
186
Chuyển đổi số không phải bức tranh màu hồng
Nhà báo Nguyễn Lê Tân
1
Tham luận này là trải nghiệm của tác giả về những bước chuyển đổi số
đầu tiên trong lĩnh vực hẹp là truyền hình, cùng với đó là sự trăn trở về những
khó khăn, vấp váp thậm chí cả những sai lầm…
1. Mở đầu
Tôi sẽ không bắt đầu tham luận này theo cách thông thường mà sẽ ghi chú
bằng một loạt những hashtag. Những hashtag này ở góc độ nào đó là sự “trả giá”
thực tiễn của chúng tôi.
Cách đây 5 năm, chúng tôi từng háo hức (#haohuc) với khái niệm “chuyển đổi
số” trong lĩnh vực truyền hình. Thời điểm đó, dù còn rất mơ hồ về các nền tảng số,
thị trường số, sản phẩm số, công chúng số... nhưng chúng tôi lại có một nguồn năng
lượng rất lớn thôi thúc để bắt tay vào công cuộc chuyển đổi này. Đấy là sự hăm hở
(#hamho) trước viễn cảnh mình sẽ làm một điều gì đó hợp thời và rất có thể sẽ đạt
được một kết quả gì đó to tát.
Nhưng có vẻ chúng tôi đã lầm!
Chuyển đổi số không phải là một mớ lý thuyết dịch “word by word” từ sách
Tây rồi mang đi rao giảng. Chuyển đổi số cũng không phải những mô hình sao chép
theo kiểu “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”. Chuyển đổi số càng không
phải là vung tiền đầu tư những hệ thống công nghệ đồ sộ rồi hô hoán lên là chúng
tôi đã thành công (trừ trường hợp bạn quá giàu). Và dứt khoát, chuyển đổi số không
thể là những báo cáo nhằng nhịt với kết quả tô điểm bằng trăm view, nghìn like,
triệu sub…
Vậy chuyển đổi số là làm gì?
Chúng tôi nghĩ rằng, nhiều người sẽ thấy buồn cười khi đến giờ này mà còn
đặt câu hỏi đó. Thời 4.0 rồi, hỏi cái gì “hi-tek” hơn đi. Không, chúng tôi không
1
Giám đốc Trung tâm Nội dung số VTC Now – Đài truyền hình VTC

187
muốn đi tìm điều gì khác, chỉ muốn đi tìm chính xác câu trả lời cho câu hỏi này, ít
nhất là cho riêng chúng tôi.
5 năm thực hiện chuyển đổi số ở quy mô nhỏ của một Đài Truyền hình, vì câu
hỏi này mà chúng tôi đã đi hết từ háo hức (#haohuc), hăm hở (#hamho) đến hụt
hẫng (#huthang). Và sau này, cũng có đôi khi là hân hoan (#hanhoan) nhưng cũng
không ít lần là hoảng hốt (#hoanghot), thậm chí là hối hận (#hoihan).
Trong phạm vi tham luận ngắn, chúng tôi sẽ chia sẻ về câu chuyện của chúng
tôi.
Xin mạn phép không bàn quá nhiều về những lý thuyết hàn lâm, những mô
hình Tây - Tàu hào nhoáng…; cũng không hô hoán về bất kỳ điều gì được coi là
thành công của chúng tôi mà chỉ xin cung cấp một vài lát cắt để quý vị có cái nhìn
rõ hơn về một góc rất nhỏ của bức tranh thực tiễn – một bức tranh đôi khi không
được tô vẽ bằng nhiều gam màu sặc sỡ.
2. Chuyển đổi số liệu có phải “Thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”?
#haohuc #hamho
À, câu thành ngữ tiếng Việt này có vẻ mang nhiều hàm nghĩa tiêu cực. Nhưng,
ở thời điểm đầu của quá trình tìm hiểu về chuyển đổi số trong một Đài Truyền hình,
chúng tôi lại không có cảm nhận như thế.
Lúc đó, trong đầu chúng tôi mới chỉ định nghĩa, chuyển đổi số là đưa nội dung
truyền hình lên internet. Cái này thì có gì khó đâu? Chúng tôi từng làm điều này từ
đầu những năm 2010 khi thực hiện nhiệm vụ cung cấp kênh truyền hình và các
chương trình truyền hình cho bà con người Việt Nam ở nước ngoài thông qua
website, IPTV tại nhiều quốc gia... Đúng rồi, thế thì chúng tôi đã là Đài Truyền hình
chuyển đổi số sớm nhất Việt Nam (?). Vậy, vấn đề còn lại là gì? Tốt nhất là đi
nghiên cứu các Hãng truyền hình lớn trên thế giới xem họ có gì mới?
Cách nghĩ và cách làm này đã dẫn dắt chúng tôi ngay lập tức bước vào 1 hành
trình. Đầu tiên là liệt kê và nghiên cứu về hơn 40 ứng dụng OTT, website, IPTV của
các Hãng Truyền hình lớn. Sau đó là kết nối, hỏi han, tìm hiểu. Cuối cùng là tranh
thủ, đan xen trong những chuyến đi để sưu tầm kiến thức về việc “đưa truyền hình
lên internet như thế nào”.

188
Chúng tôi đã từng đi nhờ xe quãng đường gần 600km từ Berlin sang Bonn
(Đức) để tìm gặp bằng được nhóm trực tiếp làm mảng kỹ thuật số của DW. Chúng
tôi chạy tàu từ Den Haag sang Amsterdam (Hà Lan) để gõ cửa Zoomin - 1 công ty
đang là đối tác phân phối nội dung lớn của YouTube. Chúng tôi gặp các nhân viên
của nhà mạng Orange tại Pháp để tìm hiểu cách họ phát triển các hệ thống nội dung
thu phí thuê bao.
Rồi nữa, chúng tôi tham gia khóa học ngắn hạn tại Seoul, Hàn Quốc về sản
xuất cho truyền hình mới và tham quan theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” mô hình
chuyển đổi của Đài SBS. Chúng tôi không bỏ qua những hội thảo của Google dù là
offline hay online vì tin rằng, những kiến thức mang về là cực kỳ hữu ích.
Đúng, chừng đó thật hữu ích. Chỉ có điều, chúng tôi làm gì với những thứ hữu
ích đó bây giờ? Bụng bảo dạ, họ đi trước mình thì cách tốt nhất là mình bắt chước
họ. Thế là một mô hình chuyển đổi được vẽ ra trong đầu dựa trên sự nhào nặn
những gì mà chúng tôi cho là tinh tuý, chắt lọc nhất.
Chúng tôi tham vọng xây dựng “Đài Truyền hình mới trên môi trường số”
thông qua một ứng dụng OTT. Ở đó có tất cả những nội dung mà công chúng số
cần. Ở đó có những tính năng, tiện ích nhằm thoả mãn các khán giả, thính giả, độc
giả khó tính nhất. Ở đó có người dùng tương tác với chúng tôi. Và ở đó gửi gắm cả
những ước mơ của nhóm thực hiện sản phẩm.
Nhưng, chỉ một thời gian ngắn sau, chúng tôi nhận ra rằng, việc nhào nặn
những mô hình được cho là tiên tiến nhất vào quá trình chuyển đổi số thực tế tại nơi
chúng tôi làm việc là chưa chín muồi. Có những điểm đặc thù đã bị chúng tôi bỏ
qua để nhường chỗ cho việc áp đặt một cách làm xa lạ. Nó giống như việc bạn là
câu lạc bộ bóng đá đang chơi ở giải hạng nhất hoặc hạng nhì quốc gia nhưng lại áp
dụng cách quản lý, tổ chức, chiến thuật, chiến lược của một câu lạc bộ ở giải ngoại
hạng Anh vậy.
Bạn sẽ thấy rõ những vấn đề “khập khiễng” này trong câu chuyện của chúng
tôi ở từng mục nhỏ khác nhau.
3. Chuyển đổi số phải chăng là làm app?
#huthang #hoanghot

189
Khi tôi đặt câu hỏi này trong một hội thảo, rất nhiều đại biểu tham dự mà đa
phần là các đồng nghiệp truyền hình lắc đầu: Không phải! Nhưng một điều ngạc
nhiên, theo khảo sát của riêng chúng tôi thì rất nhiều Đài Truyền hình tại Việt Nam
lại đã/đang khởi đầu quá trình chuyển đổi số của mình bằng các dự án đầu tư, phát
triển ứng dụng OTT. Có vẻ như thực tế đã diễn ra trái ngược với những cái lắc đầu.
À, phải rồi, vì đang xây dựng “Đài Truyền hình mới trên môi trường số” nên
việc chuyển đổi đầu tiên và cần thiết phải là chuyển đổi về hạ tầng truyền dẫn. Thực
tế cho thấy, một số Đài Truyền hình lớn tại Việt Nam trong những năm vừa qua đã
đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho hệ thống này.
Lý thuyết thì không có gì sai cả cho đến khi chúng tôi vấp phải một thực tế
khiến toàn bộ những người làm cảm thấy lo lắng, thậm chí sau này là hụt hẫng
(#huthang) và hoảng hốt (#hoanghot). Ấy là thời điểm 2018 khi chúng tôi độc
quyền tường thuật Đại hội thể thao châu Á (ASIAD 2018) trên đầy đủ các nền tảng
phát sóng. Lúc đó, chúng tôi có cảm giác hân hoan như việc các vận động viên vừa
tạo ra một kỳ tích vậy.
Mọi thứ được chuẩn bị nhanh chóng và tươm tất. Hệ thống truyền hình OTT
sẵn sàng với thông báo phát đi là sẽ không chia sẻ bản quyền này cho bất kỳ đối tác
nào. Chúng tôi cũng ngăn chặn mọi ngả phân phối nội dung, ngay cả với những nền
tảng phổ biến như YouTube hay Facebook.
Tất cả thật suôn sẻ. Hệ thống của chúng tôi đảm bảo “một ASIAD sống động
và trơn mướt” như khẩu hiệu mà chúng tôi đề ra. Gần 2 triệu người dùng nhanh
chóng cài đặt ứng dụng của chúng tôi. Chúng tôi cũng vươn lên đứng số 1 trên các
bảng xếp hạng của Google Play và Appstore trong vòng liên tiếp 2 tuần.
Nhưng rồi những khoản phí khổng lồ phải chi trả cho chi phí vận hành, truyền
tải thực sự khiến chúng tôi hoảng hồn và mơ hồ nhận ra rằng, việc này không thể
kéo dài. Mà đúng là nó không thể kéo dài được thật. Chúng tôi không phải là cơ
quan báo chí được bao cấp nên ngay lập tức đối đầu với một bài toán đầy nghịch lý.
Ấy là nội dung càng tốt, người xem càng đông thì chi phí càng cao trong khi khả
năng tạo nguồn thu bù đắp là vô cùng hạn hẹp.
Những trăm like, nghìn view, triệu sub… không để làm gì cả vì thị trường
quảng cáo có cách vận hành không giống như ảo tưởng của nhiều người về các con

190
số. Điều này hình như đã không có trong mớ lý thuyết hàn lâm hay trong các mô tả
đầy hào nhoáng của những người giới thiệu về các mô hình chuyển đổi số hiện đại.
Nhưng phải chăng, đó là do mình kém? Kém thì đúng rồi, cá nhân tôi không
phủ định. Tuy vậy, những năm tiếp theo, quan sát một vài Đài Truyền hình khác
làm OTT, chúng tôi lại thấy “thảm cảnh” tương tự bắt đầu xảy ra. Hàng trăm tỷ
đồng được một số Đài đổ vào lĩnh vực này để đổi lại những ứng dụng OTT mà sau
này tồn tại thực vật hoặc nếu nói một cách phũ phàng thì mọi thứ sẽ kết thúc khi ai
đó mạnh dạn rút ống thở.
Bảng trên là một tổng hợp của chúng tôi về 4 nhóm ứng dụng OTT đáng chú ý
tại Việt Nam trong các năm vừa qua. Theo thứ tự từ trên xuống dưới thì:
- Nhóm 1 là ứng dụng OTT của các Đài Truyền hình.
- Nhóm 2 là ứng dụng OTT của các doanh nghiệp truyền hình trả tiền
- Nhóm 3 là ứng dụng OTT của các doanh nghiệp viễn thông
- Nhóm 4 là ứng dụng OTT của các doanh nghiệp nước ngoài nhăm nhe thị
trường Việt
Trừ nhóm 4, chúng tôi không có đầy đủ số liệu, còn 3 nhóm phía trên, chúng
tôi chưa ghi nhận một đơn vị nào có tuyên bố về lợi nhuận. Tất nhiên, chúng tôi
hiểu, phạm vi tham luận này gói gọn trong lĩnh vực báo chí. Vì thế, việc nêu vấn đề
lợi nhuận có vẻ là sa đà.

