
chuỗi thời gian. Ông đã tìm thấy bằng chứng về thiệt hại hai chiều, trong đó chi tiêu cao hơn cho quốc phòng
làm giảm tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài. Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho
các nước đang phát triển. Sử dụng dữ liệu hàng năm cho giai đoạn 1970 - 2001, Al-Obaid (2004) đã nghiên
cứu mối quan hệ dài hạn giữa tổng chi tiêu chính phủ và tổng sản phẩm quốc nội thực để đánh giá tính hiệu
lực của "luật Wagner" - giả thuyết cho rằng chi tiêu công có xu hướng tăng lên cùng với tăng trưởng kinh tế.
Kiển tra đồng liên kết (the cointegration test) cho thấy một mối quan hệ lâu dài tích cực giữa tỷ lệ chi tiêu
công trong GDP và GDP bình quân đầu người, phù hợp với Wagner dự đoán. Sử dụng hồi quyOLS, Al-
Yousif (2000) cho thấy rằng quy môcủa chính phủ được xác định có thể ảnh hưởng đến các ước tính của mối
quan hệ với tăng trưởng kinh tế như thế nào: nếu quy mô được xác định bằng phần trăm thay đổi trong chi
tiêu chính phủ, thì quy mô là quan hệ tích cực đến tăng trưởng, nhưng nếu nó được xác định bằng tỷ lệ của
chi tiêu chính phủ so với GDP, thì mối quan hệ là tiêu cực.
Kireyev (1998) đã kiểm tra mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP (không dầu khí ) và chi tiêu công bằng cách
sử dụng dữ liệu hàng năm cho giai đoạn 1969-1997. Kết quả của ông đã đề xuất một mối quan hệ có ý nghĩa
và tích cực (dương) giữa chi tiêu công và tăng trưởng GDP (không bao gồm ngành dầu khí) , trong đó sự gia
tăng một phần trăm trong chi tiêu công gây ra khoảng 0.5 phần trăm gia tăng trong GDP (non–oil).Ngược lại,
Ghali (1997) sử dụng vector tự hồi quy (VAR) và Granger phân tích nguyên nhân từ dữ liệu phân tích cho
giai đoạn 1960-1996. Ông không tìm thấy bằng chứng rằng chi tiêu công làm tăng trưởng sản lượng, cho dù
phân tích bao gồm cả tổng chitiêu hay chi tiêu trên tiêu dùng và đầu tư.
Có hai hạn chế của nghiên cứu hiện có về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các loại chi tiêu
chính phủ khác nhau trong Ả Rập Saudi. Đầu tiên, nghiên cứu trước đây hầu hết nhằm mục đích để mô
tả hiệu ứng ngắn hạn của các biến số tài khóa đối với tăng trưởng (sử dụng phân tích VAR) hoặc các mối
quan hệ lâu dài (sử dụng khuôn khổ đồng liên kết). Rủi ro cơ động (runs risks) này có quan hệ nhân quả
giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế có thể được quy cho độc quyền để tương tác ngắn hạn
hoặc các mối quan hệ dài hạn. Thứ hai, là vấn đề của những hạn chế ngân sách dài hạn. Bởi vì chi tiêu
chính phủ phải được cân đối với thu nhập trong dài hạn, phân tích mà bỏ qua mối quan hệ lâu dài này có thể
phóng đại tác dụng củachi tiêu cao lên tăng trưởng. Vì vậy, ví như Bose và các cộng sự. (2003) đã đồng thời
kiểm tra chi tiêu công theo lĩnh vực (giáo dục và y tế) và loại (đầu tư và tiêu dùng) cho 30 nước đang phát
triển. Họ đã tìm thấy bằng chứng cho thấy đầu tư vốn vào con người trong y tế và giáo dục cũng như chi tiêu
vốn tổng thể có một ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng. Tuy nhiên, khi họ kết hợp một ngân sách giới hạn
của chính phủ, chỉ có tổng chi tiêu vốn và chi đầu tư cho giáo dục có hiệu ứng tích cực đến tăng trưởng. Do
đó, các tác giả kể cả các biến số tài chính (ví dụ, thu nhập thuế) để tránh sự thiên hướng các hệ số là kết quả
của sự thiếu sót này (biasing coefficients as a result of this omission.)
Để kiểm tra tác động của chính sách tài khóa đối với tăng trưởng ở Ả Rập Saudi, chúng tôi sử dụng pháp
tiếp cận đồng liên kết thông qua các nghiên cứu khác (ví dụ, M'Amanja và Morrissey, năm 2005; Fasano và
Wang, 2001), cái mà hữu ích đặc trưng đối với mô tả động lực ngắn hạn và mối quan hệ dài hạn giữa sản
lượng (không dầu), tổng thu của chính phủ, và các giải pháp khác nhau của chi tiêu chính phủ. Chúng tôi
xem xét hai câu hỏi để lại chưa được giải quyết trong các tài liệu nghiên cứu hiện nay: thứ nhất, liệu