201
Dung hòa giữa phương thức tác nghiệp cũ và mới tại các
quan báo chí vừa và nhỏ trước nhu cầu chuyển đổi số báo chí
Ths. Vũ Hng Thúy
1
Chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí xu hướng đang diễn ra mạnh mẽ
tại Việt Nam. Các cơ quan báo chí dù lớn hay nhỏ đều có nhu cầu tự thân phải
chuyển đổi để thích ứng với những thay đổi ngày càng nhanh chóng của công
nghệ làm báo. Chuyển đổi số không chỉ khiến cho độc giả của báo chí thay đổi
mà mô hình hoạt động của các toà soạn cũng thay đổi. Tuy nhiên, có một thực
tế là, chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí không chỉ vấn đề công nghệ
còn vấn đề con người duy. Trong số hơn 800 quan báo chí tại Việt
Nam hiện nay, tới 90% được tính các quan báo chí vừa nhỏ. Các
báo quá trình hình thành phát triển với những đặc thù nhất định về
sở vật chất là tổ chức bộ máy nhân sự đan xen giữa cũ và mới, giữa tư duy làm
báo cách thức làm báo theo công nghệ mới, giữa đội ngũ nhà báo kỳ
cựu, tuổi những phóng viên trẻ v.vLàm thế nào để dung hoà giữa
phương thức tác nghiệp mới tại các quan báo chí vừa và nhỏ trước
nhu cầu chuyển đổi số hiện nay là vấn đề mà nhiều cơ quan báo chí đang phải
đối mặt.
Từ khóa Keywords : chuyển đổi số báo chí, phương thức tác nghiệp, toà
soạn nhỏ và vừa.
1. Đặt vấn đề:
Theo cách thc t chc nh toà son, nht với các quan báo chí
nh va Vit Nam, mt toà soạn thường được chia làm nhiu phòng, ban,
đứng đầu Ban Giám đốc/Ban Biên tp hoc Hội đồng biên tp. Các phóng
viên, nhà báo cũng được đào tạo theo ng chuyên sâu v một nh vực như
biên tp viên, phóng viên viết, phóng viên nh, quay phim, k thut viên v.v...
1
Báo Pháp lut Vit Nam
202
Các toà son li tiếp tc phân chia phóng viên theo dõi chuyên sâu v từng lĩnh
vực như phóng viên theo dõi mảng kinh tế, phóng viên theo dõi mng văn hoá,
phóng viên theo dõi mng nông nghiệp… Tuy nhiên, chuyển đổi s đã khiến cho
mô hình t chc toà son nhiều cơ quan báo chí thay đổi. Người ta đã nói nhiều
đến Toà son hi tụ, báo chí đa phương tin mt phóng viên “đa di năng”.
S chuyển đổi t phương thức c nghiệp cũ sang phương thức tác nghip mi
đáp ứng yêu cu chuyn đổi s đã khiến cho nhiu Toà son nhanh chóng bt kp
s đổi mi ca báo chí nhưng cũng khiến cho nhiu nhà báo b tt li phía sau.
2. Những hội thách thc đối với các quan báo chí khi chuyn
đổi s
Trên thế giới, chuyển đổi số bắt đầu được nhắc đến nhiều vào khoảng m
2015, phổ biến từ m 2017. Việt Nam, chuyển đổi sbắt đầu được nhắc đến
nhiều vào khoảng m 2018. Chuyển đổi số là bước phát triển tiếp theo của tin
học hoá, được nhờ sự tiến bộ vượt bậc của những công nghệ mới mang tính
đột phá, nhất là công nghệ số.
thể thấy, chuyển đổi số qtrình thay đổi tổng thể, toàn diện của
nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc phương thức sản xuất dựa trên các
công nghệ số. Chuyển đổi số chuyển đổi hình hoạt động dựa trên công
nghệ số, dữ liệu số. Khoa h c công nghệ và đổi mới sáng tạo là tạo ra giá trị mới
dựa trên các đột phá về nghiên cứu khoa h c và ứng dụng công nghệ
2
.
So với các lĩnh vực khác, chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí được đánh
giá là chậm hơn. Bên cạnh những lợi ích nhìn thấy ngay của quá trình chuyển đổi
số báo chí, các quan báo chí đều đứng trước những khó khăn, thách thức về
kinh phí đầu tư, nhân lực thực hiện khi bắt tay triển khai công việc này.
Theo PGS.TS Vũ Văn Hà, Đại học Đại Nam: “Chuyển đổi số trong nh vực
báo chí, truyền thông trước hết chính việc sử dụng các công cụ, giải pháp
công nghệ số để đổi mới hình, cách thức tác nghiệp, sản xuất phân phối
nội dung theo hướng tối ưu hóa hình tổ chức hoạt động của các quan báo
chí, truyền thông . Đây chính hoạt động ứng dụng công nghệ số để làm mới
2
B Thông tin và Truyn thông (2021), Cm nang chuyển đổi s, trang 23, Nxb Thông tin và Truyn
thông.
203
quy trình truyền thống trong sáng tạo phân phối cũng như hưởng thụ các sản
phẩm dịch vụ báo chí, truyền thông”.
3
Chuyển đổi số việc triển khai một loạt những thay đổi về công nghệ
con người để tái cấu trúc cách thức hoạt động báo chí, truyền thông, từ đó tạo ra
những hội giá trị mới trong hoạt động kinh doanh báo chí, truyền thông.
Yêu cầuy tưởng đơn giản tất yếu nhưng thực tế một cuộc đấu tranh dữ
dội trong nội tại các quan báo chí, giữa nhu cầu phát triển thực tế nội tại
của các quan báo chí.
Thống của Bộ Thông tin Truyền thông cho biết, tính tới ngày
30/11/2021, cả nước 816 quan báo chí, trong đó 557 báo tạp chí in;
114 báo thực hiện cả 2 loại hình in điện tử; 29 báo tạp chí điện tử; 16 tạp
chí thực hiện cả 2 loại hình in và điện tử, 72 cơ quan có giấy phép hoạt động phát
thanh, truyền hình với khoảng 40 nghìn người công tác tại các quan báo chí,
17.161 người được cấp thẻ nhà báo
4
.
Trong số gần 40 nghìn người hoạt động báo chí nước ta hiện nay, một
thực tế là, phần lớn trong số đó được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều
độ tuổi khác nhau. Liệu việc chuyển đổi số các Toà soạn xuất phát từ nhu
cầu hoặc mong mỏi của những người đang hoạt động báo chí hay không?
Theo nhận định của Bộ Thông tin Truyền thông, khó khăn lớn nhất của
chuyển đổi sthay đổi thói quen. Thách thức lớn nhất của chuyển đổi số
nhận thức đúng. Chuyển đổi số quá trình thay đổi tổng thể toàn diện. Với
một tổ chức, sự thay đổi, nên trước tiên đó việc của lãnh đạo, của người
đứng đầu, nếu không thì không ai dám làm thể làm. tổng thể
toàn diện nên đó việc của tất cả m i thành viên trong tổ chức
5
. Điều y
thực tế đúng đang diễn ra ở các cơ quan báo chí.
Các quan báo chí đều sớm hiểu rằng, chuyển đổi số trong lĩnh vực o
chí không chỉ giúp tăng năng suất, giảm chi phí n mở ra không gian phát
triển mới, tạo ra các gtrị mới ngoài các giá trị truyền thống vốn có. Tuy nhiên,
3
https://tuyengiao.vn/nghien-cuu/bao-chi-truyen-thong-trong-xu-the-chuyen-doi-so-137238
4
https://www.vietnamplus.vn/infographics-so-lieu-ve-cac-co-quan-bao-chi-viet-nam-nam-
2021/764886.vnp
5
B Thông tin và Truyn thông (2021), Cm nang chuyển đổi s, trang 47, Nxb Thông tin và Truyn
thông.
204
với đại bộ phận nhà báo vốn được đào tạo tác nghiệp với công cụ chủ yếu là y
quay/máy ghi âm/máy ảnh hoặc quyển sổ cây bút, việc phải thích nghi để trở
thành một nhà báo ng nghệ, tác nghiệp trên môi trường mạng với nhiều k
năng cùng một lúc cả một cản trở lớn không phải ai cũng thể nhanh
chóng thích nghi mong muốn. Do vậy, nhu cầu chuyển đổi số các toà soạn
phải bắt đầu từ người lãnh đạo. Từ yêu cầu của lãnh đạo, cả bộ máy phải vận
hành theo.
Thực tế quá trình chuyển đổi số nhiều toà soạn trong thời gian qua cho
thấy, phần lớn các nhà báo đã quen với phương thức tác nghiệp không mấy
mặn không theo kịp các yêu cầu quá trình chuyển đổi số đặt ra. Trong
khi đó, phần lớn các nhà báo trong số y lại đang giữ các vị trí chủ chốt tại các
toà soạn. Bởi vậy, giải pháp các toà soạn thường phải áp dụng thống nhất
về mặt nhận thức trong toàn toà soạn về tầm quan trọng của chuyển đổi số, đặc
biệt đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt. Còn lại, việc triển khai thực tế các công
việc phụ vụ quá trình chuyển đổi số sẽ giao cho một bộ phận riêng, thường
những người trẻ, được đào tạo và đào tạo lại về công nghệ số.
Một khó khăn khác mà các toà soạn cũng phải đối mặt khi tiến hành chuyển
đối số kinh phí triển khai thực hiện. Ngoài các quan báo chí lớn như Đài
Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Nhân dân, Tạp chí Đảng
Cộng sản…., phần lớn các quan báo chí thuộc cấp Bộ hiện nay các đơn v
sự nghiệp, sự nghiệp thoạch toán kinh doanh, không đủ kinh phí cho việc
thường xuyên đổi mới hệ thống máy móc, cập nhật công nghệ đáp ứng yêu cầu
chuyển đổi số. Nếu tiến hành một cách đơn lẻ và không có kế hoạch, các cơ quan
báo chí sẽ liên tục phải đối mặt với tình trạng vừa trang bị xong, hệ thống máy
móc thiết bị lại đã bị lạc hậu do công nghệ thay đổi quá nhanh.
Để giải quyết vấn đề y, tại Diễn đàn “Chuyển đổi số để phục vụ bạn đọc
tốt hơn” do Hội Nhà báo Việt Nam Bảo tàng Báo chí Việt Nam phối hợp tổ
chức đầu tháng 4/2022, Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Phạm Anh
Tuấn cho biết, sẽ một chiến lược chuyển đổi số riêng cho báo chí. Chiến ợc
chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 sẽ giải quyết các
bài toán khó cho các quan báo chí. Trong khi chờ đợi Chiến lược được phê
205
duyệt, Bộ Thông tin và Truyền thông đã quyết định trong năm 2022 dự kiến sẽ
đào tạo 10.000 công chức, viên chức số, trong đó riêng khối báo chí chiếm gần 1
nửa, khoảng từ 3.000-5.000 người.
6
Mặc sự chuẩn bị k lưỡng như vậy, nhưng theo tính toán của Bộ
Thông tin Truyền thông, quá trình chuyn đổi số báo chí đòi hỏi một ợng
kinh phí rất lớn, đặc biệt công đoạn chuyển đổi số mảng sản xuất, quản
lưu trữ nội dung. Trong chương trình chuyển đổi số của Bộ Thông tin Truyền
thông y dựng, đã định hướng cụ thể những vấn đề liên quan nền tảng cho
quản sản xuất, lưu trữ nội dung. Khi chiến lược chuyển đổi số báo chí được
phê duyệt, Bộ Thông tin Truyền thông sẽ đầu xây dựng những nền tảng
chuyển đổi số lớn dùng chung, đặc biệt đầu nền tảng lớn cho 6 quan báo
chí chủ lực. Đối với các quan báo chí vừa nhỏ, Bộ Thông tin Truyền
thông định hướng để các đơn vị y kết nối vào các nền tảng do nhà nước đầu
cho các quan báo chí chủ lực, bên cạnh đó, sẽ y dựng các nền tảng cho các
cơ quan báo chí vừa và nhỏ để các đơn vị chủ động triển khai, kết nối.
Vấn đề đặt ra là, ngay cả khi Chiến lược chuyển đổi số cho các cơ quan báo
chí Việt Nam được pduyệt, các quan báo chí nhỏ vừa Việt Nam
mặn mà và kiên trì chuyển đổi số hay không? Thực tế cho thấy, việc bắt buộc các
báo nhỏ vừa chuyển đổi số không khả thi nếu như các báo không thấy
chuyển đối snhu cầu tự thân, yếu tố sống còn tới sự tồn tại phát triển
của toà soạn.
Thời gian vừa qua, nhiều báo vừa nhỏ nhanh chóng lên kế hoạch bắt tay
vào chuyển đổi số với kvọng đạt được những bước tiến vượt bậc trong việc
phát triển hệ thống báo chí đa phương tiện, nhanh chóng khẳng định thứ hạng
trên hệ thống báo chí Việt Nam tăng doanh thu, nhưng không lâu sau đó, các
báo y đã không đủ kiên trì tiếp tục đầu phát triển báo chí đa phương tiện do
không đủ nhân lực, kinh phí do nguồn thu tăng lên không đáng kể cho với
kinh phí bỏ ra.
Đây là một thực tế có thực và theo ông Lê Quốc Minh, y viên Trung ương
Đảng, P Tởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội N báo Việt
6
https://vneconomy.vn/sap-phe-duyet-chien-luoc-chuyen-doi-so-cho-cac-co-quan-bao-chi.htm