điều phối, hướng
dẫn và kiểm tra thực hiện các chương trình trợ giúp sau khi được duyệt.
1.2.2.2. Các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tổ chức tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ các tổ chức trợ giúp
doanh nghiệp nhỏ và vừa và bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp trong việc xúc tiến phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thực hiện hợp tác quốc tế về xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,
thông qua cân đối nguồn lực và kêu gọi nguồn vốn từ bên ngoài để trợ giúp doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để cung cấp thông tin cần thiết
cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
19
Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan xúc tiến trợ giúp doanh nghiệp
nhỏ và vừa trong việc tư vấn kỹ thuật và tiếp cận công nghệ, trang thiết bị mới,
hướng dẫn, đào tạo vận hành quản lý kỹ thuật và quản lý doanh nghiệp.
1.2.2.3. Hỗ trợ về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh
Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa để bảo lãnh cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa khi không đủ tài sản thế chấp, cầm cố, vay vốn của các tổ
chức tín dụng.
Chính phủ trợ giúp đầu tư thông qua biện pháp về tài chính, tín dụng, áp dụng
trong một thời gian nhất định đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào một
số ngành nghề, bao gồm ngành nghề truyền thống và tại các địa bàn cần khuyến
khích.
Chính phủ khuyến khích các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp và thể nhân
góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng sản xuất phù hợp chỉ đạo dành quỹ
đất và thực hiện các chính sách khuyến khích để xây dựng các khu, cụm công
nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng xây dựng tập trung cơ sở sản
xuất hoặc di dời từ nội thành, nội thị ra, bảo đảm cảnh quan môi trường.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách ưu đãi trong việc thuê
đất, chuyển nhượng, thế chấp và các quyền khác về sử dụng đất đai theo quy định
của pháp luật.
Nhờ vào chính sách này, các DNVVN đã thực hiện quy hoạch phát triển kinh
tế - xã hội và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, thành phố một cách
dễ dàng và nhanh chóng hơn.
1.2.2.4. Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực
- Chính phủ, các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân địa phương cung cấp các
thông tin cần thiết qua các ấn phẩm và qua mạng in-tơ-nét cho các doanh nghiệp
20
nhỏ và vừa, thông qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa) phối hợp với các cơ quan liên quan và các tổ chức xã hội nghề nghiệp trợ giúp
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Chính phủ trợ giúp kinh phí để tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa thông qua chương trình trợ giúp đào tạo. Kinh phí trợ giúp về
đào tạo được bố trí từ ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo.
- Chính phủ khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước trợ giúp các doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong việc cung cấp thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực.
- Chính phủ khuyến khích việc thành lập các vườn ươm doanh nghiệp nhỏ và
vừa để hướng dẫn, đào tạo doanh nhân trong bước đầu thành lập doanh nghiệp.
1.2.2.5. Hỗ trợ về tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm
- Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
chỉ đạo, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các thông tin về thị
trường, giá cả hàng hóa, trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng thị trường,
tiêu thụ sản phẩm.
- Các địa phương trợ giúp việc trưng bày, giới thiệu, quảng cáo, tiếp thị các sản
phẩm có tiềm năng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, để tạo điều kiện mở rộng thị
trường.
- Chính phủ tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cung ứng
hàng hóa và dịch vụ theo kế hoạch mua sắm bằng nguồn ngân sách nhà nước; các
Bộ, ngành và địa phương có kế hoạch ưu tiên đặt hàng và các đơn hàng theo hạn
ngạch phân bổ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất hàng hóa và dịch vụ bảo
đảm chất lượng và đáp ứng yêu cầu.
- Chính phủ khuyến khích phát triển hình thức thầu phụ công nghiệp, tăng
cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp khác về hợp
tác sản xuất sản phẩm, sản xuất linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, nhận thầu xây dựng...,
nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
21
- Thông qua các chương trình trợ giúp, Chính phủ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ, trang thiết bị, máy móc, phát triển sản phẩm
mới, hiện đại hóa quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường.
- Các Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham
gia các chương trình xuất khẩu của Nhà nước.
1.2.2.6. Hỗ trợ thành lập các hiệp hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thành lập Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trực thuộc Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, để giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thành lập Hội đồng Khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa làm
nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các thành viên của Hội đồng hoạt động kiêm nhiệm.
Thủ tướng Chính phủ quyết định chức năng, nhiệm vụ và thành viên Hội đồng theo
đề nghị của Chủ tịch Hội đồng.
1.3. Bài học kinh nghiệm về chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ từ các điển hình nghiên cứu
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước
Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hàn Quốc là một trong những hệ thống doanh
nghiệp đóng vai trò chiến lược đối với sự phát triển toàn diện của nền kinh tế. Số
lượng DNVVN chiếm khoảng 99,9% tổng số doanh nghiệp, đóng góp trên 102,9
triệu đô la Mỹ từ việc xuất khẩu và giải quyết được việc làm cho hơn 87,7% trên
tổng dân số đang ở độ tuổi lao động (theo Cơ quan quản lý DNVVN Hàn Quốc
SMBA, “SMBA – Partner of Korean SMEs” 2014). Các chính sách phát triển của
Hàn Quốc được xây dựng từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong nước khi đối
mặt với việc ngưng viện trợ từ nước ngoài, cũng như khắc phục những hạn chế của
các DNVVN.
22
Có thể khái quát toàn bộ quá tŕnh h́ nh thành các chính sách và biện pháp hỗ trợ
DNVVN của Hàn Quốc, Chính phủ tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
- Phát triển thầu phụ công nghiệp: Trước hết ban hành đạo luật khuyến khích
hệ thống hợp đồng thầu phụ để bảo vệ cho các DNVVN trong mối quan hệ với các
DN lớn. Chính phủ qui định bắt buộc các bên ký hợp đồng sản xuất và mua sản
phẩm của DNVVN phải thanh toán bằng tiền mặt ngay sau khi được giao hàng. Đối
với DN tiêu thụ sản phẩm của các DN nhỏ, sẽ được vay 50% vốn. Những DN giao
hợp đồng phụ cho các DNVVN sẽ được giảm thuế 10% nếu đầu tư vào các dự án
thử nghiệm hoặc đầu tư vào nâng cao kỹ thuật của DN thực hiện hợp đồng phụ.
- Hỗ trợ phát triển, thương mại hóa sản phẩm mới và công nghệ mới: Chính
phủ hỗ trợ tài chính cho các DNVVN sử dụng kỹ thuật hiện đại. Thành lập 3 tổ
chức tài chính khuyến khích phát minh và sáng chế công nghệ là Tổ chức hợp tác
phát triển công nghệ Hàn Quốc, Tổ chức hợp tác đầu tư phát triển và Tổ chức hợp
tác tài chính công nghệ, bảo đảm cho các tổ chức này nhận được 70% vốn vay của
ngân hàng để làm dịch vụ hỗ trợ.
- Hỗ trợ phát triển thị trường: Nhà nước hỗ trợ thị trường bằng cách công bố
những mặt hàng độc quyền sản xuất dành riêng cho DNVVN. Số lượng các mặt
hàng này tăng dần từ 103 lên đến 205 vào tháng 12/1984.
- Các biện pháp hỗ trợ vốn, tín dụng, thuế: Thông qua chính sách cho vay,
ngân hàng phải dành 35% toàn bộ vốn vay của mình cho các DNVVN; đối với ngân
hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính bảo hiểm là 25% và 75% đối với các ngân
hàng địa phương.
- Thông qua quỹ bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện cho DNVVN vay với lãi suất
ưu đãi là 1%, so với 1,5% của các DN lớn trong hạn mức 1 tỷ Won.
Kinh nghiệm của Đài Loan
Sự tăng trưởng kinh tế siêu tốc của Đài Loan trong những thập kỷ vừa qua gắn
liền với những đóng góp to lớn về mọi mặt của DNVVN, đặc biệt trong lĩnh vực
việc làm và xuất khẩu.
23
Với vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, các DNVVN ở Đài Loan luôn được
sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước để phát triển. Các cơ quan, tổ chức hỗ trợ phát
triển được thành lập như: Thiết lập các cơ cấu chuyên trách để thúc đẩy sự phát
triển của DNVVN (1954); thành lập các ngân hàng chuyên nghiệp cung cấp vốn và
tín dụng cho các DNVVN (1964); Thành lập Bộ kinh tế các DNVVN (1970); Thành
lập trung tâm dịch vụ DNVVN ở các địa phương, Trung tâm giải pháp nhanh,
Trung tâm đào tạo DNVVN…
Đến nay, Đài Loan đã hình thành được một hệ thống chính sách và biện pháp
trợ giúp DNVVN tương đối ổn định và có tính thống nhất cao. Hệ thống này đã
được thể chế hóa bởi văn bản Đại cương các chính sách và biện pháp nhằm vào các
DNVVN do Cục quản lý DNVVN phát hành. Theo văn bản này, khuôn khổ chính
sách và biện pháp trợ giúp DNVVN của Đài Loan tập trung vào ba nhóm lớn, đó là:
Xây dựng môi trường kinh doanh tối ưu: Duy trì sự cạnh tranh công bằng
hợp lý, cải thiện hệ thống tài chính, giúp DNVVN cải thiện điều kiện lao động và
môi trường…
Thúc đẩy sự hợp tác giữa các DNVVN và giữa các DNVVN với các DN lớn.
Thúc đẩy sự tăng trưởng độc lập của DN: Trợ giúp các DN tối ưu hóa
quản lý, thành lập DN mới, thúc đẩy các hãng hoạt động ở nước ngoài…
Mỗi chính sách lớn trên đều được thực hiện bởi nhiều biện pháp cụ thể. Một
số biện pháp nổi bật đang được Chính phủ Đài loan thực hiện để trợ giúp các
DNVVN hiện hành là:
Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý trợ giúp cho sự phát triển của các
DNVVN, thành lập Nhóm đặc trách thúc đẩy DNVVN có chức năng soát xét và
kiến nghị sửa đổi luật lệ để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các DNVVN.
Thành lập các quỹ trợ giúp tài chính cho các DNVVN gồm: Quỹ bảo lãnh
tín dụng cho DNVVN, Quỹ bảo lãnh tương hỗ, Quỹ phát triển DNVVN và tập đoàn
phát triển DNVVN. Ngoài ra các DNVVN còn được nhận các khoản vay đặc biệt
nhằm vào các mục đích như giảm ô nhiểm, giảm chi phí hoạt động… thông qua
nhiều quỹ đặc biệt của Chính phủ.
24
Hình thành hệ thống tư vấn cho các DNVVN, bao gồm: Hệ thống hướng
dẫn tài chính và tín dụng, hệ thống hướng dẫn quản lý.
1.3.2. Kinh nghiệm của các địa phương
Thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng và Bình Dương là 2 địa phương có tốc độ tăng trưởng về kinh tế - xã
hội vượt bậc trong những năm trở lại đây nhờ chính sách hỗ trợ đối với DNVVN.
Riêng tại Đà Nẵng, số lượng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng phát
triển tăng thêm bình quân trên 10%/năm; năm 2019 đã có gần 22.032 doanh nghiệp,
tổng vốn đăng kí là 129.297 tỷ đồng, giải quyết việc làm bình quân hàng năm trên
31 nghìn người, tổng vốn đầu tư từ khu vực doanh nghiệp chiếm 65%÷70% tổng
vốn đầu tư trên địa bàn thành phố.
Để DNVVN phát triển và khẳng định vị trí trong nền kinh tế, theo tinh thần
Nghị quyết của BCHTW khoá IX – Thành phố Đà Nẵng đã triển khai một số giải
pháp cụ thể sau:
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển kinh tế trên địa bàn
hàng năm; xác định chỉ tiêu hướng dẫn về sản xuất, dịch vụ, xuất nhập khẩu, giải
quyết việc làm, nộp ngân sách cho các ngành khu vực và các giải pháp hỗ trợ.
- Cải thiện môi trường phát triển thuận lợi về tâm lý cho DN, thực hiện bình đẳng,
xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp. Tổ chức
các cuộc gặp gỡ, tọa đàm, đối thoại giữa lãnh đạo thành phố và các doanh nghiệp.
- Tạo cơ hội và khả năng cho các DNVVN tiếp cận các nguồn vốn tín dụng.
Đà Nẵng còn thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN, đơn giản hoá thủ tục
hành chính trong các quan hệ tín dụng đối với các DN.
- Hỗ trợ đào tạo nghề: Thành phố hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo bồi dưỡng,
nâng cao trình độ cán bộ quản lý DN, cán bộ kế toán, thống kê cho các DN. Hỗ trợ các
làng nghề truyền thống, nghệ nhân, thợ cả trong đào tạo nghề.
- Hỗ trợ về tài chính và thuế. Công khai và tạo điều kiện để các DN được
hưởng các ưu đãi của Chính phủ như vay vốn, hỗ trợ lãi xuất, hỗ trợ xuất khẩu, hỗ
trợ phát triển thị trường.
25
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với DNVVN. Đảm bảo cho DN kinh
doanh đúng pháp luật, hướng dẫn theo dõi hoạt động của DN đúng nội dung đăng
ký kinh doanh, giải quyết hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết những khó
khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.
Tỉnh Bình Dương:
Trong những năm gần đây, Tỉnh Bình Dương có sự tăng trưởng kinh tế cao
vào loại bậc nhất của cả nước. Những thành tựu Bình Dương đạt được là nhờ sự
đóng góp đáng kể của loại hình DNVVN
Từ những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế
nhiều thành phần, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Bình Dương đã có nhiều chủ trương và
chính sách thông thoáng nhằm phát huy nội lực, thu hút ngoại lực để phục vụ chiến
lược phát triển của tỉnh với khẩu hiệu: Trải thảm đỏ mời khách đầu tư, tiến hành cải
cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, tập trung đầu mối xét và cấp giấy
phép đầu tư do Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện với thủ tục nhanh, gọn, tạo điều
kiện thuận lợi để các DN được tiếp xúc dễ dàng với lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, để
trình bày các khó khăn trong quá trình đầu tư và nhờ đó khó khăn được tháo gỡ kịp
thời. Do đó, DNVVN ở Bình Dương có những đóng góp nổi bật sau:
Đã phát huy tiềm năng về đất đai, lao động, ngành nghề truyền thống và
nguồn vốn trong dân để phát triển kinh tế của tỉnh, tạo việc làm cho trên 100.000
lao động.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng CNH, HĐH đóng
góp lớn vào tăng trưởng kinh tế và ngân sách của tỉnh Bình Dương.
Từ những quan điểm chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần của tỉnh,
các sở, ban, ngành đã cụ thể hoá nội dung quản lý của mình để thực hiện các biện
pháp hỗ trợ phát triển DNVVN thông quan các chính sách đất đai, tín dụng, khoa
học - công nghệ,…
26
1.3.3. Bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm hỗ trợ DNVVN của các nước và các địa
phương, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ DNVVN ở
Việt Nam:
Chiến lược phát triển DNVVN phải gắn liền với chiến lược phát triển KT-XH:
Kinh nghiệm phát triển DNVVN của một số nước Đài Loan, Hàn Quốc cho
thấy chính sách phát triển DNVVN có thành công hay không tùy thuộc rất lớn vào
sự phù hợp của nó với chính sách phát triển KT-XH chung của đất nước. Việc coi
chiến lược phát triển DNVVN là một bộ phận của chiến lược phát triển KT-XH,
không chỉ dừng lại ở việc thực hiện các mục tiêu mà còn ở việc cùng khai thác và
sử dụng có hiệu quả nguồn lực hiện có của đất nước.
Xác định các nhóm ngành ưu tiên phát triển:
Kinh nghiệm phát triển DNVVN của các nước cho thấy rõ các nhóm ngành
cần ưu tiên phát triển đặc biệt chú trọng đến các ngành công nghiệp có định hướng
xuất khẩu. Hiện nay chính sách phát triển chung của Việt Nam là khuyến khích xuất
khẩu. Các ngành nghề truyền thống của Việt Nam góp phần không nhỏ trong việc
gia tăng giá trị xuất khẩu.
Bảo đảm sự bình đẳng cho các DNVVN, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa
các DNVVN với các DN lớn:
Các DNVVN luôn có mối quan hệ hợp tác với DN lớn chứ không phải mối
qua hệ cạnh tranh chia nhau một nguồn lực có giới hạn của nền kinh tế. Có nhiều
lĩnh vực mà DN lớn không thể vươn ra và hoạt động có hiệu quả nếu không có
mạng lưới vệ tinh là các DNVVN đặc biệt là các mảng thị trường ngách trong nền
kinh tế.
Cơ chế và hệ thống quản lý thống nhất:
DNVVN muốn phát triển phải có được hệ thống cơ chế quản lý thống nhất
giữa các ngành và địa phương. Một số nước có những cơ quan quản lý chuyên trách
của Chính phủ đối với DNVVN cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất
27
nước và phù hợp với chính sách chiến lược phát triển KT-XH chung của đất nước.
Các cơ quan này là người đại diện về mặt pháp lý bảo vệ quyền lợi của DNVVN.
Tăng cường năng lực nội tại của DN:
Các chính sách phát triển DNVVN ở các nước không chỉ tập trung vào việc
tạo ra các điều kiện và cơ hội thuận lợi cho DNVVN mà còn tập trung vào việc tăng
năng lực nội tại của bản thân DN.
28
Tóm tắt chương 1
Ở chương 1, luận văn đã hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về chính sách hỗ
trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thông qua việc nghiên cứu khái niệm, đặc
điểm, sự cần thiết của doanh nghiệp vừa và nhỏ, khái niệm và nội dung chính sách
hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cụ thể nội dung nghiên cứu chính sách
hỗ trợ phát triển DNVVN bao gồm: Tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa, các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ về tài
chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh, hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ về
tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ thành lập các hiệp hội của doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với sự nghiên cứu phát triển năng động DNVVN ở một số
quốc gia và địa phương như Hàn Quốc, Đài Loan, Đà Nẵng, Bình Dương để đưa ra
những bài học kinh nghiệm cho tỉnh Phú Thọ.
29
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
2.1. Giới thiệu khái lược về tỉnh Phú Thọ
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc của Việt Nam, có vị trí trung
tâm vùng và là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội. Tỉnh Phú Thọ nằm trên
trục hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh (Trung Quốc), phía Đông
giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Tây tiếp giáp thành phố Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hoà
Bình, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và tỉnh Tuyên Quang. Phú Thọ cách sân bay quốc
tế Nội Bài 50km, cách Trung tâm thành phố Hà Nội 80km, cách cảng Hải Phòng
170km, cách cửa khẩu quốc tế Hà Khẩu (giữa Lào Cai - Việt Nam và Vân Nam -
Trung Quốc) và cửa khẩu Thanh Thủy - Lạng Sơn 200km và là nơi hợp lưu của ba
con sông lớn: sông Hồng, sông Đà và sông Lô.
Vị trí địa lý của Phú Thọ đã tạo cho tỉnh Phú Thọ có nhiều điều kiện thuận lợi
và tiềm năng to lớn để sản xuất kinh doanh, giao lưu, phát triển kinh tế với cả trong
nước và ngoài nước.
Phú Thọ còn là mảnh đất cội nguồn, vùng đất tổ của dân tộc Việt Nam. Tại
đây có đền thờ các Vua Hùng và hệ thống di tích lịch sử, lễ hội dày đặc, mỗi lễ hội
có một sắc thái riêng đặc sắc và độc đáo, là tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch,
dịch vụ.
Đặc điểm địa hình:
Phú Thọ là tỉnh miền núi nên có đặc điểm địa hình chia cắt tương đối mạnh
do nằm cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi
thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Địa hình Phú Thọ
được chia làm 2 tiểu vùng:
- Tiểu vùng miền núi (gồm các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa và một
phần của huyện Cẩm Khê).
30
- Tiểu vùng trung du, đồng bằng (gồm thành phố Việt Trì, thị xă Phú Thọ,
huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh, huyện Thanh Thủy, huyện Tam Nông, huyện
Đoan Hùng và phần còn lại của huyện Cẩm Khê, huyện Hạ Hòa).
Tóm lại, với địa hình đa dạng, vừa có miền núi, vừa có trung du và đồng bằng
ven sông, đã tạo ra nguồn đất đai đa dạng, phong phú để phát triển DNVVN. Tuy
nhiên do địa hình chia cắt, mức độ cao thấp khác nhau nên việc đầu tư khai thác
tiềm năng, phát triển sản xuất, phát triển hạ tầng để phát triển DNVVN phải đầu tư
tốn kém, nhất là giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước.
Đặc điểm khí hậu:
Phú Thọ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm
khoảng 23°C, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.700 mm, độ ẩm trung bình
năm khoảng 86%; có 2 tiểu vùng chủ yếu gồm:
+ Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của tỉnh, chủ yếu thuộc các huyện
Thanh Sơn, huyện Yên Lập, phía Tây huyện Cẩm Khê…..là vùng có nhiều tiềm
năng phát triển về lâm nghiệp, khai thác khoáng sản.
+ Tiểu vùng đồi gò thấp, xen kẽ đồng ruộng, dải đồng bằng ven các triền sông
Hồng. sông Lô và Sông Đà.
Đất đai và nguồn nước
Tổng diện tích đất của tỉnh Phú Thọ là 3.532 km2, trong đó diện tích đất nông
nghiệp: 97.610 ha, đất rừng là 195.000 ha với 64.064 ha rừng tự nhiên, đất mặt
nước nuôi trồng thủy sản là 10.000 ha, các loại đất khác là 19.299 ha.
Tiềm năng về đất đai của Phú Thọ còn rất lớn, đất chưa sử dụng chiếm tới
hơn 30% diện tích tự nhiên.
Vùng đất đồi trung du thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây màu
lương thực và cây ăn quả - và đây cũng là một thế mạnh của tỉnh.
Nguồn nước cho sản xuất và đời sống dân cư trên lãnh thổ khá dồi dào với
lưu lượng nước của 3 con sông lớn (sông Hồng, sông Đà, sông Lô) cùng hàng trăm
suối, đầm ao lớn nhỏ chứa một lượng nước khá lớn thuận lợi cho sản xuất và tiêu
dùng.
Tài nguyên khoáng sản
31
Phú Thọ có trữ lượng về đá xây dựng, cao lanh đủ để phát triển ngành công
nghiệp vật liệu xây dựng. Khai thác tốt lợi thế này sẽ giúp tỉnh chủ động trong xây
dựng, tăng nguồn thu và nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ đó thúc đẩy
phát triển DNVVN nói riêng cũng như kinh tế xã hội của tỉnh nói chung phát triển.
Tài nguyên rừng
Phú Thọ là tỉnh miền núi - trung du, diện tích đất đồi rừng chiếm tới 60% diện
tích tự nhiên. Nhìn chung rừng ở tỉnh này không phải là rừng giàu, ngoài vùng rừng
nguyên sinh Xuân Sơn và những vùng xung quanh, rừng còn lại không có giá trị
cao, chủ yếu là khai thác làm nguyên liệu giấy. Đó cũng là thế mạnh của tỉnh và
hướng tới tập trung cho phát triển nguyên liệu giấy.
2.1.2. Về kinh tế xã hội
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của Phú Thọ giai đoạn 2017-
2019
Những chỉ tiêu chủ yếu
Thực hiện hết năm 2019
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân/năm GRDP bình quân đầu người (triệu đồng) GDP/người tăng so với năm 2015 Cơ cấu kinh tế: + Nông, lâm, thủy sản + Công nghiệp – xây dựng + Dịch vụ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng Giảm tỷ lệ hộ nghèo Giải quyết việc làm So với mục tiêu (%) 100 101.9 102 85,6 94,7 94,3 110,4 109,3 200 181,1
Tỷ lệ lao động qua đào tạo Số trạm y tế xã có bác sỹ Mục tiêu giai đoạn 2015 - 2019 9,5 - 10% 35,5 1,5 - 1,6 lần 24,5% 39,8% 35,7% Dưới 1,16% Dưới 14% Dưới 1,7% 61-62 nghìn người 60-61% 100% 9,79% 36,2 1,53 lần 28,7% 37,6% 33,7% 1,05 % 12,8% 3,08% 74,2 nghìn người 64% 100% 106,7 100
Nguồn: QH tổng thể phát triển KT-XH Phú Thọ giai đoạn 2015÷2020
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015÷2019 trung bình đạt
9,79%, cao hơn mức trung bình của vùng trung du miền núi phía Bắc và cả nước.
32
Quy mô GDP theo giá thực tế là năm 2019 ước đạt 35.634,5 tỷ đồng, GDP bình
quân đầu người năm 2019 đạt 35 triệu đồng/người/năm.
Khi xem xét nền kinh tế chỉ bao gồm các ngành nông, lâm, thủy sản, xây
dựng, công nghiệp và dịch vụ thì cơ cấu ngành kinh tế có sự thay đổi theo từng năm
có thể thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn
2015÷2019 còn chậm.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Phú Thọ đã tiến bộ vượt bậc,
thể hiện ở việc chuyển từ nhóm PCI thấp năm 2005 sang nhóm PCI trung bình trong
giai ðoạn 2006÷2009 và nhóm PCI khá năm 2010. Đó là kết quả của việc chất lượng
điều hành kinh tế để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tuy nhiên, sự thay đổi này rất ít dù đã có đến hơn 2/3 điểm số của các tiêu chí được cải
thiện, song mức độ thay đổi là không nhiều, sự tiến bộ còn chưa tương xứng với
thực tế.
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) Phú Thọ so với
vùng miền núi phía Bắc và cả nước (Theo giá so sánh)
Đơn vị tính: %
Giai đoạn Chỉ tiêu Phú Thọ Cả nước
2010-2015 Toàn nền kinh tế
Trong đó: 1.Công nghiệp - xây dựng 2. Nông lâm thủy sản 3. Dịch vụ
2015-2019 Toàn nền kinh tế
Trong đó: 1.Công nghiệp - xây dựng 2. Nông lâm thủy sản 3. Dịch vụ 7,16 10,5 3,8 7,0 7,83 11,4 3,4 7,1 Vùng miền núi phía Bắc 5,6 6,73 3,45 4,20 7,6 8,6 4,7 6,3 6,7 10,9 4,6 5,3 7,02 10,3 3,6 7,0 Nguồn: QH tổng thể phát triển KT-XH Phú Thọ 2010÷2019
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Phú Thọ gia tăng liên tục qua các năm. Nếu
như giai đoạn 2010÷2015 tốc độ tăng trưởng là 7,16%, cao gấp 1,07 lần so với bình
quân cả nước; thì đến giai đoạn 2015÷2019 tốc độ tăng trưởng bình quân đã là
7,83%, gấp 1,12 lần so với bình quân cả nước.
33
Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phú Thọ
theo ngành giai đoạn 2015÷2019 (Giá thực tế)
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu 2015 2016 2017 2018 2019
Toàn nền kinh tế Tỉnh 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
1. CN-XD 37,4 38,1 36,9 38,1 40,0
2.Nông lâm thủy sản 29,3 29,1 29,8 28,2 26,0
3. Dịch vụ 33,3 32,8 33,3 33,7 34,0
Nguồn: Sở KH & ĐT Phú Thọ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế: Tỷ trọng khu vực kinh tế
Nhà nước giảm dần từ 2015÷2019 nhưng vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế. Tỷ trọng khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng dần, đặc biệt là khu vực kinh tế có
vốn đầu tư nhà nước tăng khá mạnh.
Bảng 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phú Thọ
theo thành phần kinh tế giai đoạn 2015÷2019 (Giá thực tế)
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu 2015 2016 2017 2018 2019
Toàn nền kinh tế Tỉnh 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
1. Khu vực Nhà nước 41,6 40,7 40,3 39,4 36,6
2. Khu vực ngoài Nhà nước 48,4 50,7 50,1 50,2 51,6
3. Khu vực có vốn ĐTNN 10,0 8,6 9,6 10,4 11,8
Nguồn: Sở KH & ĐT Phú Thọ
Hiện trạng dân số, lao động và sự chuyển dịch cơ cấu lao động:
34
Bảng 2.5 Dân số, lao động và sự chuyển dịch cơ cấu lao động năm 2015, 2019
ĐVT: Số lượng: nghìn người, cơ cấu: %
2015 2019 Tốc
Số Cơ Số Cơ độ
STT Hạng mục lượng cấu lượng cấu tăng
I Dân số 1370 100 1620 100 0.77
Thành thị 182.62 14.19 293,22 18,10 3.35
Nông thôn 1104.32 85.81 1326,78 81,9 0.32
II Mật độ dân số (người/km2) 388 373 0.75
III Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1.07 9.77 73.83
IV Nguồn lao động 912 1152 1.54
LĐ làm việc trong các 804 100,00 1032 100,00 1,28 1 ngành KT
50,62 407 482 46,71 1,18 Nông - lâm - thuỷ sản
36,32 292 367 35,56 1,26 Công nghiệp - xây dựng
25,80 105 183 37,97 1,74 Dịch vụ - Thương mại
61 74 1,21 2 Học sinh trong độ tuổi LĐ
LĐ trong độ tuổi làm nội trợ và 0,98 47 44,76 46 3 chưa có việc làm
Nguồn: QH tổng thể phát triển KTXH Phú Thọ 2015÷2019
Trình độ học vấn: Trình độ học vấn của dân cư Phú Thọ hiện nay vào loại khá
so với vùng Đông Bắc. Số người chưa biết chữ chỉ chiếm 0,5% so với tổng số dân
toàn tỉnh. Tỉnh có 2 trường Đại học, 2 trường Cao đẳng, 4 trường trung học chuyên
nghiệp, 27 trường, trung tâm và cơ cở dạy nghề, 600 trường phổ thông các cấp, bình
quân 2.310 học sinh/vạn dân.
Chuyển dịch cơ cấu lao động
Trong những năm qua, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động của tỉnh đã có sự chuyển dịch tiến bộ theo hướng giảm tỷ trọng lao động
trong ngành nông - lâm - thủy sản (từ 50,62% năm 2015 xuống còn 46,71% năm
35
2019), giảm tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng (từ 36,32% năm 2015 lên
35,56% năm 2019), lao động dịch vụ - thương mại tăng (từ 25,8% năm 2015 lên
37,97% năm 2019).
Lao động ở nông thôn hiện nay đang thiếu việc làm. Theo kết quả thống kê
của Bộ Lao động - thương binh và xã hội, hàng năm tỉnh Phú Thọ vẫn còn khoảng
23÷25 nghìn lao động không có việc làm (chiếm 2,93% tổng số người trong độ tuổi
lao động của tỉnh). Do đó, tạo việc làm cho lao động nông thôn là một trong những
vấn đề đang được quan tâm hiện nay trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh.
Hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu.
Hạ tầng giao thông: Tổng chiều dài hệ thống đường bộ của tỉnh có gần 10.000
km, 320 km đường sông, gần 100 km đường sắt. Đã đảm bảo 100% số xã có đường
ôtô vào đến trung tâm.
Hạ tầng cấp điện: Hiện tại hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp
các loại đang từng bước được cải tạo, nâng cấp, thay thế và xây dựng mới. Hết năm
2003, 100% số xã đã có điện lưới quốc gia, điện năng cung cấp đạt trên
500KWh/người/năm, tăng 31,9% so với năm 2000.
Hạ tầng thông tin liên lạc: Hạ tầng thông tin liên lạc phát triển tương đối nhanh.
Hạ tầng dịch vụ: Mạng lưới thương mại và dịch vụ tổng hợp đã phát triển
rộng khắp đến các huyện, thị, thành và các xã trong tỉnh. Việc trao đổi, mua bán
hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống được kịp thời, các dịch vụ sửa chữa công cụ,
dụng cụ sản xuất, dân dụng rất thuận tiện. Hệ thống khách sạn, nhà hàng, điểm du
lịch ngày càng phát triển.
Hạ tầng đô thị và các khu công nghiệp: Hạ tầng đô thị thành phố Việt Trì đã
được đầu tư phát triển khá về hệ thống giao thông, điện, nước, vệ sinh môi trường,
các công trình văn hóa, thể thao… cơ bản đáp ứng và phục vụ tốt đời sống nhân
dân. Hạ tầng các huyện, thị xã, thị trấn cũng được đầu tư phát triển. Hạ tầng các khu
công nghiệp được đầu tư ngày càng hoàn thiện, phục vụ một cách tốt nhất hoạt động
sản xuất công nghiệp trên địa bàn Tỉnh.
Hạ tầng giáo dục - y tế:
36
Về giáo dục - đào tạo: Có 295 trường mầm non, 293 trường tiểu học, 2 trường
Đại học, 2 trường Cao đẳng, 4 trường trung học chuyên nghiệp, 27 trường, trung
tâm và cơ cở dạy nghề, 600 trường phổ thông các cấp. Số phòng học được kiên cố
hóa, đạt 94,3%.
Về y tế: Có 23 bệnh viện, 12 trung tâm y tế huyện và 273 trạm y tế xã
phường, thị trấn với 1.528 giường bệnh, 70% trạm y tế được xây dựng kiên cố, 55%
trạm y tế có bác sỹ đa khoa, 100% trạm có y sỹ sản khoa và nữ hộ sinh. Nhưng việc
kết hợp giữa đông y, tây y còn hạn chế.
Hạ tầng cấp thoát nước và thủy lợi: Hệ thống hạ tầng cấp thoát nước, hệ thống
thủy lợi đã và đang được đẩy mạnh đầu tư, đặc biệt là hệ thống thủy lợi phục vụ sản
xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
2.2. Sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh
2.2.1 Số lượng và quy mô
Thực tế trong những năm qua, sự phát triển vượt bậc kể cả về số lượng và
chất lượng của các DNVVN đã góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng cũng
như ngân sách, tạo việc làm, tăng thu nhập cá nhân, góp phần đáng kể trong việc
huy động vốn đầu tư trong dân cho phát triển kinh tế- xã hội.
Theo kết quả điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của cục thống kê tỉnh,
hiện tỉnh Phú Thọ có trên 2.213 cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút 68.316 lao động.
Bảng 2.6 Số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh và việc làm tại Phú Thọ năm 2019
Phú Thọ, 2019 DNVVN DN lớn
Số lượng DN Siêu nhỏ Nhỏ Vừa
Số lượng cơ sở SXKD 4320,00 2300,00 880,00 50,00
Tỉ lệ % trên tổng số Cơ sở 54,68 30,67 11,73 0,67
Số lượng lao động (nghìn 306086,00 662886,00 111836,00 71192,00 người)
Tỉ lệ % trên tổng LĐ 57,54 9,71 6,18 26,57
Quy mô trung bình 1Cơ sở 288,21 127,09 1423,84 70,85
Theo nguồn sở KH&ĐT Phú Thọ
37
Tại Phú Thọ, doanh nghiệp tư nhân phát triển cả chất lượng và số lượng, năm
2019 cả tỉnh có trên 7.900 doanh nghiệp, trong đó số doanh nghiệp vừa và nhỏ lên
tới 7.500, chiếm 95%. Số doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2019 là 700, số
lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là 650 doanh nghiệp.
Kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực (1/1/2000) số lượng các doanh
nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh đăng ký thành lập mới đã tăng nhanh chóng.
Bảng 2.7 Số lượng đăng ký kinh doanh mới qua các năm
Tổng số DNTN Công ty TNHH Công ty cổ phần Năm
2015 404 103 167 134
2016 510 137 214 159
2017 645 185 359 101
2018 757 183 414 160
2019 710 190 422 98
Nguồn Niên giám Thống kê tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015 - 2019
Theo tiêu chí phân loại dựa vào tổng giá trị vốn, trong tổng số 710 doanh
nghiệp trong cuộc điều tra các cơ sở kinh tế trên phạm vi tỉnh có tới 620 là doanh
nghiệp là các DNVVN. Trong đó số lượng doanh nghiệp Công ty TNHH có tỷ lệ
cao hơn DNTN và Công ty cổ phần.
Số DNVVN theo quy mô nguồn vốn
Tổng vốn đăng ký mới giai đoạn 2000÷2007 cao gấp 16,68 lần so với 10 năm
trước đây 1990÷2000.
Bảng 2.8 Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Năm Tổng số DN Theo quy mô vốn( Tỷ đồng)
Dưới 1 Từ 1-5 Từ 5-10
2015 2016 2017 2018 2019 3340 4308 5136 6590 7900 890 1268 1660 2579 2680 660 500 496 982 1141 1790 2540 2980 3029 4079
Nguồn cục thống kê Tỉnh Phú Thọ
38
Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng đầu tư toàn tỉnh
đã tăng từ 32% năm 2015 lên 34% năm 2018 và năm 2019 là 41%. Vốn đầu tư thực
hiện của doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh đã lớn hơn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào tỉnh. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp khu vực DNVVN được thực hiện
ở gần như tất cả các huyện, thị xã, thành phố với nhiều điều kiện khác nhau.
Bảng 2.9 Quy mô vốn bình quân trên một doanh nghiệp
Loại hình doanh nghiệp Qui mô vốn đầu tư / bình quân 1 DN Số
(Triệu đồng) TT
1 Doanh nghiệp tư nhân 754,3 triệu đồng/1 doanh nghiệp
2 Công ty TNHH 2.96 tỷ/1 công ty
3 Công ty cổ phần 5,2 tỷ đồng/1công ty
Theo số liệu sở KH&ĐT Tỉnh Phú Thọ
Với quy mô vốn bình quân trong doanh nghiệp thời điểm (năm 2017) là 4.581,0
triệu đồng/1 doanh nghiệp. Nếu so sánh với quy mô vốn doanh nghiệp trong giai đoạn
2000 – 2010 đã tăng khoảng gần 10 lần. Tuy nhiên vốn đầu tư vào các loại hình doanh
nghiệp cũng khác nhau, qua biểu ta thấy sự thu hút vốn tốt nhất là Công ty cổ phần,
Công ty TNHH và điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan.
2.2.2 Kết cấu vốn doanh nghiệp theo mỗi loại hình doanh nghiệp
Trong một doanh nghiệp có hai nguồn vốn cơ bản là: Vốn cố định là giá trị
đầu tư dài hạn, tài sản cố định theo giá trị còn lại và vốn lưu động là giá trị đầu tư
tài chính ngắn hạn và tài sản lưu động.
Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn song nguồn vốn trong các
cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ không ngừng tăng lên. Theo số
liệu thống kê tỉnh:
Đầu năm 2019, nguồn vốn doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc doanh nghiệp nhà
nước đạt 6.619,564 tỷ đồng, bình quân 128.154 triệu đồng/1 doanh nghiệp, trong đó
vốn chủ sở hữu 1.917.856 triệu đồng, vốn tự có là 48.431 triệu đồng.
39
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có tổng nguồn vốn đạt 4.690.800 triệu đồng,
bình quân 4.823,7 triệu đồng/ 1 doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu đạt 1.821.846 triệu
đồng, vốn tự có là 419.774 triệu đồng.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tổng nguồn vốn là 3.293.790
triệu đồng, bình quân 113.965,9 triệu đồng/ doanh nghiệp, trong đó vốn chủ sở hữu
là 1.726.918 triệu đồng, vốn tự có 201,14 triệu đồng.
Qua cuộc khảo sát của chi cục thuế tỉnh tại các đơn vị kinh doanh trên địa bàn
cho thấy 38% vốn kinh doanh là đi vay (trong đó vay vốn tín dụng đầu tư của nhà
nước của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài lần lượt là: 55.892 triệu đồng, 235.248 triệu đồng, 258.957
triệu đồng, vay từ ngân hàng thương mại và các nguồn khác lần lượt là: 45.410 triệu
đồng, 215.340 triệu đồng, 65.200 triệu đồng hay vay nhà nước chiếm 8%, vay ngân
hàng thương mại và các nguồn khác chiếm 30%).
2.2.3 Kết cấu, ngành nghề kinh doanh
Các DNVVN của tỉnh bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã,
doanh nghiệp và công ty tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo
số liệu của phòng đăng ký kinh doanh, năm 2019 có 125 doanh nghiệp nhà nước có
quy mô nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ 70% số doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã có 22
doanh nghiệp chiếm tới 100% hợp tác xã của tỉnh, doanh nghiệp tư nhân có 1.440
doanh nghiệp chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn có 3.760 chiếm tới 87% tổng số công ty trách nhiệm hữu hạn, có 67 doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 77% tổng số doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài có quy mô nhỏ và vừa.
2.2.4 Tình hình sử dụng lao động và trả lương lao động
Theo số liệu điều tra của Cục Thống kê tỉnh thì tỉ lệ lao động qua đào tạo
những năm gần đây: Năm 2019 tỉ lệ lao động qua đào tạo là 64%. Tuy nhiên nguồn
nhân lực nhìn chung còn thấp, cơ cấu trình độ ngành nghề chưa phù hợp. Điều này
đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và
vừa, cụ thể:
40
- Hàng năm tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt 16,8%, tỷ lệ cán bộ khoa
học kỹ thuật chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong dân số chỉ đạt khoảng 1,3% trong cả nước tỷ
lệ này chiếm khoảng 2,1%.
- Cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Tỷ
lệ công nhân lành nghề, công nhân có kỹ thuật cao còn quá thấp.
- Tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 79,6%
tổng lao động, nhưng chỉ chiếm 5,3% số cán bộ khoa học, kỹ thuật của tỉnh. Số
được đào tạo rất ít, chủ yếu là lao động giản đơn.
Bảng 2.10 Số người đã qua đào tạo (năm 2019)
STT Trình độ chuyên môn Tổng số Tỷ lệ % so ĐVT: người
với người
hoạt động
kinh tế
Tổng số 737.280 64%
1 Công nhân kỹ thuật có bằng, 282.261,00 24,50
chứng chỉ
2 Công nhân kỹ thuật không 233.642,00 20,28
bằng, chứng chỉ
3 95.987,00 8,33 Trung cấp
4 Đại học, Cao đẳng, trên Đại 125.390,00 10,88
học
Nguồn: Cục Thống kê Tỉnh Phú Thọ
Bên cạnh đó, thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
trên địa bàn tỉnh cũng tăng lên đáng kể trong thời gian qua. Tiền công trung bình
của người lao động tăng 13,8% năm 2016 và năm 2019 là 9,1%.
41
Bảng 2.11 Tình hình trả lương lao động phân theo quy mô lao động
Lương trả cho Tổng số <6 6-9 9-49 50-300 >300
người lao động
Số lượng việc làm 737280 78075 45640 80830 107283 425452
(người)
Số lao động bình 3.1 1.5 7.1 19.0 112.2 523.3
quân một cơ sở
Lương bình quân
một người lao 5,5 4,1 4,2 4,5 6,5 8,2
động
Nguồn: Thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2006
Qua bảng trên ta thấy, số lao động bình quân một doanh nghiệp là 5,5 triệu
đồng/ người. Mức lao động bình quân một doanh nghiệp như vậy là khá. Trong đó
loại doanh nghiệp siêu nhỏ có trung bình 1.5 người, doanh nghiệp nhỏ có 19 người,
doanh nghiệp vừa có 113 người. Theo số liệu thống kê tỉnh, lương trung bình của
người lao động ngày một tăng. Tiền lương bình quân khu vực xây dựng là cao nhất
(4,1÷8,2 triệu/người/tháng). Đây là mức lương phù hợp với điều kiện mặt bằng
chung ở tỉnh Phú Thọ hiện nay.
2.2.5 Về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh
Năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá
dựa trên các mặt như: Trình độ công nghệ sản xuất, tài sản và vốn của doanh
nghiệp, công tác tổ chức sản xuất và hợp tác sản xuất, các yếu tố đầu vào, nguyên
nhiên vật liệu, chi phí, thị phần, hoạt động xúc tiến marketing và đầu ra của doanh
nghiệp, giá trị gia tăng của sản phẩm, lợi nhuận của doanh nghiệp…
42
Bảng 2.12 Mức trang bị vốn trung bình của DNVVN năm 2019
Chỉ tiêu
Số doanh nghiệp VVN 7.500 293 DNVVN theo khu vực kinh tế DNNQD 3.102 35 DNVNG 4.273 432 DNNN 125 412
14.604.154 6.619.564 4.690.800 3.293.790 số vốn
6.599.256 132.391 2.231.5 54.896.5
doanh (Triệu
6.567.8 60.406 2.357.3 72.259.1
Số doanh nghiệp LĐBQ1DN Số (Người) Tổng (Triệu đồng) Vốn/ nghiệp đồng) Tài sản cố định BQ/1DN (Triệu đồng) TSCĐ/LĐ (%) 123.73 162.705 80.2 179.99 Nguồn: Tính toán theo số liệu cục thống kê tỉnh năm 2019
Trong DNVVN của tỉnh, hệ số trang bị tài sản cố định cho một lao động là
124 triệu đồng. Hệ số trang bị vốn cố định của DNVVN nhà nước là 108.633 triệu
đồng, khu vực ngoài quốc doanh là 80.2 triệu đồng, khu vực có vốn đầu nước ngoài
là 179.99 triệu đồng. Như vậy mức trang bị tài sản cố định cho một lao động trong
các DNVVN khu vực ngoài quốc doanh là khá thấp.
So với các doanh nghiệp nước ngoài thì các doanh nghiệp trong nước có hệ số
trang bị vốn quá thấp (chỉ bằng 12÷14%). Ngoài ra tỷ lệ tài sản cố định bình quân/1
doanh nghiệp vốn trong nước quá thấp (chỉ có 23÷24%) Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp nhỏ trong nước chủ yếu kinh doanh bằng vốn lưu động và đầu tư
ngắn hạn, vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn.
Bảng 2.13 Trang bị tài sản cố định bì nh quân trên 1 lao động
Triệu đồng
Tiêu chí Trang bị TSCĐBQ1LĐ
Thời điểm Thời điểm
1/1/2019 31/12/2019
Doanh nghiệp nhà nước 248.866 257.293
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 68.432 91.175
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 188.242 228.050
Theo số liệu cục thống kê tỉnh, năm 2019
43
Giá trị mua sắm máy móc thấp, thời hạn sử dụng ngắn và điều kiện mua sắm dễ
dàng đã làm cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có điều kiện trang bị máy móc
mới, khả năng tiếp cận công nghệ mới thuận lợi hơn so với doanh nghiệp quốc doanh.
Phần lớn các doanh nghiệp sử dụng yếu tố đầu vào tại địa phương 73%, ở địa
phương khác là 30% và nước ngoài là 11%. Tỷ lệ này dao động tùy thuộc vào từng
khu vực. Đối với khu vực nông, lâm, thủy sản thì tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu địa
phương chiếm hơn 90%, trong khi ngành may mặc, giấy và thương mại có tới 30%
sử dụng yếu tố đầu vào ở nước ngoài.
Bảng 2.14 Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh
Đơn vị tính: DN
Tiêu chí
Lỗ
Lãi
Không lãi không lỗ
Doanh nghiệp
125
80
153.653 7
14
-15.266
3
6
Lãi bình quân 1 DN 3841.3
Lỗ bình quân 1DN -2180.9
nhà nước
Doanh nghiệp
3102
78.3
43.297
153 12.74
-40.709
108
8.99
46.1
-266.1
ngoài quốc
doanh
Doanh nghiệp
4273
50
81.158
21
36.11
-45.124
9
13.89 4508.8
-3471.1
có vốn đầu tư
nước ngoài
Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Phú Thọ, 2019
Nhìn vào bảng số liệu trên đây có thể thấy, hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh nói riêng tuy chưa
cao nhưng đã được cải thiện hơn so với trước đây. Các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận
trên vốn và trên doanh thu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều rất thấp. Tỷ suất
lợi nhuận bình quân trên vốn bình quân của doanh nghiệp trong nước năm 2019 là
0.015, năm 2015 là 0.009. Khu vực ngoài quốc doanh chỉ tiêu này chỉ đạt 0.0052.
Điều này có thể lý giải tính hiệu quả theo quy mô, khi quy mô quá nhỏ bé thì hiệu
quả kinh doanh sẽ không cao.
44
2.3. Thực trạng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ
Trên cơ sở Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về
trợ giúp phát triển DNVVN, chỉ thị số 27/2003/CT-TTg ngày 11/12/2005 của Thủ
tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện luật DN, khuyến khích phát triển
DNVVN, chỉ thị số 40/2005/CT-TTg ngày 16/12/2005 của thủ tướng chính phủ về
việc tiếp tục đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển DNVVN, tỉnh Phú Thọ đã triển
khai thực hiện một số chương trình hỗ trợ phát triển DN nói chung, DNVVN nói
riêng; qua đó, bước đầu đã tác động tích cực đến quá trình sản xuất kinh doanh của
DN, tạo tiền đề cho việc hỗ trợ phát triển DN trong những năm tiếp theo.
Tuy có nhiều cố gắng trong việc hỗ trợ phát triển DNVVN từ phía tỉnh
nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của DN trong quá trình
SXKD. Việc hỗ trợ phát triển DN chưa đem lại hiệu quả cao.
2.3.1. Tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên các lĩnh vực theo Nghị
quyết 19/NQ-CP. Về lĩnh vực khởi sự kinh doanh, thời gian thực hiện thủ tục thành
lập mới doanh nghiệp là 1,33 ngày làm việc (thời gian quy định là 03 ngày).
Thời gian thực hiện thủ tục thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trung
bình 0,98 ngày (thời gian quy định là 03 ngày).
Về thời gian cấp phép đầu tư, thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
01 ngày (thời gian quy định là 05 ngày).
Thời gian giải quyết thủ tục hành chính về đầu tư thuộc thẩm quyền giải quyết
của Ủy ban nhân dân tỉnh 21 ngày (thời gian quy định là 35 ngày)
Về lĩnh vực thuế, thời gian mua hóa đơn VAT, in hóa đơn VAT: Kết quả thực
hiện 01÷02 ngày (giảm 08 ngày so với mục tiêu Nghị quyết 19/NQ-CP).
Thời gian nộp thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trước bạ: Kết quả
thực hiện 03 ngày (giảm 08 ngày so với mục tiêu Nghị quyết 19/NQ-CP).
45
Về lĩnh vực Hải quan: Thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới đảm bảo
còn 70 giờ đối với hàng hóa xuất khẩu, 90 giờ đối với hàng hóa nhập khẩu (bằng
mục tiêu Nghị quyết 19/NQ-CP).
Về lĩnh vực Bảo hiểm xã hội: Đảm bảo duy trì việc thực hiện thời gian giao
dịch nộp hồ sơ bảo hiểm xã hội là 45 giờ/năm (bằng mục tiêu Nghị quyết 19/NQ-
CP); giảm bớt 32 thủ tục hành chính xuống còn 28 thủ tục hành chính.
Về lĩnh vực cấp phép xây dựng: Tổng thời gian cấp phép xây dựng trên thực
tế (bao gồm thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế kỹ thuật, cấp phép xây
dựng) là 57 ngày, giảm 06 ngày so với Nghị quyết 19/NQ-CP.
Về thời gian đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản: Thủ tục đăng ký bổ sung
tài sản gắn liền với đất được rút ngắn còn không quá 12 ngày (giảm 03 ngày so với
thời gian quy định).
Về tiếp cận điện năng: Tổng thời gian giải quyết thủ tục tiếp cận được rút
xuống còn 26 ngày (giảm 9 ngày so với Nghị quyết 19/NQ-CP).
Thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban,
ngành, các địa phương cấp huyện đã triển khai thực hiện tốt công tác đối thoại định kỳ
với doanh nghiệp, nhằm giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc cho doanh
nghiệp.
Chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh
nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Theo đó, các sở, ban, ngành, địa
phương chỉ được phép tiến hành thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp, hợp tác xã,
hộ kinh doanh theo nội dung, danh sách đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
Các trường hợp thực sự cần thiết, phát sinh ngoài danh sách (nếu có) phải được sự
đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh trước khi triển khai thực hiện.
Hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đăng ký thực hiện các dự
án đầu tư tại các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, các cụm công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp và các vị trí khác trên địa bàn tỉnh.
46
Triển khai các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chương trình khuyến
công, chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ nâng cao nguồn nhân lực cho các
doanh nghiệp thông qua các lớp đào tạo do Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức…
2.3.2. Các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Về hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp mới:
Phú Thọ đã hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại tỉnh
với sự tham gia của các cơ quan đơn vị liên quan, sự tham gia của các trường đại
học, cao đẳng, các Viện nghiên cứu, hội doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể, các
quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và các nhà đầu tư…
Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ về đào tạo nguồn lực, chuyên gia về hệ
sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tỉnh Phú Thọ triển khai việc xây dựng kế
hoạch truyền thông chiến lược về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Từ đó, tạo nên một mạng lưới, sức mạnh truyền thông và khai thác triệt để
nguồn thông tin, tạo nên các sản phẩm truyền thông về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi
mới sáng tạo đạt chất lượng và hiệu quả cao.
Hoạt động tư vấn cho DNVVN:
Triển khai thực hiện Thông tư số 06/2019/TT-BKHĐT ngày 29/3/2019 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn quy chế tổ chức và hoạt động của mạng lưới tư
vấn viên, hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới tư vấn
viên. UBND tỉnh đã yêu cầu các sở, ban, ngành, các địa phương có liên quan thành
lập tổ đầu mối tư vấn, hỗ trợ miễn phí về thủ tục pháp lý như thủ tục thành lập
doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh với ngành nghề kinh doanh có điều kiện,
tờ khai đăng ký thuế….
Năm 2019, có khoảng 1.000 doanh nghiệp được hỗ trợ sử dụng tư vấn thuộc
mạng lưới tư vấn viên. Trong đó:
- Hỗ trợ hợp đồng tư vấn cho 800 doanh nghiệp siêu nhỏ.
- Hỗ trợ hợp đồng tư vấn cho 100 doanh nghiệp nhỏ.
- Hỗ trợ hợp đồng tư vấn cho 100 doanh nghiệp vừa
Hoạt động tư vấn thông tin pháp lý:
47
Trong năm 2019, tiếp tục thực hiện hỗ trợ thông tin, pháp lý cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa với các nội dung như sau:
- Hỗ trợ tư vấn thủ tục pháp lý về thành lập doanh nghiệp cho các tổ chức, cá
nhân thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, chuyển đổi hộ kinh doanh
thành doanh nghiệp.
- Hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin hỗ trợ doanh nghiệp trên địa
bàn tỉnh để cung cấp, phổ biến thông tin về các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt
động của doanh nghiệp, các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển DNNVV
và các thông tin khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phát triển, nâng cấp trang thông tin điện tử của Sở Kế hoạch và Đầu tư trở
thành đầu mối cung cấp thông tin, các chương trình, kế hoạch hỗ trợ DNNVV, tiếp
nhận các đăng ký hỗ trợ của các DNNVV trên địa bàn tỉnh.
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa được miễn phí truy cập thông tin theo quy định tại
khoản 1 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cổng thông tin quốc gia
hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý và trang thông
tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương. Được khai thác miễn phí các thông tin kinh tế- xã hội, thông tin về quy
hoạch, kế hoạch của tỉnh trên trang thông tin điện tử của tỉnh và các sở, ban, ngành.
Hoạt động tư vấn thông quan các diễn đàn
Phú Thọ tổ chức các diễn đàn hợp tác, liên kết và phát triển doanh nghiệp khu
vực phía Bắc lần thứ XII, với chủ đề: Thực hiện Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và
vừa để bứt phá, phát triển theo các quý trong năm.
Thường sẽ có đại diện từ Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ
Công thương, Ban Kinh tế Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Mặt trận Tổ
quốc, VCCI, cùng đại diện lãnh đạo tỉnh, UBND, một số sở, ban, ngành tỉnh Phú
Thọ, các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp nhỏ các tỉnh, thành phố khu
vực phía Bắc, một số doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ và các tỉnh khu vực phía Bắc.
Diễn đàn là một trong những hoạt động thường niên do Hiệp hội doanh
nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chủ trì, luân phiên tổ chức tại các địa phương,
48
nhằm gắn kết doanh nghiệp liên kết sản xuất kinh doanh xúc tiến đầu tư và tiêu thụ
sản phẩm hàng hóa.
Mục tiêu của diễn đàn nhằm tăng cường vai trò chỉ đạo của các cấp chính
quyền trong việc hỗ trợ DNVVN phát triển bền vững; tháo gỡ các rào cản, khó khăn
trong việc đưa Luật Hỗ trợ DNVVN năm 2019 đi vào cuộc sống, sớm giải quyết
những vướng mắc của DN trong sản xuất - kinh doanh, tạo điều kiện để doanh
nghiệp tìm kiếm thị trường trong nước, phát huy tiềm năng, lợi thế, kết nối cung cầu
hàng hóa giữa các doanh nghiệp sản xuất và phân phối, thúc đẩy sản xuất kinh
doanh phát triển, tạo mối liên kết giữa các tập đoàn kinh tế lớn với các DNVVN,...
mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia nhiều hơn vào chuỗi giá
trị trong nước và toàn cầu, đóng góp nhiều hơn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước và địa phương...
2.3.3. Hỗ trợ về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh
UBND tỉnh và hầu hết các huyện, thị xã đều đã công bố quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, làm cơ sở để định hướng và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài
tỉnh. Nhà đầu tư được các cơ quan liên quan cung cấp thông tin, số liệu về điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội, các chính sách ưu đãi đầu tư, các qui định về thành lập và
hoạt động của DNVVN.
Nhà đầu tư còn được hướng dẫn khảo sát thực địa điểm lựa chọn phương án
địa điểm tối ưu của dự án trên cơ sở phù hợp với quy hoạch của tỉnh.
UBND tỉnh đã phê duyệt đề án quy hoạch mạng lưới Cụm công nghiệp trên
địa bàn tỉnh với mục tiêu tạo mặt bằng, giải quyết những vấn đề bức xúc trong việc
đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh, phát triển có hệ thống, trật tự và bền
vững, tạo điều kiện cho địa phương lập quy hoạch chi tiết và tổ chức bố trí không
gian hợp lý các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa, tạo việc làm, tăng thu nhập
cho lao động tại địa phương.
UBND tỉnh đã trình Chính phủ xét duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2020, trong đó điều chỉnh về mặt bằng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất
kinh doanh như sau:
49
Bảng 2.15 Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020
Hiện trạng năm 2015 Điều chỉnh quy hoạch đến năm 2019 Loại đất
Diện tích (ha) 1.040.878 Cơ cấu (%) 100 Diện tích (ha) 1.040.878 Cơ cấu (%) 100
3.862,7 777,9 1.360,7 1.165,0 559,1 0,37 0,07 0,13 0,11 0,06 13.216,4 3.386,2 6.841,0 1.900,0 1.089,2 1,27 0,33 0,66 0,18 0,10 động hoạt
Tổng diện tích đất tự nhiên Đất sản xuất kinh doanh Trong đó: Đất khu công nghiệp Đất cơ sở sản xuất kinh doanh Đất cho khoáng sản Đất sản xuất vật liệu, gốm sứ
Nguồn Sở KH&ĐT Phú Thọ.
Tỉnh đã tập trung đầu tư hàng trăm tỷ đồng từ nhiều nguồn như chương trình
mục tiêu của Chính phủ, ngân sách, nguồn ODA.... để xây dựng các công trình giao
thông, công trình điện, trung tâm dạy nghề, đê bao nuôi trồng thuỷ sản, làng nghề,
các khu và cụm công nghiệp... từng bước tạo điều kiện thúc đẩy DN trên địa bàn
tỉnh nói chung và DNVVN nói riêng ngày càng phát triển.
Cụ thể về cơ chế đặc thù thu hút đầu tư tại Khu công nghiệp Phú Hà, thị xã
Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Đối tượng được hỗ trợ và ưu tiên thu hút đầu tư:
- Đối tượng được hỗ trợ: Chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết
cấu hạ tầng khu công nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong khu
công nghiệp Phú Hà.
- Đối tượng ưu tiên thu hút đầu tư: Các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công
nghiệp điện tử, vật liệu xây dựng cao cấp, chế biến thực phẩm, đồ uống, các mặt
hàng cơ khí, dược phẩm... phù hợp với tính chất khu công nghiệp được duyệt tại
Quyết định số 178/QĐ-UBND ngày 27/01/2015 của UBND tỉnh, ưu tiên thu hút
đầu tư các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp có mức nộp
ngân sách Nhà nước từ 50 tỷ đồng/năm trở lên.
50
Các chủ đầu tư và doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trong khu công
nghiệp được quy định tại Điều 1 của Quy định này ngoài việc được hưởng các
chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quy định hiện hành của Nhà nước và của
tỉnh còn được hưởng cơ chế hỗ trợ và khuyến khích đầu tư theo Quy định này.
Hỗ trợ đối với chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ
tầng khu công nghiệp.
- Hỗ trợ về tiền thuê đất
+ Đơn giá thuê đất đối với các dự án đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp được
tính tỷ lệ tiền thuê đất ở mức thấp nhất là 0,5% nhân với (x) giá đất tính thu tiền
thuê đất. Giá đất để tính tiền thuê đất được xác định theo quy định tại Khoản 4,
Khoản 5, Điều 4 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về
thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
+ Thời điểm áp dụng: Sau thời hạn miễn tiền thuê đất theo quy định.
- Hỗ trợ chi phí san lấp mặt bằng
+ Hỗ trợ chủ đầu tư dự án đầu tư và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp tối
đa không quá 30 tỷ đồng kinh phí san lấp mặt bằng theo thiết kế dự toán được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt.
+ Điều kiện hỗ trợ: Chủ đầu tư hoàn thành san nền toàn bộ diện tích đất được
giao tại Quyết định số 2898/QĐ-UBND ngày 26/11/2015 của UBND tỉnh, hoàn
thành thủ tục cho thuê lại đất có hạ tầng tối thiểu 50% diện tích đất được giao đối
với các doanh nghiệp đầu tư đảm bảo điều kiện, đối tượng nêu tại Điều 2.
+ Nguồn hỗ trợ: Bù trừ từ tiền thuê đất nộp hàng năm kể từ thời điểm tính tiền
thuê đất. Phần còn lại tỉnh hỗ trợ một lần từ nguồn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung
ngân sách tỉnh vào năm cuối nộp tiền thuê đất.
- Hỗ trợ đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải
+ Hỗ trợ 25% giá trị quyết toán dự án đầu tư hệ thống xử lý nước thải trong
khu công nghiệp, tối đa không quá 10 tỷ đồng.
51
+ Nguồn hỗ trợ: Bù trừ từ tiền thuê đất nộp hàng năm kể từ thời điểm tính
tiền thuê đất. Phần còn lại tỉnh hỗ trợ một lần từ nguồn đầu tư xây dựng cơ bản tập
trung ngân sách tỉnh vào năm cuối nộp tiền thuê đất.
- Hỗ trợ đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp
Phú Hà
+ Ưu tiên thu hút đầu tư và hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh đối với các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp Phú Hà có mức nộp ngân
sách địa phương một năm đạt từ 50 tỷ đồng trở lên.
+ Mức hỗ trợ đối với các doanh nghiệp đủ điều kiện hàng năm: 100% giá thuê hạ
tầng.
+ Nguồn hỗ trợ: Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung, nguồn tăng thu
ngân sách tỉnh hàng năm.
2.3.4. Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực
Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 1290/QĐ-UBND
phê duyệt Dự án nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của các
doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2014÷2020. Dự án này là một
trong 9 dự án thuộc Chương trình Quốc gia Nâng cao năng suất và chất lượng sản
phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020 được phê duyệt tại
Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ.
Căn cứ vào tình hình đăng ký doanh nghiệp và cơ cấu hoạt động của doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh, nhu cầu đào tạo doanh nghiệp về khởi sự doanh nghiệp và
quản trị doanh nghiệp chiếm số lượng lớn. Các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn
chiếm tỷ lệ thấp hơn. Cụ thể:
Năm 2019, tổ chức khoảng 12 khóa đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho
DNNVV với trên 900 lượt học viên, trong đó:
- Tổ chức 04 khóa đào tạo khởi sự kinh doanh, bình quân mỗi lớp 100 học
viên/khóa, thời gian ðào tạo 02 ngày/khóa.
- Tổ chức 04 khóa đào tạo quản trị kinh doanh, bình quân mỗi lớp 80 học
viên/khóa, thời gian đào tạo 02 ngày/khóa.
52
- Tổ chức 02 khóa đào tạo quản trị chuyên sâu, bình quân mỗi lớp 50 học
viên/khóa, thời gian đào tạo 07 ngày/khóa.
- Tổ chức 02 khóa đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp, bình quân mỗi lớp 20
học viên/khóa, thời gian đào tạo 07 ngày/khóa.
Đối tượng hỗ trợ: Theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 05/2019/TTBKH
ngày 12/5/2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn hỗ trợ phát triển nguồn nhân
lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Điều kiện hỗ trợ: Các doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí tại Điều 6 Nghị định số
39/2018/NĐCP ngày 11/3/2018 của Chính phủ.
Mức hỗ trợ: Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày
11/3/2018 của Chính phủ.
Báo cáo Cục Phát triển doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã xác định 4
nhóm nhiệm vụ và giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh
trong năm 2014: Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy thành lập doanh
nghiệp; đào tạo phát triển nguồn nhân lực; hỗ trợ đổi mới, nâng cao năng lực, công
nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến thương mại, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp nhỏ
vừa vừa.
Dự án có nội dung, nhiệm vụ: Đào tạo, phát triển nguồn lực về năng suất và
chất lượng; hình thành mạng lưới chuyên gia hoạt động chuyên sâu, chuyên nghiệp
hỗ trợ cho doanh nghiệp xây dựng và thực hiện các dự án nâng cao năng suất và
chất lượng; tăng cường năng lực quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất
lượng; khuyến khích các sở, ngành, các doanh nghiệp thuộc tỉnh thành lập tổ chức
đánh giá sự phù hợp theo phạm vi quản lý của ngành và mục đích sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp để tạo nguồn lực cung cấp dịch vụ chứng nhận hợp chuẩn,
chứng nhận hợp quy, chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng, thử nghiệm, giám
định, kiểm định chất lượng theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ
thuật, luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.
Ngoài ra, tỉnh cũng khuyến khích các dự án đào tạo nghề. Các ngành nghề
được tổ chức đào tạo rất phong phú đa dạng và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
53
của từng huyện, thị xã như mây tre đan, nghề làm lồng đèn, nghề gốm đỏ truyền
thống, nghề mộc điêu khắc, đúc đồng, dệt thổ cẩm, may công nghiệp, làm hương,
dệt chiếu, nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu...
Việc nâng cao chất lượng của nguồn lao động là một trong những quan tâm
hàng đầu của tỉnh. UBND tỉnh đã có chính sách hỗ trợ chi phí cho các DN để đào
tạo lao động nâng cao tay nghề và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở dạy nghề
hoạt động. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có nhiều cơ sở dạy nghề. Trong năm
2019, các cơ sở này đã đào tạo và cấp chứng chỉ đào tạo nghề cho 5.667 người, cấp
bằng đào tạo nghề cho 591 người.
2.3.5. Hỗ trợ về tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm
Về phát triển thương mại
Tỉnh Phú Thọ tăng cường công tác quản lý nhà nước về các hoạt động kinh
doanh thương mại trên địa bàn tỉnh, nhằm đảm bảo các hoạt động kinh doanh tuân
thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, lưu thông hàng hóa
thông suốt, ổn định thị trường, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, hỗ trợ các
doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về trung tâm thương mại và siêu thị: Tạo cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp
đầu tư xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh, tập trung chỉ
đạo các dự án đã được phê xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại hoàn thiện để đi
vào hoạt động. Phát triển 5÷7 siêu thị và trung tâm thương mại, đến năm 2020 trên
địa bàn tỉnh có trên 20 siêu thị và trung tâm thương mại.
- Về hệ thống kho, cửa hàng xăng dầu: Tập trung phát triển hệ thống kho và
cửa hàng xăng dầu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Phát
triển 15÷20 cửa hàng xăng dầu mới, đến năm 2020 có trên 200 cửa hàng bán lẻ
xăng dầu.
- Hệ thống kho, bến bãi, logictic hàng hóa: Trên cơ sở kho bến bãi, logictic
hàng hóa hiện có tăng cường cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu
tư, nhất là hệ thống logictic nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển, trung chuyển hàng
54
hóa của các doanh nghiệp. Phát triển 1÷2 hệ thống kho logictic tại khu công nghiệp
Phú Hà và tại thành phố Việt Trì.
- Hệ thống chợ: Tập trung kêu gọi cho các doanh nghiệp đầu tư, cải tạo nâng
cấp các chợ trên địa bàn tỉnh, nhất là các chợ đầu mối, nhất là các chợ đã được
UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt quy hoạch tại Quyết định số 831/QĐ-UBND ngày
26/3/2012 và Quyết định số 6481/QĐ-BCT ngày 26/6/2015 của Bộ Công Thương
trên địa bàn tỉnh có 6 chợ đầu mối. Tập trung chỉ đạo thực hiện chuyển đổi mô hình
quản lý chợ từ các ban quản lý chợ sang mô hình doanh nghiệp và HTX.
- Xây dựng thêm các mô hình chợ thí điểm vệ sinh an toàn thực phẩm từ đó
nhân rộng trên tất cả các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh.
- Phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội
tăng bình quân 11÷12% trong giai đoạn 2019÷2020 (năm 2019 ước đạt: 31.722 tỷ
đồng; năm 2020: 35.212 tỷ đồng).
Về Thương mại điện tử
Giai đoạn 2019÷2020 sẽ tiếp tục tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm
vụ, như:
- Tuyên truyền, đào tạo phát triển nguồn nhân lực TMĐT:
+ Tổ chức các khoá đào tạo, tập huấn ngắn hạn cho cán bộ doanh nghiệp,
người tiêu dùng, sinh viên năm cuối các Trường Đại học về TMĐT nhằm phát triển
nguồn nhân lực cho hoạt động TMĐT trên địa bàn tỉnh. Số lượng học viên được đào
tạo từ 300÷500 học viên.
+ Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về TMĐT thông
qua các hoạt động truyền thông trên báo giấy, báo điện tử, phát thanh, truyền hình;
xây dựng sổ tay TMĐT, các tờ rơi quảng bá về TMĐT và các hình thức khác; tổ
chức các sự kiện thúc đẩy phát triển TMĐT; tuyên truyền trên các phương tiện
truyền thông nội dung văn bản pháp luật, chủ trương chính sách của nhà nước về
TMĐT, các mô hình ứng dụng TMĐT của các tổ chức, doanh nghiệp.
+ Thu thập, biên tập thông tin về tiềm năng xuất khẩu của địa phương và danh
sách các doanh nghiệp xuất khẩu cập nhật lên Cổng thông tin xuất khẩu Việt Nam
55
(VNEX) có địa chỉ http://vietnamexport.com từ đó giới thiệu tiềm năng xuất khẩu
của Phú Thọ với 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu
về các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam theo các lĩnh vực ngành hàng.
- Các hoạt động hỗ trợ ứng dụng thương mại điện tử:
+ Hỗ trợ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng website thương mại điện
tử phục vụ quảng bá giới thiệu sản phẩm và bán hàng. Dự kiến hỗ trợ 20÷30 đơn vị
xây dựng website;
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng phần mềm chuyên dụng, phần mềm bán
hàng, ứng dụng chữ ký số, hóa đơn điện tử, tem điện tử... trong hoạt động sản xuất
kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng marketing trực tuyến nhằm xây dựng
thương hiệu trên môi trường internet; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng chữ ký số sử
dụng trong các giao dịch thư điện tử, các e-mail, để mua hàng trực tuyến, đầu tư
chứng khoán trực tuyến, chuyển tiền ngân hàng, thanh toán trực tuyến….
- Vận hành, nâng cấp và duy trì sàn giao dịch thương mại điện tử tỉnh Phú
Thọ (giaothuong.net.vn):
+ Tổ chức các hội nghị quảng bá giới thiệu về sàn giao dịch thương mại điện
tử tỉnh Phú Thọ (giaothuong.net.vn) để các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh biết,
nhằm đưa các sản phẩm của doanh nghiệp giới thiệu trên sàn giao dịch TMĐT.
+ Duy trì quản trị sàn, nghiên cứu nâng cấp về mặt kỹ thuật, tích hợp sàn giao
dịch vào các cổng thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu; tổng hợp thông tin của
doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa theo từng ngành hàng cụ thể, các chương trình
xúc tiến thương mại, cập nhật dữ liệu; hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp thông tin,
tạo cơ hội giao thương, thực hiện các giao dịch qua mạng Internet thông qua sàn
giao dịch TMĐT của tỉnh.
+ Phối hợp với Bộ Công Thương kết nối với các kênh do Bộ quản lý, đồng
thời kết nối các chương trình hợp tác quốc tế về lĩnh vực TMĐT. Hỗ trợ các doanh
nghiệp, đặc biệt giới thiệu lựa chọn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp cận
thương mại điện tử thế giới qua Amazon.com, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy
mạnh xuất khẩu và phát triển thương hiệu thông qua thương mại điện tử do Bộ
56
Công Thương và Amazon Global Selling phối hợp thực hiện chương trình hợp tác
“hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu thông qua thương mại
điện tử”.
- Nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý nhà nước về TMĐT: Tổ chức điều
tra, thu thập số liệu thống kê tình hình ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại
điện tử trên địa bàn tỉnh nhằm nắm bắt kịp thời thực trạng và xu hướng phát triển để
ban hành các giải pháp quản lý hiệu quả lĩnh vực thương mại điện tử và công nghệ
thông tin.
- Tăng cường mối quan hệ hợp tác: Cử cán bộ phụ trách TMĐT dự hội thảo,
hội nghị về thương mại điện tử do các Bộ, ngành, đơn vị liên quan tổ chức; tham gia
các khoá tập huấn ngắn hạn về TMĐT… Tăng cường mối quan hệ hợp tác với các
tỉnh, thành phố có ký kết thỏa thuận hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với tỉnh Phú
Thọ, trong đó đặc biệt quan tâm đến những chương trình hợp tác xây dựng và phát
triển TMĐT;
Về xúc tiến thương mại:
+ Tổ chức từ 10÷12 hội chợ triển lãm, hội chợ thương mại trên địa bàn tỉnh
với quy mô từ 80÷300 gian hàng. Trong đó có Hội chợ Hùng Vương trong chương
trình giỗ Tổ Hùng Vương; tổ chức 01÷02 phiên chợ đưa hàng việt về nông thôn,
miền núi và khu công nhân nhằm tuyên truyền và hưởng ứng thực hiện cuộc vận
động: “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
+ Tổ chức 02 lớp đào tạo, tập huấn nhằm trang bị kỹ năng kinh doanh cho các
đơn vị, doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ với 100 học viên tham gia.
+ Xây dựng 03 chợ mô hình thí điểm chợ an toàn thực phẩm và xây dựng 04
điểm bán hàng Việt cố định.
+ Tổ chức cho các doanh nghiệp đưa các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh tham gia 4-6 hội chợ trọng
điểm trong chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Ngoài ra, còn giới thiệu cho
các doanh nghiệp tham gia các hội chợ chuyên ngành trong nước và quốc tế.
57
+ Thực hiện tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Xây dựng tài liệu xúc
tiến thương mại, bản tin Công Thương và chuyên trang xúc tiến thương mại; in tài
liệu xúc tiến thương mại 900 cuốn tài liệu giới thiệu về 1 số doanh nghiệp tiêu biểu
về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh; phát hành 4 số bản tin công
thương: 600 bản/số.
+ Viết tin bài đăng tải trên wesite, sản xuất phóng sự về sản phẩm nông sản
tỉnh Phú Thọ và phát sóng trên truyền hình tỉnh Phú Thọ: 06 phóng sự về nông sản
tỉnh Phú Thọ; hỗ trợ doanh nghiệp nông sản xây dựng website: 04 đơn vị.
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận, phát triển thị trường cho một số sản
phẩm nông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Phú Thọ được tham gia quảng bá
trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại Hội chợ các tỉnh, thành phố. Hỗ trợ 03 doanh
nghiệp cải tiến bao bì, nhãn hiệu sản phẩm.
+ Tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia Hội nghị kết nối cung - cầu hàng
hóa giữa Phú Thọ với các tỉnh, thành phố; tổ chức kết nối cho các doanh nghiệp đưa
sản phẩm vào hệ thống siêu thị tiêu thụ.
+ Tổ chức đoàn xúc tiến thương mại khảo sát thị trường các nước Trung
Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và thị trường các nước EU, các nước tham gia hiệp định
CPTPP cho các doanh nghiệp trong nhóm ngành hàng thủ công mỹ nghệ và nông
lâm sản chế biến của tỉnh.
+ Tổ chức kết nối cho 5÷7 doanh nghiệp đưa từ 5 đến 10 sản phẩm vào hệ
thống siêu thị để tiêu thụ.
2.3.6. Hỗ trợ thành lập các hiệp hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quyết định thành lập Hiệp hội số 2454 /QĐ - UBND, ngày 28 tháng 9 năm
2007 của UBND Tỉnh Phú Thọ có địa chỉ: số 2068 Đại lộ Hùng Vương, Phường
Nông Trang, Thành Phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, điện thoại: 02103966 799, fax:
0210 3953542.
Thành lập năm 2007 với 60 hội viên, qua 2 kỳ đại hội, đến nay Hiệp hội
DNVVN tỉnh đã phát triển hơn 300 hội viên với 15 chi hội, hội huyện trực thuộc ở
13 huyện, thành, thị trong tỉnh. Hiệp hội DNVVN tỉnh được coi là mái nhà chung,
58
nơi hội tụ, liên kết, hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ các DNVVN tỉnh phát triển nghề
nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giúp nhau tháo gỡ khó
khăn trong sản xuất kinh doanh, ưu tiên tiêu thụ sản phẩm của nhau, tìm kiếm thông
tin, cơ hội đầu tư, góp vốn sản xuất... tạo sự chủ động trong huy động các nguồn lực
đầu tư phát triển.
Được sự quan tâm của các cấp, các ngành trong tỉnh, thời gian qua các doanh
nghiệp tích cực thực hiện nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vươn lên từ nội lực,
ổn định sản xuất kinh doanh. Bình quân mỗi năm, các DNVVN đóng góp cho ngân
sách tỉnh từ 36÷42% tổng thu ngân sách, tạo việc làm và đảm bảo thu nhập cho
hàng chục nghìn lao động, tích cực thực hiện các chính sách an sinh xă hội, nhân
đạo, từ thiện.
Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp trong hiệp hội được vay vốn tín
dụng phát triển sản xuất, hỗ trợ quảng bá xúc tiến thương mại. Đặc biệt, hàng năm
nguồn vốn khuyến công của tỉnh đã hỗ trợ không ít doanh nghiệp trong công tác đào
tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động, đổi mới dây chuyền máy móc thiết bị
sản xuất, quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm, tham gia hội chợ, hội nghị xúc
tiến thương mại...
Các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng
quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO. Nhiều lĩnh vực sản xuất đã khai thác các
tiềm năng, lợi thế của tỉnh như: Sản xuất giấy, chè, khai thác tài nguyên, khoáng
sản... Các sản phẩm đã gắn với vùng nguyên liệu, một số doanh nghiệp chế biến đã
có vùng nguyên liệu tập trung. Đa số các ngành sản xuất truyền thống đều có đội
ngũ công nhân lành nghề, có điều kiện cung ứng nguồn nhân lực tại chỗ. Nhiều
doanh nghiệp đã tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản
xuất sạch hơn để bảo vệ môi trường như: Công ty cổ phần Tân Phong; Công ty
TNHH thương mại và xây dựng Ngọc Tuệ; Công ty cổ phần Kim Quy; Công ty cổ
phần giống vật tư nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam…
Hiệp hội đã phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức các lớp tập huấn, bồi
dưỡng nâng cao trình độ điều hành, quản lý doanh nghiệp như xây dựng văn hóa
59
doanh nghiệp, kỹ năng quản trị doanh nghiệp cho gần 100 học viên doanh nhân,
doanh nghiệp tham gia nhằm cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản về quản
trị doanh nghiệp, nâng cao văn hóa doanh nghiệp.
Cùng với những đóng góp trong phát triển kinh tế ÷ xã hội, tạo việc làm, giảm
tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, Hiệp hội còn tích cực tham gia
các hoạt động nhân đạo, từ thiện. Trong giai đoạn 2012 ÷ 2017, các doanh nghiệp
đã tham gia đóng góp, ủng hộ, tài trợ với kinh phí hàng chục tỷ đồng để xây dựng
các công trình phúc lợi công cộng như: Ủng hộ quỹ nối vòng tay nhân ái vì người
nghèo đất tổ; phụng dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng, tặng học bổng cho các
học sinh, sinh viên nghèo vượt khó, cán bộ công nhân viên thuộc các công ty; tích
cực hưởng ứng phong trào giọt máu hồng cứu người, trợ giúp đồng bào vùng lũ…
Tuy nhiên, hoạt động của hiệp hội vẫn còn bộc lộ một số tồn tại như: Một bộ
phận doanh nghiệp còn chậm đổi mới, chưa gắn bó với hiệp hội, chưa năng động,
sáng tạo, chưa khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của địa phương nên hiệu quả sản
xuất kinh doanh thấp. Cơ sở vật chất của hiệp hội còn khó khăn, đặc biệt là trụ sở
làm việc của hội thường xuyên thay đổi không ổn định, ảnh hưởng đến việc giao
dịch, kết nối hội viên, việc thu hút tập hợp thành viên còn hạn chế…
2.4. Đánh giá chung
2.4.1. Những thành công
* Số lượng DNVVN và tổng số vốn đầu tư tăng nhanh
Năm 2019, tỉnh Phú Thọ đạt mức tăng trưởng kinh tế 7,8%; trong đó, khu vực
công nghiệp tăng trưởng 11,4%, còn dịch vụ tăng 7,1%. Giá trị xuất khẩu ước đạt
1,95 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2018. Tổng thu ngân sách ước đạt hơn 7,1 nghìn
tỷ đồng, tăng 6% so với dự toán. Trong thành tựu ấy của tỉnh, có sự đóng góp lớn
của các doanh nghiệp.
Đặc biệt, UBND tỉnh Phú Thọ đã có đột phá về thu hút đầu tư khi môi
trường đầu tư tiếp tục được cải thiện. Ngoài ra, tỉnh cũng có nỗ lực trong công tác
quản lý và phát triển doanh nghiệp và sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước.
60
Trong năm 2019, đã có 800 doanh nghiệp mới được thành lập, nâng số doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh là 8.100 doanh nghiệp, với 76% đang hoạt động.
Các di sản văn hoá thế giới đã phát huy vai trò trung tâm, làm động lực lam
toả trong việc thu hút khách du lịch, thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đây là
một lợi thế so sánh đối với ngành dịch vụ ở Phú Thọ trong quá tŕnh hội nhập và
phát triển.
* Công tác hỗ trợ phát triển DNVVN đã góp phần tạo ra nhiều việc làm và
tăng thu nhập cho người lao động:
Theo số liệu thống kê, số lao động trong các DNVVN năm 2015 là 912.000
người, đến năm 2019, số lao động trong các DNVVN tăng lên đến 1.152.000 người.
Như vậy, trong 5 năm 2015÷2019 DNVVN bình quân mỗi năm tăng thêm trên
5.000 lao động, đây là con số đáng kể trong yêu cầu tạo việc làm cho xã hội. Việc
tăng thêm các DN cùng với việc mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh của các DN
hiện có, chắc chắn, sẽ tạo ra thêm nhiều việc làm mới cho người lao động, với điều
kiện đó, nguồn lực lao động sẽ từng bước được sử dụng một cách hiệu quả nhất,
góp phần dịch cơ cấu lao động của tỉnh theo hướng tiến bộ.
* Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện:
Trong những năm qua, chính quyền địa phương đã không ngừng đẩy mạnh
công tác cải cách hành chính đối với người dân và DN, thực hiện nhiều chương
trình hỗ trợ phát triển DNVVN có kết quả khả quan. Qua khảo sát đánh giá của tổ
chức sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh so sánh
trong các tỉnh, thành trên cả nước thì trong năm 2019, tỉnh Phú Thọ được xếp vào
hạng khá của tổ chức sáng kiến cạnh tranh Việt Nam.
2.4.2. Những hạn chế
Về xúc tiến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhiều bấp cập
DNVVN là lực lượng trực tiếp đương đầu trong cạnh tranh và hội nhập; vì
vậy, mối quan hệ giữa nhà nước và DNVVN cần phải gắn bó chặt chẽ hơn, nhà
nước phải là người mở đường, phải là người hỗ trợ, tạo mọi điều kiện có thể để DN
hội nhập thắng lợi. Vì vậy, trong điều kiện hội nhập hiện nay, DN ở Phú Thọ ngoài
61
việc nỗ lực tự thân, còn phải được sự quan tâm, hỗ trợ thiết thực, có hiệu quả từ
phía nhà nước. Tỉnh Phú Thọ trong những năm qua đã có những cơ chế chính sách
hỗ trợ DNVVN một cách thiết thực, thu hút đầu tư có hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh
cơ chế chính sách, tỉnh cần phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngủ cán bộ hỗ trợ, xúc tiến
đầu tư và thương mại, cũng có hệ thống cơ quan xúc tiến phát triển DN. Hiện nay,
hệ thống xúc tiến phát triển DN của tỉnh vẫn còn rời rạc chưa có sự phối hợp chặt
chẽ, trách nhiệm chưa cụ thể, chưa có tính chuyên sâu đối với việc hỗ trợ phát triển
DN. Để tác động một cách đồng bộ, hiệu quả đòi hỏi phải tăng cường hệ thống tổ
chức thực hiện xúc tiến phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến.
Khó khăn trong việc thu hút vốn đầu tư và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Phú Thọ còn nhiều khó khăn trong việc thu hút đầu tư. Các nhà đầu tư còn
do dự khi đến Phú Thọ vì lợi thế về đầu tư của tỉnh Phú Thọ so với các địa phương
khác còn thấp, suất đầu tư cao, độ rủi ro lớn do kết cấu hạ tầng vừa yếu, vừa thiếu
và không đồng bộ, chi phí sản xuất và vận chuyển cao, thị trường nhỏ và phân tán,
dịch vụ chậm phát triển, chưa đáp ứng đầy đủ các nhu cấu cần thiết của đầu tư, số
lao động nhiều nhưng chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo... gây bất lợi
cho đầu tư.
Chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước chưa thật sự khuyến khích được các
nhà đầu tư vào Phú Thọ. Tỉnh Phú Thọ phần lớn là các huyện núi cao và trung du,
các huyện này có rất ít dự án đầu tư. Do vậy, trên thực tế, xét về địa bàn ưu đãi đầu
tư thì phần lớn các dự án đầu tư ở Phú Thọ không được hưởng ưu đãi đầu tư của
chính phủ. Điều đó dẫn đến: DN đầu tư ở Phú Thọ rõ ràng thua thiệt so với DN ở
các địa bàn thuận lợi như thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc và rất nhiều tỉnh, thành
khác. Với điều kiện về địa bàn ưu đãi đầu tư như vậy thì Phú Thọ khó có thể thu hút
đầu tư so với địa bàn ở các thành phố lớn và các tỉnh có lợi thế so sánh cao hơn.
Việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế
Tuy có nhiều cố gắng trong việc hỗ trợ phát ttriển DNVVN từ phía tỉnh
nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của DN trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
62
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đặt ra
Việc hỗ trợ phát triển DN chưa đem lại hiệu quả cao chủ yếu là do những
khó khăn, hạn chế như sau:
Một là, việc nhận thức vai trò của DNVVN trong nền kinh tế quốc dân còn chưa
đầy đủ, chưa quán triệt ở các cấp, các ngành, do đó, chưa có được sự quan tâm đúng
mức.
Hai là, việc cải cách thủ tục hành chính tuy có nhiều tiến bộ so với trước, tuy
nhiên đôi lúc, đôi nơi vẫn còn gây phiền hà, chậm trễ đối với DN. Thiếu sự phối
hợp đồng bộ giữa các sở, ban, ngành trong việc hỗ trợ phát triển, theo dõi, quản lý
DN do đó tính hiệu lực của chính sách chưa cao. Chưa xây dựng được một hệ thống
chặt chẽ, có tính chuyên sâu trong việc hỗ trợ và phát triển DN.
Ba là, việc hỗ trợ cho các DNVVN về mặt bằng sản xuất kinh doanh, hỗ trợ
về ứng dụng, đổi mới công nghệ, xúc tiến thương mại, xây dựng các công trình kết
cấu hạ tầng, xây dựng và duy trì trang web về DNVVN, hỗ trợ về đào tạo lao động
và một số chính sách hỗ trợ khác gặp phải nhiều khó khăn do nguồn ngân sách của
nhà nước còn eo hẹp, trong khi đó Trung ương chưa có những cơ chế thuận lợi đúng
mức cho các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn như tỉnh
Phú Thọ hiện nay.
Bốn là, tỉnh chưa thành lập được Quỹ bảo lãnh tín dụng do những qui định
của quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng còn thiếu
tính khả thi, ví dụ: DNVVN là đối tượng góp vốn, họ không muốn góp vì cho rằng
bị đọng vốn trong khi đó lại vẫn phải thế chấp và phải trả phí bảo lãnh tín dụng
bằng 0,8%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh tín dụng, các đối tượng góp vốn
cũng chưa phù hợp... vì vậy, việc thành lập quỹ bản lãnh tín dụng cho DNVVN gặp
nhiều khó khăn.
Năm là, đội ngủ cán bộ hỗ trợ phát triển DNVVN quá mỏng (như Phòng DN
chỉ có 4 biên chế trong khi đó số lượng DN đã đăng ký khoảng 1.800 DN, mỗi
huyện chỉ có một cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh), điều kiện kinh phí,
phương tiện phục vụ công tác xúc tiến đầu tư, công tác hậu kiểm còn hạn chế. Công
tác kiểm tra của các cơ quan chuyên ngành còn trông chờ nhau, chưa có qui chế
63
phối hợp rõ ràng, một bộ phận cán bộ quản lý nhà nước vẫn còn hạn chế về kiến
thức, năng lực trong khi đó việc phân cấp được thực hiện mạnh cho địa phương...
do đó, dẫn đến sự bấp cập, yếu kém trong việc quản lý nhà nước về hoạt động sản
xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh, cũng như chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu hỗ trợ
DNVVN phát triển trong tình hình hiện nay.
Sáu là, đội ngủ quản lý của DNVVN trên địa bàn tỉnh phần lớn chưa qua lớp
đào tạo khởi nghiệp, thiếu kiến thức về pháp luật, thiếu thông tin về tín dụng, về thị
trường nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chưa đủ năng động
so với tính cạnh tranh gay gắt của thị trường, công nghệ, kỹ thuật sản xuất của các
DNVVN còn lạc hậu do đó sản phẩm thiếu khả năng cạnh tranh. Các DN lớn còn ít
về số lượng và chưa có sự liên kết chặt chẽ với các DNVVN nhằm tạo điều kiện cho
các DNVVN đóng vai trò các vệ tinh trong quá trình phát triển kinh doanh.
64
Tóm tắt chương 2
Ở chương 2, luận văn khái quát thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Luân văn tập trung nghiên cứu: Khái
lược về tỉnh Phú Thọ, sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh bằng
nghiên cứu số lượng, quy mô DNVVN, kết cấu vốn doanh nghiệp theo mỗi loại
hình doanh nghiệp, kết cấu, ngành nghề kinh doanh, tình hình sử dụng lao động và
trả lương lao động, về năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.
Thực trạng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ cũng đánh giá thông qua các khía cạnh: Tạo lập môi trường kinh doanh cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ
trợ về tài chính và mặt bằng sản xuất kinh doanh, hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực,
hỗ trợ về tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ thành lập các hiệp hội của
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Từ việc nghiên cứu này tác giả đã rút ra những thành công, tồn tại, hạn chế
và nguyên nhân tồn tại.
65
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DN NVV
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và phương
hướng hoàn thiện chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của tỉ nh
Phú Thọ
3.1.1. Quan điểm phát triển
Trên cơ sở quan điểm của Đảng về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và
phát triển thương mại, quan điểm phát triển phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ như sau:
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Phú Thọ phải đặt trong chiến lược
phát triển nền kinh tế toàn xã hội
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền
kinh tế thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển lâu dài, quan hệ bình đẳng,
hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
kinh tế nhà nước trong lĩnh vực thương mại phải phát huy vai trò nòng cốt ở một số
khâu, một số mặt hàng trọng yếu. Cụ thể, thương mại Nhà nước là lực lượng quan
trọng trong hoạt động bán buôn, là hạt nhân cơ bản trong các tập đoàn kinh tế
thương mại Việt Nam, xuất nhập khẩu một số mặt hàng vật tư chiến lược, trọng yếu
như xăng, dầu, phân bón, sắt, thép, hoá chất, thuốc tân dược..
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Phú Thọ phải đặt trong môi
trường cạnh tranh lành mạnh
Quan điểm của là doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển lâu dài, quan hệ bình
đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Nhà nước chủ trương không phân biệt đối
xử đối với các chủ thể kinh tế thương mại thuộc các thành phần kinh tế. Xoá bỏ sự
phân biệt đối xử, tạo sự bình đẳng giữa thành phần kinh tế, để phát huy được sức
mạnh của các thành phần kinh tế, nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển và phục vụ tốt
đời sống nhân dân là yêu cầu của việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
66
Nhà nước định hướng, dẫn dắt doanh nghiệp vừa và nhỏ theo chiến lược, quy
hoạch phát triển chung của nền kinh tế; thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân
và quyền sở hữu tài sản; tạo môi trường pháp lý và chính sách ổn định, nhất quán,
thông thoáng, nghiêm minh, bình đẳng, phù hợp với nhiều trình độ, không phân biệt
thành phần kinh tế, để công dân phát huy tự chủ, sáng tạo, thực hiện quyền tự do
kinh doanh theo pháp luật, yên tâm đầu tư lâu dài, hợp tác và cạnh tranh, thu hút
được nhiều nguồn nhân lực để phát triển.
Hệ thống luật pháp, các chính sách và các ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước phải
được quy định chung cho mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp vừa và
nhỏ, tạo được sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong thụ hưởng các ưu đãi,
hỗ trợ của Nhà nước.
Nhà nước tháo gỡ những khó khăn vướng mắc để doanh nghiệp vừa và nhỏ
có điều kiện thuận lợi về môi trường pháp lý, tâm lý xã hội mà yên tâm đầu tư phát
triển kinh doanh, yên tâm về những tài sản được làm giàu hợp pháp của mình.
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Phú Thọ với quy mô và phân bố
hợp lý trên các địa bàn
Từng bước tổ chức lại mạng lưới kinh doanh ở Phú Thọ, tỉnh cần chú trọng
quy hoạch, xây dựng lại mạng lưới kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong lĩnh vực thương mại, tổ chức mạng lưới kinh doanh cho phù hợp với quy mô và
trình độ tổ chức; phải đảm bảo đủ diện tích kinh doanh theo những khu tập trung, nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh, trên cơ sở đó ổn định hoạt động kinh doanh trên
thị trường.
Tổ chức sắp xếp lại, hoàn thiện và phát triển mạng lưới trên địa bàn Phú Thọ
theo hướng hợp lý, đa dạng, nhiều tầng, với nhiều hình thức quy mô và phương
thức kinh doanh khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng đa dạng và
phong phú tại chỗ.
3.1.2. Mục tiêu phát triển
Các hoạt động sản xuất kinh doanh dưới các loại hình doanh nghiệp mà luật
Doanh nghiệp quy định sẽ ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng,
67
cả bề rộng lẫn bề sâu, trong đó loại hình công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn một
thành viên sẽ phát triển nhanh hơn. Bước đầu hình thành mô hình công ty hợp danh,
giảm dần doanh nghiệp tư nhân.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ ngày càng mang yếu tố quốc tế đậm nét về
định hướng sản xuất kinh doanh, về thị trường, về công nghệ và các yếu tố cần thiết
khác cho quá trình tái sản xuất mở rộng.
Phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ngày càng đa dạng, xét theo cả
từng doanh nghiệp, cũng như toàn bộ khu vực doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh sang kinh
doanh dịch vụ và sản xuất công nghiệp có hàm lượng vốn và khoa học cao.
Các doanh nghiệp dân doanh phát triển đến quy mô nhất định có thể tổ chức
thành lập tổng công ty hoặc tập đoàn. Mô hình tổng công ty sẽ được tổ chức dưới
dạng công ty TNHH một thành viên hoặc công ty cổ phần… trong đó mối quan hệ
giữa tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều
lệ. Doanh nghiệp trong nước mua lại doanh nghiệp liên doanh cũng là một xu thế tất
yếu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Bên cạnh đó sẽ xuất hiện phổ biến các hiện tượng
phá sản, giải thể, chia nhỏ, mua bán chuyển nhượng lại các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhà nước nằm trong khối doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ chuyển
đổi theo hướng cổ phần hóa, chuyển thành công ty TNHH một thành viên và thành
lập những công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con.
Hộ kinh doanh cá thể trong những năm tới sẽ vẫn phát triển bởi mô hình tổ chức
đơn giản, thủ tục thành lập nhanh, lao động chủ yếu là lao động gia đình giản đơn
Tiếp tục thực hiện việc chuyển đổi, sắp xếp lại mô hình quản lý phù hợp như
công ty cổ phần, mô hình công ty mẹ- công ty con, công ty vệ tinh ... để huy động
thêm nguồn lực cho sản xuất kinh doanh; hình thành một hệ thống liên kết từ khâu
sản xuất- chế biến- xuất khẩu đối với từng khu vực như CN chế biến thuỷ sản, CN
sản xuất vật liệu xây dựng, CN khai khoáng... hướng đến hình thành tập đoàn kinh
tế CN đa ngành nghề.
Tập trung đẩy mạnh thực hiện trong năm 2020 định hướng cho doanh
nghiệp, doanh nhân hợp tác, liên doanh, liên kết, ưu tiên khuyến khích vào các lĩnh
68
vực sản xuất có lợi thế về nguồn nguyên liệu và lao động như công nghiệp chế biến
nông, lâm sản, liên kết phát triển công nghiệp dệt may, công nghiệp khai khoáng,
sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ, vật liệu xây dựng...
Tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất, đào tạo tay nghề kỹ thuật cho công
nhân, chọn hướng đi phù hợp trong xây dựng chiến lược sản phẩm, tận dụng lợi thế
những đơn hàng nhỏ kết hợp đầu tư mặt hàng phục vụ thị trường nội địa để quảng
bá, khẳng định thương hiệu.
3.1.3. Phương pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Một là, tập trung đẩy mạnh hỗ trợ các DNVVN sản xuất các sản phẩm có lợi
thế như chế biến gỗ, chế biến thuỷ sản, hàng may mặc, giầy da, lắp ráp ô tô..., tăng
nhanh các sản phẩm công nghiệp sử dụng công nghệ cao, công nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu, công nghiệp giải quyết việc làm nhiều, công nghiệp phục vụ phát
triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Hai là, đẩy mạnh công tác quảng bá, kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư vào các
khu công nghiệp. Tích cực tìm cơ chế tài chính nguồn thu để lại đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng trong khu kinh tế mở.
Ba là, rà soát qui hoạch phát triển công nghiệp, cụm công nghiệp phù hợp
với khả năng đầu tư. Trước mắt đầu tư vào các khu vực thuận lợi. Tiếp tục đầu tư hạ
tầng như giao thông, điện nước vào các khu, cụm công nghiệp, các làng nghề, thu
hút mạnh các nhà đầu tư.
Bốn là, phát triển mạnh các cụm công nghiệp tại các địa phương, phục vụ
công nghiệp để chế biến và sơ chế nông sản, thuỷ sản, lâm sản; mở rộng qui mô,
phát huy các ngành nghề truyền thống nhằm giải quyết việc làm vùng nông thôn,
tăng thu nhập cho người dân.
Năm là, tháo gỡ vướng mắc về mặt bằng sản xuất của các doanh nghiệp. Trợ
giúp phát triển các DNVVN, giải quyết kịp thời các vướng mắc của DNVVN. Triển
khai các giải pháp mở rộng thị trường, tăng tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến
để nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu.
69
Sáu là, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư, mở rộng hình thức
đầu tư thông qua thị trường chứng khoán. Hướng dẫn các doanh nghiệp cổ phần hóa
niêm yết và tham gia thị trường chứng khoán.
Bảy là, nghiên cứu khuyến khích phát triển các DNVVN thuộc ngành công
nghiệp phụ trợ nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm ô tô, xe máy, bột giấy,
phụ kiện các ngành dệt may, giầy dép.
Tám là, xây dựng cơ chế quản lý phù hợp đối với các DNNN sau khi được
sắp xếp, đổi mới. Tiếp tục kiểm tra, rà soát, thu hồi giấy phép các dự án không triển
khai thực hiện đúng thời gian theo cam kết.
Chín là, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các cam kết mà nhà
nước đã ký với các tổ chức AFTA, WTO, với các nước khác để DNVVN có giải
pháp ứng phó và đẩy mạnh xuất khẩu.
Mười là, tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch. Phát triển du lịch
sinh thái, du lịch văn hóa. Nâng cao chất lượng du lịch rõ rệt, góp phần nâng cao
chất lượng dịch vụ, tăng khả năng hấp dẫn và sức cạnh tranh.
Mười một là, đẩy mạnh hỗ trợ các DNVVN xuất khẩu, khuyến khích mọi
thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu.
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
3.2.1. Nâng cao tính minh bạch của thể chế và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
Nhà nước với vai trò điều hành nền kinh tế vĩ mô cần nâng cao năng lực tổ
chức, quản lý, hoàn thiện hệ thống pháp luật, ra quyết định chính sách, kịp thời phù
hợp với tình hình thực tế, tạo ra môi trường pháp lý chặt chẽ và thông thoáng cho
hoạt động sản xuất kinh doanh. Tất cả làm cho môi trường đầu tư và kinh doanh có
nhiều thuận lợi, tạo cho các DN phát triển bền vững và có sức cạnh tranh lớn.
Công khai qui trình của các ngành, địa phương liên quan đến đầu tư và phát
triển DNVVN. Tập trung giải quyết các vấn đề tiếp cận với các cơ quan thuế, hải
quan theo hướng tiết kiệm thời gian nhất, minh bạch nhất. Tổ chức diễn đàn tiếng
nói từ các DNVVN, về môi trường đầu tư ở tỉnh Phú Thọ. Nắm bắt kịp thời những
70
vướng mắt và các rào cản về mặt chính sách, cơ chế nhằm giải quyết có hiệu quả,
tạo môi trường thuận lợi cho các DNVVN hoạt động.
DNVVN phát triển kéo theo lao động tập trung, từng bước hình thành đô thị
hóa.... Song còn phát sinh những điều bất cập như môi trường, các vấn đề tệ nạn xã
hội… Do đó cần có những chính sách đồng bộ để hạn chế đến mức thấp nhất những
mặt trái của nó.
Phát triển các loại hình dịch vụ: Bảo hiểm quốc tế, khu vui chơi giải trí, các
nhà hàng, khách sạn cao cấp, bệnh viện, trường học, đường giao thông... đạt tiêu
chuẩn quốc tế để thu hút các tập đoàn tài chính quốc tế. Có cơ chế, chính sách thu
hút nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho trung tâm tài chính.
Có thể nói thiếu vốn là một trong những hạn chế lớn nhất trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và phát triển DNVVN nói riêng. Giải
pháp giải quyết khó khăn về vốn phải là giải pháp mang tính tổng hợp của nhiều
giải pháp như: Chính sách huy động, tận dụng vốn trong nước, chính sách khuyến
khích đầu tư của mọi thành phần kinh tế trong nước, đặc biệt là giải pháp thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn vay ưu đãi.
Hoàn thiện cơ chế huy động vốn cho đầu tư phát triển, tạo thị trường vốn
lành mạnh, hấp dẫn, đảm bảo vốn cho doanh nghiệp vay hoạt động. Đồng thời giám
sát việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, nhằm khắc phục tình trạng thất thoát
vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản như lãng phí, tham ô, tham nhũng (chủ yếu khu
vực DN nhà nước và nguồn vốn đầu tư, vốn tín dụng ưu đãi từ nhà nước).
Đây là khâu khó khăn nhất cho DN nói chung cũng như DNVVN nói riêng.
Thiếu vốn gây nên những ách tắc trong sản xuất, lưu thông hàng hoá. Nhu cầu về
vốn đòi hỏi các DNVVN tự huy động, tìm kiếm. Tuy nhiên nhà nước cũng cần có
những biện pháp hỗ trợ các DNVVN dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn
vốn, thoả mãn nhu cầu vốn cho SXKD.
Tạo cơ sở bình đẳng giữa các loại hình DN, giữa DNNN và DNTN, tạo môi
trường tài chính thuận lợi cho các DNVVN. Đây được coi là chính sách trọng tâm
71
cần giải quyết. Cần xúc tiến đổi mới một số chính sách và giải pháp về tài chính để
hỗ trợ phát triển DNVVN ở tỉnh Phú Thọ. Cụ thể là:
- Hình thành trung tâm thông tin tín dụng tư nhân, đáp ứng nhu cầu vay vốn
của các DNVVN.
- Đổi mới nội dung và phương thức đầu tư tài chính hỗ trợ phát triển
DNVVN trên địa bàn. Cần coi trọng việc chi ngân sách Nhà nước để hỗ trợ cải
thiện điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp nói chung và các DNVVN nói riêng.
Cần phải tự do hóa và bình đẳng hơn nữa việc cho phép các nhà kinh doanh tư nhân
tự phát triển các dự án, công trình giao thông công chính,…
3.2.2. Chính sách thuế
So với trước đây, hệ thống thuế của Việt Nam đã được cải thiện theo hướng
đảm bảo sự công bằng cho các thành phần kinh tế, tuy nhiên hệ thống thuế hiện nay
đặc biệt là thuế VAT là một thách thức đối với DNVVN, thời gian miễn giảm thuế
cho DNVVN còn quá ngắn so với các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Thuế suất và
cách tính còn phức tạp so với trình độ của DNVVN, thuế ít nhưng lệ phí thì nhiều.
Để giải quyết những bất cập trong chính sách thuế cần thực hiện một số giải
pháp sau đây:
- Chính sách thuế thu nhập của công ty cần được đơn giản hóa và loại bỏ dần
các trùng lặp miễn giảm tiến tới thống nhất thuế suất đối với các loại hình DNVVN.
- Cần đơn giản hóa chế độ kế toán cho phù hợp với trình độ kế toán của
DNVVN, xóa bỏ những đóng góp ngoài thuế, khi có luật thuế thay đổi cần tập huấn,
đào tạo cho cả cán bộ thuế, cán bộ kế toán cũng như chủ DNVVN để họ nhận thức
được và tự quyền nộp thuế.
- Chúng ta đã thực hiện chế độ DNVVN tự kê khai và nộp thuế, nhưng để
cho kết quả kiểm tra, kiểm toán hàng năm phù hợp với thông lệ quốc tế cần có
những hướng dẫn và đơn giản hoá các yêu cầu về sổ sách kế toán và báo cáo tài
chính đối với DNVVN.
72
- Cần chi tiết hoá biểu thuế, thực hiện tốt hơn nữa hệ thống thuế giá trị gia
tăng, đặc biệt là cải tiến các chính sách về hoàn thuế giá trị gia tăng cho các
DNVVN nói riêng và các DN nói chung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và cả nước.
- Chính sách thuế phải phù hợp với điều kiện đặc thù của DNVVN và cần
dành những ưu đãi để khuyến khích các chủ thể kinh tế hướng theo mục tiêu Nhà
nước dự định. Ưu đãi thuế nhằm vào những ngành nghề được khuyến khích phát
triển dành cho các DNVVN ở những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa,…
- Xoá bỏ hình thức thuế khoán hoặc định mức thuế cho các cán bộ thu thuế,
vì đây là hình thức khiến cán bộ thuế dễ dàng áp dụng các định mức thuế cho DN
và tăng khả năng trốn thuế.
3.2.3. Chính sách tín dụng
- Tạo vốn qua việc mở rộng tín dụng ngân hàng: Một yếu tố quan trọng cho
sự phát triển các DNVVN là khả năng tiếp cận các khoản vay, trong đó hệ thống
ngân hàng là một kênh tài chính quan trọng. Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, các
DNVVN gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc tiếp cận nguồn vốn này.
Những hạn chế xuất phát từ cả 2 phía:
+ Về phía ngân hàng: Các điều kiện về năng lực tài chính, tài sản đảm bảo nợ
vay rất chặt chẽ; các thủ tục cấp tín dụng liên quan đến nhiều ngành chưa được xử
lý đồng bộ và kịp thời; công tác tư vấn lập phương án kinh doanh còn nhiều hạn
chế…
+ Về phía DNVVN: Năng lực tài chính thấp, thiếu phương án SXKD có hiệu
quả; không đáp ứng đủ các điều kiện về tín dụng; khả năng quản trị, điều hành kinh
doanh thấp, chưa coi trọng công tác kế toán, lập báo cáo kế toán thường là để đối
phó…
Do vậy, để mở rộng tín dụng các ngân hàng thương mại cần chủ động tìm kiếm dự
án khả thi, nâng cao năng lực thẩm định dự án để mở rộng cho vay có bảo đảm bằng
tài sản hình thành từ vốn vay, cho vay tín chấp… Tăng cường công tác cung cấp
thông tin đến các DNVVN và đưa ra nhiều dịch vụ phù hợp với nhiều đối tượng
khác nhau; tăng cường đội ngũ cán bộ tín dụng có đủ khả năng tư vấn cho các
73
DNVVN lập phương án vay vốn, thẩm định hiệu quả đầu tư các dự án để quyết định
cho vay.
- Đẩy mạnh việc thành lập và vận hành quỹ bảo lãnh tín dụng giúp các
DNVVN có thể vay vốn khi gặp khó khăn về tài sản thế chấp.
Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối
với các dự án kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, để quỹ này hoạt động tốt cần
có quy định rõ ràng về trách nhiệm của quỹ với cơ quan cấp tín dụng và
DNVVN cũng như làm rõ cơ chế quản lý điều hành quỹ để tránh tình trạng làm
nảy sinh một khâu trung gian giữa DNVVN và ngân hàng trong quá trình thực
hiện các giao dịch kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh và các tổ chức tín dụng: Triển khai
Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001, Quyết định số 115/2004/QĐ-
TTg ngày 25/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế thành lập,
tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN và Chỉ thị số
40/2005/CT-TTg ngày 16/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy
mạnh công tác trợ giúp phát triển DNVVN, Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh và
các Tổ chức tín dụng trên địa bàn cần thực hiện một số nội dung sau:
+ Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh: Phối hợp với các ban, ngành tại
địa phương, tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thành lập Quỹ bảo
lănh tín dụng.
+ Các tổ chức tín dụng: Căn cứ vào tình hình thực tế của vốn điều lệ, quỹ dự
trữ của mình và nhu cầu thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng của từng địa phương, để
quyết định việc tham gia góp vốn vào Quỹ bảo lãnh tín dụng. Cử đại diện tham gia
Ban trù bị thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh,
thành phố. Tham gia Hội đồng quản lý Quỹ bảo lãnh tín dụng để đại diện cho phần
vốn góp của tổ chức tín dụng, theo quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.
+ Phối hợp với Quỹ bảo lãnh tín dụng xây dựng quy trình, thủ tục bảo lãnh.
Phối hợp với Quỹ bảo lãnh tín dụng kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và
hoàn trả nợ của khách hàng, đảm bảo an toàn vốn.
74
- Mở rộng hình thức cho thuê tài chính (CTTC):
Do đặc điểm của DNVVN là ít vốn, các điều kiện để vay vốn ngân hàng
không đảm bảo, đặc biệt là điều kiện về tài sản thế chấp. CTTC về máy móc, thiết
bị sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN. Giải quyết khó khăn về vốn trung và
dài hạn, giúp các DNVVN nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh
trên thị trường. Hoạt động CTTC mang lại những lợi ích sau:
+ Thuê mua tài chính góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế: Với mức
độ rủi ro thấp, phạm vi tài trợ rộng rãi nên thuê mua có thể khuyến khích các thành
phần kinh tế, tư nhân cá thể đầu tư vốn để kinh doanh. Do đó sẽ thu hút được những
nguồn vốn nhàn rỗi trong nội bộ nền kinh tế. Mặt khác, CTTC cũng góp phần giúp
các quốc gia thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho nền kinh tế thông quan các loại
máy moc, thiết bị mà quốc gia đó nhận được.
+ Thuê mua góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học
công nghệ; thông qua tín dụng thuê mua, các loại máy móc, thiết bị có trình độ công
nghệ tiên tiến được đưa vào sử dụng tại các DNVVN, góp phần nâng cao trình độ
công nghệ của nền sản xuất trong những điều kiện khó khăn về vốn đầu tư.
+ Tín dụng thuê mua là hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao: Người cho
thuê có quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng tài sản nên họ có thể tránh được
những thiệt hại, rủi ro về tài sản. Khoản tiền tài trợ được sử dụng đúng mục đích mà
người tài trợ yêu cầu nên đảm bảo được khả năng trả nợ vốn vay.
+ Người thuê tài sản có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều kiện
hạn chế về vốn đầu tư. Thuê mua không gây ảnh hưởng bất lợi đối với các hệ số
kinh doanh của DNVVN. Những DNVVN không thoả mãn các yêu cầu vay vốn của
các Ngân hàng thương mại cũng có thể nhận được vốn tài trợ thông qua tín dụng
thuê mua; Thuê mua giúp cho các DNVVN không bị đọng vốn trong tài sản cố
định; Rút ngắn được thời gian triển khai đầu tư đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh
doanh. Thuê mua cho phép DN hiện đại hóa sản xuất theo kịp tốc độ phát triển của
công nghệ mới….
75
3.2.4. Chính sách nguồn nhân lực
Trình độ lao động trong các DN còn thấp, hiện có khoảng 70% lao động
chưa qua đào tạo, riêng khu vực ngoài nhà nước tỷ lệ này còn cao hơn. Đây là trở
ngại lớn cho việc tiếp nhận và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới, quản lý sản
xuất kinh doanh. Không ít các ngành, các DN thiếu lao động có tay nghề cao. Cần
có chính sách khuyến khích đào tạo nghề, tạo điều kiện để người lao động được đào
tạo nhằm thực hiện tốt mục tiêu giải quyết việc làm, việc đào tạo phải gắn với nhu
cầu sử dụng, mở các trường với chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
hiện nay và tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Để có thể cung ứng cho thị trường lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu
cầu của các nhà tuyển dụng, các trường Đại học, trung tâm đào tạo nghề cần phải
nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp nói riêng, của nền kinh tế nói chung. Chính ở
đây, các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở
đào tạo nắm được nhu cầu lao động mà thị trường cần. Do vậy, vì lợi ích của chính
mình, các trường Đại học luôn có nhu cầu phải gắn kết với doanh nghiệp.
Về phía các DNVVN, thiếu vốn đã làm họ không thể chủ động giải quyết
nguồn nhân lực cho chính mình, ngay cả với những chủ doanh nghiệp có tầm nhìn
chiến lược về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Con đường chung
mà các doanh nghiệp vẫn thực hiện là tìm lao động qua các hội chợ việc làm.
Trong điều kiện đó, có cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp
ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp là điều lý tưởng nhất. Chính vì
vậy, được hợp tác với một cơ sở đào tạo Đại học thực sự cũng là nhu cầu thiết thực
của chính doanh nghiệp. Như vậy, liên kết đào tạo giữa nhà trường Đại học và
DNVVN là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Do đó, mối liên
kết này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao
động cho doanh nghiệp.
3.2.5. Chính sách đất đai
Trong giai đoạn hiện nay, hầu hết các DNVVN thiếu mặt bằng SXKD. Nhiều
DN phải sử dụng chính nhà ở của chủ DN để làm trụ sở giao dịch, kinh doanh. Việc
76
sử dụng nhà ở làm trụ sở giao dịch, SXKD thường gây ra nhiều khó khăn cho hoạt
động của DN do diện tích trật hẹp, điều kiện và phương tiện làm việc không thuận
lợi. Vì vậy, UBND tỉnh cần phải hỗ trợ, tạo điều kiện cho các DNVVN có mặt bằng
SXKD phù hợp:
- Ưu tiên đầu tư về cơ sở hạ tầng, nhất là ngoài và trong các khu công nghiệp
tập trung và các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, từ nhiều nguồn vốn: Ngân sách nhà
nước, vốn ODA, vay thương mại, phát hành trái phiếu trong và ngoài nước..
- Có chính sách quy định về hoạt động của các khu công nghiệp dành riêng
cho DNVVN. Cho phép khu vực DNVVN tư nhân được hưởng quyền lợi về sử
dụng đất đai như đối với DNNN, tạo điều kiện cho DNVVN mở rộng quan hệ liên
kết, liên doanh và được phép sử dụng mặt bằng kinh doanh của các DNNN khi
những DNNN không có nhu cầu sử dụng.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh có khả năng mua quyền sử
dụng đất hợp pháp và được quyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất nếu xét thấy
việc đó đúng với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong vùng; xoá bỏ các thủ
tục hành chính phiền hà trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
chủ sở hữu.
- Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
nhà theo Nghị định 60/NĐ-CP nhằm tạo điều kiện khai thông các quan hệ giao dịch
trên thị trường bất động sản, thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn.
- Hỗ trợ các DNVVN có cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm di dời ra
khỏi đô thị, khu dân cư thông qua việc cho phép chuyển quyền sử dụng đất từ đất
sản xuất sang đất ở và đất thương mại nhằm mục đích bán và trang trải chi phí di
chuyển.
- Thống kê và thu hồi đất hoang hóa, sử dụng không đúng mục đích để tạo
quỹ đất cho các doanh nghiệp thuê.
Nhằm khuyến khích các DN đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng, khu công
nghiệp vào thuê đất trong khu công nhiệp, Tỉnh cần áp dụng một số giải pháp cụ
thể sau:
77
+ Áp dụng mức giá cho thuê đất thấp nhất trong khung giá do Chính phủ và
Tỉnh quy định.
+ Đối với những DN đã thuê đất trong các KCN cần đẩy nhanh tiến độ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho DN; UBND tỉnh bảo đảm đầu tư xây dựng
các cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào và hỗ trợ cho các DN trong các KCN tập trung tiền
đền bù giải phóng và xây dựng cơ sở hạ tầng trong hàng rào bằng vốn ngân sách.
+ Ưu tiên cho các DN đầu tư vào KCN vay vốn tín dụng đầu tư đãi; nghiên
cứu áp dụng một số chính sách miễn giảm thuế đầu tư kinh doanh trên địa bàn.
+ Phát triển thị trường bất động sản, hỗ trợ các DNVVN giải quyết mặt bằng
kinh doanh, tiếp tục thành lập các trung tâm giao dịch bất động sản nhằm phát triển
thị trường bất động sản. Từng bước hình thành thị trường đất đai và bất động sản,
hình thành thị trường vốn, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt
động của trung tâm địa ốc, các trung tâm môi giới dịch vụ cho vay, giao dịch thanh
toán theo hướng chuyên nghiệp.
3.2.6. Chính sách về công nghệ và thông tin
Con người và công nghệ giữ vai trò quyết định trong phát triển nền kinh tế -
xã hội, là động lực tăng trưởng kinh tế là nhân tố để chuyển đổi cơ cấu sản xuất
nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Do nhu cầu của thị trường đòi hỏi phải thay đổi nhanh chóng về công nghệ
và năng lực chuyên môn của đội ngũ lao động, đặc biệt đối với các DNVVN trong
lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nhu cầu thay thế trang thiết bị mới cũng như các yêu
cầu về quản lư là cần thiết để DNVVN phải đối phó thích ứng với sự thay đổi nhanh
chóng về công nghệ như hiện nay là một áp lực rất lớn cho DNVVN.
Hiện nay những chủ trương chính sách về công nghệ đối với DNVVN đều
được vận dụng chung từ những chủ trương chính sách chung của nhà nước đối với
tất cả các DN, chưa có chính sách riêng nào cho DNVVN, đối với Tỉnh các tổ chức
làm công tác khoa học công nghệ trên địa bàn chưa tiếp cận và phối hợp với các
DNVVN để hỗ trợ giúp đỡ các DN, do đó DNVVN thiếp sự tiếp cận cần thiết với
78
thị trường vốn trong và ngoài nước và với các nguồn vốn dài hạn để mua sắm thiết
bị mới…
Để hỗ trợ cho các DNVVN có thể tiếp cận lĩnh vực công nghệ tiên tiến và
đầu tư đổi mới công nghệ tương ứng với định hướng phát triển của cả nước và của
Tỉnh thì cần phải thực hiện những giải pháp sau:
- Một là, thành lập trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn:
+ Các DNVVN ít có khả năng nhập thiết bị nước ngoài, do đó cần cung cấp
thông tin thị trường, hỗ trợ tiếp thị, tư vấn chuyển giao công nghệ, môi giới kinh
doanh cho các DN trên địa bàn Tỉnh.
+ Cần phải nghiên cứu đổi mới công nghệ trong các lĩnh vực nâng cao chất
lượng sản phẩm, cho phép khấu hao nhanh để DNVVN có thể nhanh chóng đổi mới
thiết bị, áp dụng công nghệ mới. Có chương trình giới thiệu các công nghệ kỹ thuật
tiên tiến trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Hai là, xây dựng chính sách tạo lập mối quan hệ thiết thực giữa cơ quan
nghiên cứu như các trường Đại học, Viện chuyên ngành, các chuyên gia của cả
nước với DN. Nhà nước đặt hàng với các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, sản xuất
công nghiệp tạo lập cơ sở ban đầu cho thị trường công nghệ phát triển bền vững.
- Ba là, hỗ trợ về vốn cho DN thay đổi kỹ thuật công nghệ: Hàng năm Tỉnh
trích một phần (15÷20%) từ nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học cho các DNVVN
có sử dụng phần vốn cho nghiên cứu đổi mới công nghệ, ứng dụng những tiến bộ
KHKT vào sản xuất, nghiên cứu cải tiến, thay đổi mẫu mã hàng hoá,…
3.2.7. Chính sách xúc tiến thương mại
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về các hoạt động kinh doanh thương
mại trên địa bàn tỉnh, nhằm đảm bảo các hoạt động kinh doanh tuân thủ các quy
định của pháp luật, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, lưu thông hàng hóa thông suốt,
ổn định thị trường, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, hỗ trợ các doanh nghiệp
đầu tư phát triển hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế- xã hội của tỉnh và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
79
- Về trung tâm thương mại và siêu thị: Tạo cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp
đầu tư xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh, tập trung chỉ
đạo các dự án đã được phê duyệt xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại hoàn
thiện để đi vào hoạt động. Phát triển 5÷7 siêu thị và trung tâm thương mại, nhằm
đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh có trên 20 siêu thị và trung tâm thương mại.
- Về hệ thống kho, cửa hàng xăng dầu: Tập trung phát triển hệ thống kho và
cửa hàng xăng dầu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Phát
triển 15÷20 cửa hàng xăng dầu mới, để đến năm 2020 có trên 200 cửa hàng bán lẻ
xăng dâu.
- Hệ thống kho, bến bãi, logictic hàng hóa: Trên cơ sở kho bến bãi, logictic
hàng hóa hiện có tăng cường cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu
tư, nhất là hệ thống logictic nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển, trung chuyển hàng
hóa của các doanh nghiệp. Phát triển 1÷2 hệ thống kho logictic tại khu công nghiệp
Phú Hà và tại thành phố Việt Trì.
- Hệ thống chợ: Tập trung kêu gọi cho các doanh nghiệp đầu tư, cải tạo nâng
cấp các chợ trên địa bàn tỉnh, nhất là các chợ đầu mối, các chợ đã được UBND tỉnh
Phú Thọ phê duyệt quy hoạch tại Quyết định số 831/QĐ-UBND ngày 26/3/2012 và
Quyết định số 6481/QĐ-BCT ngày 26/6/2015 của Bộ Công Thương trên địa bàn
tỉnh có 6 chợ đầu mối. Tập trung chỉ đạo thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý chợ
từ các ban quản lý chợ sang mô hình doanh nghiệp và HTX.
- Xây dựng thêm các mô hình chợ thí điểm vệ sinh an toàn thực phẩm từ đó
nhân rộng trên tất cả các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh.
- Phấn đấu tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội
tăng bình quân 11÷12% trong giai đoạn 2019÷2020 (năm 2019 ước đạt: 31.722 tỷ
đồng; năm 2020: 35.212 tỷ đồng).
+ Tổ chức từ 10÷12 hội chợ triển lãm, hội chợ thương mại trên địa bàn tỉnh
với quy mô từ 80÷300 gian hàng. Trong đó có Hội chợ Hùng Vương trong Chương
trình giỗ Tổ Hùng Vương; tổ chức 01÷02 phiên chợ đưa hàng việt về nông thôn,
80
miền núi và khu công nhân nhằm tuyên truyền và hưởng ứng thực hiện cuộc vận
động: Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.
+ Tổ chức 02 lớp đào tạo, tập huấn nhằm trang bị kỹ năng kinh doanh cho các
đơn vị, doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ với 100 học viên tham gia.
+ Xây dựng 03 chợ mô hình thí điểm chợ an toàn thực phẩm và xây dựng 04
điểm bán hàng Việt cố định.
+ Tổ chức cho các doanh nghiệp đưa các sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của tỉnh tham gia 04÷06 hội chợ
trọng điểm trong chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Ngoài ra, còn giới
thiệu cho các doanh nghiệp tham gia các các hội chợ chuyên ngành trong nước và
quốc tế.
+ Thực hiện tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Xây dựng tài liệu xúc
tiến thương mại, bản tin Công thương và chuyên trang xúc tiến thương mại; in tài
liệu xúc tiến thương mại: 900 cuốn tài liệu giới thiệu 1 số doanh nghiệp tiêu biểu về
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh; phát hành 4 số bản tin công
thương: 600 bản/số.
+ Viết tin bài đăng tải trên wesite, sản xuất phóng sự về sản phẩm nông sản
tỉnh Phú Thọ và phát sóng trên truyền hình tỉnh Phú Thọ: 06 phóng sự về nông sản
tỉnh Phú Thọ; hỗ trợ doanh nghiệp nông sản xây dựng website: 04 đơn vị.
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận, phát triển thị trường cho một số sản
phẩm nông nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Phú Thọ được tham gia quảng bá
trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại Hội chợ các tỉnh, thành phố. Hỗ trợ 03 doanh
nghiệp cải tiến bao bì, nhãn hiệu sản phẩm.
+ Tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia hội nghị kết nối cung - cầu hàng
hóa giữa tỉnh Phú Thọ với các tỉnh, thành phố; tổ chức kết nối cho các doanh nghiệp
đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị tiêu thụ.
+ Tổ chức đoàn xúc tiến thương mại khảo sát thị trường các nước Trung
Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và thị trường các nước EU, các nước tham gia hiệp định
81
CPTPP cho các doanh nghiệp trong nhóm ngành hàng thủ công mỹ nghệ và nông
lâm sản chế biến của tỉnh.
+ Tổ chức kết nối cho 5÷7 doanh nghiệp đưa từ 5÷10 sản phẩm vào hệ thống
siêu thị để tiêu thụ.
3.3. Một số kiến nghị
3.3.1. Khuyến khích phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội,
nghề nghiệp giữ vai trò cực kỳ quan trọng, trực tiếp khai thác và phát huy khả năng
tiềm tàng trong nhân dân để làm những công việc mà người dân làm thì hiệu quả
hơn nhà nước. Nhà nước chỉ nên làm những công việc mà thị trường và xã hội
không làm được hoặc làm không hiệu quả mà nhà nước có thể làm tốt hơn. Đó
chính là xã hội hoá các hoạt động liên quan đến đời sống và công ăn việc làm của
người dân.
Trên thế giới các tổ chức phi chính phủ thực hiện hiện các dịch vụ phát triển
kinh doanh dưới nhiều tên gọi khác nhau như trung tâm, công ty,… được thành lập
và hoạt động nhằm hỗ trợ các DNVVN trong nhiều lĩnh vực: tư vấn về thị trường,
tư vấn đầu tư, thuế, kiểm toán và kế toán, lập kế hoạch SXKD, cung cấp thông tin
về thị trường, giá cả, văn bản pháp luật, mở các lớp đào tạo… Thực tế, đây là những
dịch vụ có vị trí và vai trò quan trọng do các thành phần kinh tế mà chủ yếu là khu
vực kinh tế dân doanh hình thành, bằng việc khai thác chất xám của các chuyên gia
trong các lĩnh vực để đưa ra những lời khuyên đối với các DNVVN trong các vụ
việc cụ thể. Các tổ chức dịch vụ phát triển kinh doanh này giúp đỡ DNVVN một
cách cụ thể, trực tiếp, sát với tình hình, đặcđiểm của mỗi DN, là những tổ chức cần
được khuyến khích, định hướng nhằm hình thành một thị trường doanh nghiệp phát
triển kinh doanh có tổ chức để hỗ trợ DNVVN đạt hiệu quả thiết thực hơn.
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động dịch vụ phát triển kinh doanh của các đoàn
thể, tổ chức trên ở Tỉnh hiện đang còn rời rạc, hiệu quả thấp. Do những nguyên
nhân sau:
82
- Hiện nay khách hàng chủ yếu sử dụng dịch vụ này là các DN nước ngoài
đến kinh doanh và hoạt động tại Việt Nam hoặc những DN liên doanh. Các DN
trong nước vẫn còn dè dặt và xem ra còn khá xa lạ với loại hình dịch vụ này, do đó
chưa chủ động tìm đến các tổ chức cung cấp dịch vụ mặc dù những DN này đều có
những khó khăn cần được tư vấn, hỗ trợ.
- Các DNVVN chưa thấy hết được tầm quan trọng và vai trò của hình thức
khá mới này ở Việt Nam do đó chưa tin tưởng vào kết quả của dịch vụ này.
- Sử dụng dịch vụ phát triển kinh doanh có trả tiền chưa trở thành tập
quán của các DN, đặc biệt là các DNVVN có tâm lý ngại chi tiền cho những việc
như thế này.
Ngoài các nguyên nhân trên, sự hạn chế của doanh nghiệp phát triển kinh
doanh còn do các DN trong nước luôn có xu hướng thích chọn nhà tư vấn độc lập,
đặc biệt là những người tư vấn đang làm việc ở các cơ quan nhà nước. Chẳng hạn
DN cần chuẩn bị hồ sơ quyết toán thuế, họ thuê nhân viên Cục thuế đến tư vấn sẽ có
hiệu quả hơn so với thuê một công ty chuyên nghiệp. Tuy nhiên loại hình tư vấn
không chính thức này lại không có lợi cho sự phát triển của thị trường tư vấn
chuyên nghiệp. Nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng, tạo cơ hội cho
tham ô và hạn chế sức phát triển của thị trường chính thức.
Để phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh ở Phú Thọ, cần thực
hiện một số bước sau:
- Thứ nhất, nguồn cung dịch vụ phát triển kinh doanh cần được khuyến khích
cả về số lượng lẫn chất lượng thông qua các hoạt động hướng tới các nhà cung cấp
như: Đưa hoạt động cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh vào danh mục được
hưởng ưu đãi của tỉnh, tạo điều kiện cho các nhà cung cấp giảm giá dịch vụ cho
DNVVN; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp tăng cường
năng lực và cải thiện các hoạt động marketing.
- Thứ hai, nâng cao hiểu biết cơ bản và đánh giá của các DN về dịch vụ phát
triển kinh doanh. Để thực hiện tốt công việc này, các phương tiện thông tin đại
chúng cần có những chương trình dành cho DN, các hiệp hội DN, câu lạc bộ DN,
83
các hội ngành nghề... là những kênh lý tưởng để phổ biến vấn đề này. Dịch vụ phát
triển kinh doanh còn được tuyên truyền phổ biến qua các khoá đào tạo chủ DN, các
buổi họp DN, tạo đàm.
- Thứ ba, tại tỉnh Phú Thọ, các DN có nhu cầu rất thấp về các dịch vụ tư vấn
này nên phải có biện pháp kích cầu, một là, giúp các DN hiểu đầy đủ về các dịch
vụ, hai là giúp DN hiểu được tầm quan trọng của dịch vụ phát triển kinh doanh và
lợi ích mà các dịch vụ đó có thể mạng lại cho DN.
- Thứ tư, cần có chính sách khuyến khích thành lập các tổ chức tư vấn và hỗ trợ
một phần kinh phí cho các DNVVN khi sử dụng dịch vụ này, nên thành lập Quỹ hỗ trợ
chi phí tư vấn, chi trả 50% phí tư vấn cho các DNVVN có sử dụng dịch vụ tư vấn.
3.3.2. Thực hiện trợ giúp có trọng điểm
Nhằm giúp nông dân khai thác tiềm năng thế mạnh trong chế biến nông
nghiệp, tỉnh Phú Thọ cần đưa ra cơ chế hỗ trợ đặc thù khuyến khích doanh nghiệp
đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn sắp tới.
Đối với các doanh nghiệp có dự án đầu tư vào lĩnh vực giết mổ gia súc, gia
cầm tập trung cần được hỗ trợ chi phí, để xây dựng cơ sở hạ tầng về điện, nước, nhà
xưởng, xử lý chất thải và mua thiết bị.
Các nhà đầu tư có dự án đầu tư vào chăn nuôi gia súc, gia cầm và đầu tư nuôi
trồng thủy sản tập trung, nuôi cá lồng trên sông, hồ với quy mô nuôi tập trung cần
được hỗ trợ chi phí tùy từng dự án để xây dựng cơ sở hạ tầng.
Đối với các dự án trồng và chế biến chè, rau, củ, quả, thịt, tỉnh hỗ trợ chi
phí, như để xây dựng nhà xưởng, nhà lưới, hệ thống giao thông, điện, cấp thoát
nước, kênh mương, thủy lợi, thu gom và xử lý chất thải.
Bên cạnh đó, tỉnh cần hỗ trợ để xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các nhà đầu
tư có dự án đầu tư nhà máy chế biến gỗ rừng trồng, sản xuất gỗ ván…
Địa phương phải rà soát kế hoạch sử dụng đất để xây dựng các vùng chuyên
canh, vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư vào
sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích các hộ nông dân góp vốn bằng quyền sử dụng
đất với các doanh nghiệp để tạo quỹ đất hình thành vùng sản xuất quy mô lớn.
84
Nghiên cứu thu hồi đất của các nông lâm trường và chuyển một phần diện tích đất
rừng phòng hộ sang rừng sản xuất để tạo quỹ đất sạch thu hút cho các doanh nghiệp
vào đầu tư.
Đồng thời cần tìm được hướng đi phù hợp cho phát triển du lịch như xây
dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, liên kết hình thành các tua, các tuyến du lịch
hấp dẫn, phù hợp điều kiện thực tế của địa phương. Qua đó, sẽ giúp lượng khách du
lịch đến tỉnh Phú Thọ ngày càng tăng lên, nhiều điểm trở thành địa chỉ tin cậy, thu
hút du khách trong những ngày nghỉ lễ của đất nước.
3.3.3. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý các cấp
Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phát triển DNVVN,
kế hoạch hành động và lộ trình thực hiện; phối hợp với các bộ, ngành để thực hiện
nhiệm vụ phát triển DNVVN tại điạ phương; bố trí nhân lực, ngân sách hàng năm
đảm bảo thực hiện kế hoạch tại tỉnh.
Thành lập Ban điều phối thực hiện kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa cấp tỉnh trực thuộc ủy ban nhân dân, do Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh
làm Trưởng ban. Thành viên của Ban điều phối thực hiện kế hoạch phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa cấp tỉnh gồm đại diện của các Sở liên quan và các Hiệp hội
doanh nghiệp tại tỉnh. Hàng năm, tiến hành đánh giá tình hình triển khai thực hiện
kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ trên địa bàn.
Nhằm cũng cố và thúc đẩy các DNVVN phát triển có hiệu quả, bền vững theo
định hướng chung, qua nghiên cứu thực trạng của DNVVN và theo yêu cầu của nền
kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế, đòi hỏi cần phải có một tổ chức đầu mối
với một mạng lưới hỗ trợ nhằm phát triển các DNVVN. Việc xác lập một tổ chức
đầu mối đòi hỏi phải khẳng định các chức năng chủ yếu của nó là tham mưu giúp
Chính phủ và chính quyền địa phương tạo môi trường thuận lợi cho phát triển
DNVVN, điều phối các hoạt động giúp các DNVVN từ việc đào tạo, tiếp thị, làm
cầu nối giữa DNVVN với các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành, các hiệp hội,
nhằm phát triển SXKD, chuyển giao công nghệ,…. có hiệu quả. Chính vì thế theo
NĐ 90/2001 đã quy định thành lập hai tổ chức để xúc tiến phát triển DNVVN, đó
85
là: Cục phát triển DNVVN và Hội đồng khuyến khích phát triển DNVVN. Tại địa
bàn Tỉnh, để hỗ trợ và khuyến khích phát triển DNVVN cần:
- Một là, thành lập tổ chức xúc tiến phát triển DNVVN của tỉnh để chuyên
trách theo dõi, tổng hợp, đề xuất thể chế, chính sách khuyến khích DNVVN trong
từng thời kỳ cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và phối
hợp với các sở, ban, ngành trong việc tổ chức thực hiện.
- Hai là, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hơn nữa sự hoạt động của
Trung tâm hỗ trợ và đầu tư phát triển HTX&DNVVN của tỉnh.
- Ba là, khuyến khích thành lập các tổ chức trợ giúp DNVVN như hiệp hội,
câu lạc bộ DN. Đó là các tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhằm khai thác mọi nguồn
lực của xã hội, kể cả thu hút tài trợ bên ngoài, để phát triển các hoạt động trợ giúp
một cách trực tiếp, có hiệu quả thiết thực cho DNVVN. Các hiệp hội DN này có thể
tổ chức theo địa bàn địa phương, theo ngành nghề để cùng nhau thương thảo giải
quyết vấn đề mà từng DN riêng lẻ không tự giải quyết, để hỗ trợ nhau trong kinh
doanh, đồng thời làm vai trò cầu nối giữa các hội viên với cơ quan của Chính phủ,
đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của DNVVN.
- Bốn là, tăng cường cán bộ quản lý các DNVVN trong các sở, ban, ngành
cấp tỉnh, cấp huyện, đặc biệt là các bộ phận như đăng ký kinh doanh của Sở Kế
hoạch và Đầu tư, bộ phận quản lý DNVVN trong các Sở công nghiệp, Sở thương
mại,…
- Năm là, tăng cường chức năng của bộ máy quản lý nhà nước đối với
DNVVN theo hướng tăng thêm chức năng cho một số cơ quan, bộ phận hiện có
như: chức năng kiểm tra sau đăng ký kinh doanh cho phòng đăng ký kinh doanh,
chức năng và định hướng phát triển cho các Sở chuyên ngành, chức năng cung cấp
thông tin,… Ngoài ra cần phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các chức năng
được giao giữa các cơ quan hữu quan trong việc quản lý và hỗ trợ các DNVVN.
- Sáu là, thực hiện tốt chức năng kiểm soát đối với DN nhằm ngăn ngừa hạn
chế các vi phạm, việc kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN phải
được thực hiện theo đúng chức năng, thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật,
tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng để tránh trùng lắp, tránh gây
phiền hà không đáng có cho các doanh nghiệp.
86
Tóm tắt chương 3
Ở chương 3 luận văn đưa ra quan điểm, mục tiêu phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ và phương hướng hoàn thiện chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ của tỉnh Phú Thọ. Đồng thời đưa ra một số giải pháp về: Nâng cao tính minh
bạch của thể chế và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; chính sách thuế; chính sách tín
dụng; chính sách nguồn nhân lực; chính sách đất đai; chính sách về công nghệ và
thông tin; chính sách xúc tiến thương mại và một số kiến nghị khác.
87
KẾT LUẬN
Với vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của
tỉnh, đặc biệt là trong việc giải quyết công ăn việc làm và thu hút vốn đầu tư từ
người dân, việc thúc đẩy sự phát triển các DNVVN sẽ góp phần rất quan trọng vào
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng
kinh tế, xoá đói giảm nghèo,…
Phú Thọ là một tỉnh nông nghiệp, dân số chủ yếu tập trung ở nông thôn và
làm nghề nông. Là một tỉnh có rất nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội,
trong đó có những tiềm năng quan trọng như lợi thế về vị trí chiến lược, nguồn tài
nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, có quỹ đất dồi dào, có nhiều làng nghề truyền
thống, có di sản văn hoá thế giới, người dân năng động, sáng tạo, cần cù,… Phú
Thọ còn đóng vai trò trung tâm văn hóa xã hội và nhân văn của cả nước đó là Đất tổ
Hùng Vương nên có thể phát triển nhiều loại hình du lịch. Tuy nhiên, tỉnh cũng có
không ít khó khăn trong việc phát triển kinh tế nói chung và DNVVN nói riêng.
Từ khi chia tách tỉnh đến nay, tỉnh Phú Thọ đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng về kinh tế - xã hội. Trong những thành công đó có sự đóng góp đáng kể
của các DNVVN, đã góp phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm, tăng thu
nhập dân cư,.. DNVVN với những ưu thế và hạn chế nhất định nên khó có thể phát
triển nhanh và bền vững nếu thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ
chức hỗ trợ khác. Do đó, để phát huy vai trò tích cực của các DNVVN trong sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh thì phải có sự định hướng và hỗ trợ các DN này trong
quá trình hình thành và phát triển.
Từ việc nghiên cứu lý thuyết về DNVVN, nghiên cứu kinh nghiệm hỗ trợ
DNVVN ở một số nước và địa phương; phân tích thực tế tình hình phát triển
DNVVN, chính sách biện pháp hỗ trợ DNVVN của tỉnh trong 5 năm qua, đề tài đã
đưa ra một số giải pháp hỗ trợ cho các DNVVN tỉnh Phú Thọ trong những năm tới,
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN phát triển và tăng khả năng cạnh
tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, vừa giúp cho các DNVVN của tỉnh
88
khắc phục được những hạn chế của chính bản thân DN. Những giải pháp hỗ trợ phát
triển DNVVN đề cập ở đây bao gồm các giải pháp hỗ trợ về tài chính, tín dụng; các
giải pháp về đất đai, mặt bằng sản xuất; các giải pháp về thị trường tiêu thụ sản
phẩm, về đào tạo, tư vấn, về thành lập các hiệp hội DNVVN,…
Đánh giá đúng thực trạng và đề ra được các giải pháp hữu hiệu để phát triển
DNVVN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề khá phức
tạp. Việc hỗ trợ phát triển DNVVN là một sự nghiệp lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực của
từng DN và sự giúp đỡ về nhiều mặt, kịp thời của các cơ quan nhà nước cũng như
các tổ chức hỗ trợ DN đang hoạt động trên địa bàn tỉnh.
Do thời gian nghiên cứu có hạn với nội dung rộng và các số liệu thống kê không
nhất quán giữa các sở ban ngành. Nhưng học viên đã cố gắng hoàn thành bản luận văn
của mình. Tuy nhiên, luận văn cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định,
học viên mong nhận được các ý kiến đóng góp của các nhà khoa khọc, các chuyên gia,
các nhà quản lý và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
89
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Văn An (2016) “Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ trên địa bàn Tỉnh Nghệ An”, luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Huế.
2. PGS.TS Nguyễn Cúc, “Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đến năm 2005”, năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
3. Hoàng Thu Hòa - Vũ Quốc Tuấn - 2001, “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ,
kinh nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”.
4. Lê Thị Tâm (2018) “Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực trong các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế”, luận văn
thạc sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân.
5. Phạm Minh Tuấn (2015), luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện chính sách phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, Viện Quản lý kinh tế
- Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
6. TS. Đỗ Việt Tuấn và Chu Minh Phương, “Tài chính hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ, Nxb Tài Chính”, năm 2000.
7. Trần Anh Trung (2017), luận văn thạc sỹ “Doanh nghiệp công nghiệp vừa và
nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - thực trạng và giải pháp phát triển”, Viện Quản lý
kinh tế - Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
8. Chính phủ (2001), Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
9. Chính phủ (2003), Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg , ngày 11 tháng 12 năm 2003 về
tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Luật doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
10. Chính phủ (2003), Chỉ thị số 40/2005/CT-TTg , ngày 16 tháng 12 năm 2005 về
tiếp tục đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
11. Chính phủ (2004), Nghị định số 134/2004/NĐ-CP , ngày 09 tháng 6 năm 2004
về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn.
90
12. Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2015 - 2019), Kết quả điều tra doanh nghiệp năm
2015, 2019.
13. Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ (2019), Niên giám thống kê 2018.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7-BCH TW khoá
7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Thủ tướng Chính phủ (2005), Quyết định số 148/2005/QĐ-TTg ngày 17/6/2005
phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2015.