
209
Một số khuyến nghị về định hướng chiến lược chuyển đổi số báo
chí quốc gia
PGS.TS. Bùi Chí Trung
1
Nhà báo Nguyễn Bá
2
TS.Phan Văn Kiền1
Tham luận này, từ việc tham khảo Dự thảo Chiến lược chuyển đổi số báo
chí đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 cùng với phân tích các quan
điểm, góc nhìn từ lý luận và thực tiễn đối với vấn đề chuyển đổi số báo chí, nhóm
nghiên cứu bước đầu đưa ra một số khuyến nghị cơ bản nhằm góp phần hướng
tới một tầm nhìn, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phù hợp cho cả
hệ thống cũng như từng cơ quan, tổ chức.
1. Dẫn nhập
Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030
là nội dung quan trọng có tác động mạnh mẽ tới toàn bộ hệ thống báo chí nước nhà,
cả trên phương diện nghiệp vụ, quản lý nhà nước cũng như vấn đề đào tạo và
nghiên cứu báo chí. Để trả lời cùng một lúc cho rất nhiều bài toán khó như: Cần làm
gì để phát triển hệ thống báo chí theo hướng đa nền tảng, đa phương tiện, đa dịch vụ
một cách tối ưu nhất? Cần có cơ chế mới nào để báo chí có thêm nguồn lực, giữ
vững vai trò trụ cột trong định hướng thông tin, định hướng dư luận xã hội? Việc
phát triển sản phẩm báo chí số, thay đổi cách thức sản xuất nội dung số, truyền
thông số, nâng cao chất lượng trải nghiệm của độc giả có thể được triển khai như
thế nào? Phải làm gì để người dân, tổ chức, doanh nghiệp được tiếp cận thông tin
trên môi trường số theo nhu cầu cá thể hóa, mọi lúc, mọi nơi, không bị hạn chế về
không gian, thời gian, vị trí địa lý? Đồng thời, điểm nghẽn về kinh tế báo chí cần
được giải quyết thỏa đáng như thế nào, làm gì để thúc đẩy các mô hình kinh tế báo
1
Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội.
2
Tạp chí Thông tin và Truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông

210
chí mới vào chuyển đổi cơ cấu, đa dạng hóa nguồn thu báo chí. Các cơ quan báo chí
hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, tối đa hóa năng suất, tối thiểu hóa chi phí, tối ưu
hóa hiệu quả quản lý v.v…
2. Những khuyến nghị về quan điếm, cơ chế, chính sách
“Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm
2030” mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là văn bản vừa mang tính chiến
lược, vừa mang tính kế hoạch hành động để các bộ, ngành, địa phương, tổ chức,
doanh nghiệp căn cứ vào đó triển khai chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan,
đơn vị mình. Trên quan điểm người dân là trung tâm của chuyển đổi số, Chương
trình xác định rõ, những lĩnh vực có tác động xã hội, liên quan hàng ngày với người
dân, thay đổi nhận thức nhanh nhất, mang lại hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí cần
được ưu tiên chuyển đổi số trước, bao gồm: Y tế, Giáo dục, Tài chính - Ngân hàng,
Nông nghiệp, Giao thông vận tải và Logistics, Năng lượng, Tài nguyên và Môi
trường, Sản xuất công nghiệp.
Những lĩnh vực, yếu tố trên là đúng nhưng chưa đủ. Nói đến chuyển đổi số là
nói về mức độ chuyển hóa thông tin, mà nói đến thông tin là nói về bản chất chức
năng của báo chí. Trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại của mình, con người chỉ có
tiêu xài tài nguyên mà chưa từng bao giờ tạo ra tài nguyên. Báo chí là nền tảng
chính để tạo ra nguồn tài nguyên thông tin vô giá. Thực tế là báo chí có tác động tới
đông đảo đối tượng công chúng trên khắp các vùng miền địa lý, ở nhiều lĩnh vực…
Báo chí cùng với các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò trung gian, ở
giữa (Medium – Media – Mediated) như chất keo dính, kết nối mỗi cá nhân trong xã
hội. Xã hội hiện đại không thể thiếu báo chí truyền thông. Nói cách khác, tất cả các
lĩnh vực hoạt động của đời sống hiện đại đều cần sự kết nối của truyền thông như
một yếu tố trung gian của xã hội thông tin. Và như vậy, báo chí truyền thông phải là
mạch sống, là động lực cho tất cả các lĩnh vực hoạt động. Nhưng trong bối cảnh nói
trên, dường như báo chí đang bị xếp ở vị thế thứ yếu, đi sau.
Để thực hiện tốt các chức năng của mình, báo chí không thể nằm ngoài xu thế
chuyển đổi số, thậm chí cần đi đầu trong công cuộc chuyển đổi số. Không chỉ cần
xem chuyển đổ số báo chí là hoạt động của một trong những ngành quan trọng
trong hệ thống nền kinh tế quốc dân, mà phải nhìn từ góc độ chính trị, văn hóa và xã

211
hội. Nhà nước đã đầu tư cho báo chí trong không gian vật lý như thế nào thì bây giờ
cũng phải quan tâm đầu tư hạ tầng, nền tảng cho báo chí, truyền thông trên không
gian số: nền tảng sản xuất và phân phối nội dung; nền tảng an ninh, an toàn thông
tin; nền tảng thương mại, dịch vụ, thanh toán phục vụ kinh doanh nội dung số,
truyền thông số; và phát triển nguồn nhân lực về truyền thông mới….
Chuyển đổi số nói chung và chuyển đối số báo chí nói riêng là chương trình
hành động mới và khó, thậm chí là rất khó và rất mới. Do lĩnh vực truyền thông mới
luôn biến động không ngừng, để việc xây dựng các cơ chế, chính sách quản lý bắt
nhịp với thực tiễn nên áp dụng cách tiếp cận “Sandbox”: “Cái gì không biết quản
thế nào thì không quản, cho tự phát triển, nhưng trong một không gian nhất định,
trong một thời gian nhất định, để các vấn đề được bộc lộ một cách r ràng, mà
thường là không nhiều như lúc đầu các nhà quản lý dự đoán. Sau đó mới hình
thành chính sách, quy định quản lý. Đây là một trong những cách tiếp cận chính
sách phù hợp với cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, phù hợp để đón nhận các
mô hình kinh doanh mới, để đón nhận các sáng tạo đổi mới, các sáng tạo mang tính
phá hủy cái cũ”
3
.
Vấn đề đặt ra là những khung khổ pháp lý hiện nay đang rất nhanh bộc lộ
những hạn chế, bất cập so với biến động của thực tiễn và dần dần là những kẽ hở
hoặc sự ngăn trở đổi mới phát triển. Nhiều nhà nghiên cứu và lãnh đạo quản lý cho
rằng cần đẩy nhanh nghiên cứu sửa đổi Luật báo chí có nội hàm bao quát rộng hơn
đối với lĩnh vực quản lý nhà nước về báo chí, truyền thông phù hợp với điều kiện
mới (ví dụ: cần có sự phân biệt và lượng hóa rõ ràng giữa báo và tạp chí điện tử, cần
có quy định về chế độ lưu chiểu đối với loại hình đặc san, bản tin, trang thông tin
điện tử tổng hợp…), qua đó tạo khuôn khổ thể chế cho phát triển báo chí truyền
thông, trong đó có các phương tiện truyền thông trên Internet.
Trong sự phát triển của không gian thông tin hiện nay, việc bảo vệ thông tin cá
nhân và mối quan hệ giữa thông tin cá nhân với báo chí phải dựa cùng lúc vào hệ
thống của nhiều luật khác nhau như: Luật An toàn thông tin mạng, Bộ luật Dân sự,
Luật Bảo vệ người tiêu dùng và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác như Luật
Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử… Tuy nhiên, hiện nay, mỗi luật đang nhìn nhận
3
https://baochinhphu.vn/print/tan-bo-truong-va-cach-tiep-can-chinh-sach-sandbox-102246937.htm

212
vấn đề này ở các khía cạnh khác nhau, chưa đồng bộ. Do vậy trong bối cảnh truyền
thông mới, trước thách thức về an ninh thông tin nói chung, an ninh thông tin cá
nhân trên mạng nói riêng, cần nghiên cứu, xây dựng ban hành luật về bảo vệ thông
tin cá nhân. Hiện nay, trên thế giới, có khoảng 40 quốc gia đã ban hành các quy
định pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng.
Nói đến chuyển đổi số báo chí cũng đồng thời nói đến việc đổi mới hạ tầng
công nghệ báo chí. Việc thúc đẩy các hạ tầng công nghệ mới phải dựa pháp luật về
công nghệ phù hợp. Như vậy, cần thúc đẩy nhanh chóng tiến trình xây dựng Luật
Viễn thông sửa đổi và sớm xây dựng Luật công nghiệp công nghệ số. Thực tế sau
hơn 10 năm áp dụng, Luật Viễn thông đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp
cần được điều chỉnh để giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong công tác
thực thi cũng như đáp ứng xu thế phát triển các loại hình dịch vụ mới, mô hình kinh
doanh mới; thúc đẩy việc hình thành cơ sở hạ tầng viễn thông mới kết hợp với các
hạ tầng kỹ thuật khác phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội, của môi trường truyền
thông số mà trong đó hoạt động báo chí có vai trò quan trọng.
Chuyển đổi số hệ thống báo chí không thể là một trận đánh đồng loạt, đồng
thời, theo một “công thức chung” để áp dụng máy móc cho tất cả các cơ quan báo
chí. Tùy theo từng điều kiện, bối cảnh, trường hợp cần có những bài toán riêng. Tuy
nhiên, trận đánh đó, chiến lược đó cần phải có những “đột phá khẩu”, những mắt
xích trọng yếu. Trước tiên cần quan tâm đầu tư xây dựng hiện đại các cơ quan báo
chí, truyền thông chủ lực đa phương tiện của Quốc gia (6 cơ quan theo Quy hoạch
báo chí gồm: Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt nam, Đài Tiếng nói Việt Nam,
Thông Tấn xã Việt Nam, Báo Công an Nhân dân, Báo Quân đội Nhân dân), đặc biệt
là thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, hình thành các loại hình truyền thông
mới của các cơ quan này và một số cơ quan báo chí điện tử có ảnh hưởng xã hội để
nội dung báo chí chính thống chiếm lĩnh nền tảng số, nền tảng truyền thông xã hội
trở thành dòng chảy chính về thông tin, có vai trò định hướng dư luận trên không
gian mạng.
3. Một số gợi mở và góc nhìn khác
3.1. Về yêu cầu xây dựng “Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số báo chí”

213
Nếu như trên bình diện quốc gia, việc ra đời “Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi
số” là yêu cầu mang tính bắt buộc, là nội dung được ưu tiên trước hết trong tiến
trình hiện thực hóa chiến lược. Bộ chỉ số này được xây dựng nhằm theo dõi, đánh
giá xác thực, khách quan và công bằng kết quả thực hiện chuyển đổi số theo định
kỳ; so sánh, xác định các thế mạnh và các thách thức của các bộ ngành và địa
phương trong chính phủ điện tử, chính phủ số, từ đó đưa ra các chính sách và chiến
lược phù hợp trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc
gia.
Về cấp độ đánh giá, các bộ chỉ số này là công cụ đo lường chuẩn ở cấp độ
quốc tế, quốc gia, cũng như ở cấp độ các bộ, ngành và địa phương. Về cấu trúc, bộ
chỉ số gồm tổng hợp chỉ số chính, được xây dựng theo các những yếu tố trụ cột của
chuyển đổi số, có tính đến những nội dung trọng tâm và yêu cầu phát triển chính
phủ số của mỗi quốc gia, mỗi bộ, ngành và địa phương cũng như các yếu tố đặc thù
của mỗi lĩnh vực.
Hoạt động chuyển đổi số báo chí sẽ thiếu cơ sở khoa học và xa rời thực tiễn,
thậm chí chỉ mang tính “hình thức, hô hào” nếu như không có một hệ thống sở cứ
xác thực nhằm xác định tính hiệu quả của chuyển đổi số của từng cơ quan báo chí
và cả hệ thống báo chí đạt được ở mức nào, đâu là những hạn chế cần cải thiện để từ
đó ban hành những định hướng, chính sách phù hợp. Ở góc độ này, bộ chỉ số
chuyển đổi số báo chí sẽ là "chỉ dấu" quan trọng để biết tính hiệu quả của chuyển
đổi số đạt được ở mức nào, đâu là những hạn chế cần cải thiện?
Như vậy, có thể khẳng định rằng một trong những yêu cầu cần hướng đến
trong chiến lược chuyển đổi số báo chí Việt Nam tầm nhìn 2030 là việc xây dựng
được những tiêu chí, hệ số đánh giá, khuyến nghị phù hợp. Trước mắt việc tổng hợp
thông tin, xây dựng báo cáo thường niên đánh giá chuyển đổi số cần thực hiện bài
bản, khách quan, công bằng; không phải là thao tác xếp hạng thuần túy mà phải
giúp hình thành những giải pháp khuyến nghị cụ thể để cơ quan quản lý nhà nước
có giải pháp điều chỉnh, thúc đẩy việc hiện thực hóa chiến lược thành công.
Việc xây dựng báo cáo chuyển đổi số báo chí Việt Nam và mục tiêu lâu dài là
báo cáo “Chỉ số đổi mới sáng tạo báo chí” là bài toán cần đặt ra.
3.2. Về việc xây dựng “Không gian thực hành chuyển đổi số báo chí”

