114
Những đặc điểm ca xã hi s và cơ hội, thách thức đối vi
chiến lược chuyn đổi s báo chí Vit Nam t góc nhìn độc gi
TS. Nguyn Th Thúy Hng
1
Tóm tắt: Ngày 3/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 719/QĐ-
Ttg phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số đến m 2025, định hướng đến năm
2030” hướng đến mục tiêu kép vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, hội số,
vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam năng lực cạnh tranh
toàn cầu. Chuyển đổi số xu ớng tất yếu đang diễn ra hiện nay trong các lĩnh
vực của đời sống, trong đó báo chí truyền thông. Bài viết y sẽ trình y hai
nội dung chính: thứ nhất, nêu lên những đặc điểm của xã hội số, dựa trên quan điểm
của Christoph Neuberger, một n nghiên cứu truyền thông người Đức ảnh
hưởng; thứ hai, phân tích một số một số thách thức đối với chiến lược chuyển đổi
số báo chí Việt Nam từ góc nhìn độc giả. Bài viết sử dụng phương pháp tổng
quan tài liệu và phương pháp điều tra hội học với một khảo sát nhỏ (183 sinh
viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Từ khóa: xã hội số, chuyển đổi số, thách thức, báo chí Việt Nam, độc giả
1. Những đặc điểm của x hội số
Chúng ta đã bao giờ tự hỏi: đặc điểm của hội số gì? hội số những
đặc trưng so với những hội trước đây chúng ta đã trải qua hội chưa số
hóa? Christoph Neuberger, một nhà nghiên cứu truyền thông có ảnh hưởng nước
Đức đã suy về vấn đề y, ông gọi đó câu hỏi về độ bao phủ của sự biến đổi.
“Mức độ của sự biến đổi truyền thông chúng ta chứng kiến từ vài m nay lớn
đến đâu? được coi một cuộc cách mạng không? Chúng ta đang trải nghiệm
những sự thay đổi mang tính knguyên? xứng đáng được so sánh với với
Johannes Gutenberg không, phát minh của ông y vào thế kỷ 15 đã đưa đến
1
Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Ni.
115
những thay đổi lớn lao? Hay là chúng ta đánh giá quá cao những gì xảy ra trước mắt
mình?”
2
Christoph cho rằng Internet đã góp phần vào việc tăng tốc của biến đổi hội
m câu trả lời cho câu hỏi: cái thực sự tạo ra những điểm đặc biệt của
internet?
ng chia truyền thông theo hai cách.
Thứ nhất liên quan đến công nghệ chúng ta sở hữu. Về mặt công nghệ,
thể nói rằng internet công cụ không thể tin nổi. ng trích lời của nhà văn Áo,
Peter Glaser: Cái khó nhất của internet giới thiệu vnói. Chúng ta không
hình ảnh r nét về nó”. Các cách nói ẩn dụ như mạng lưới, xa lội thông tin, không
gian mạng, v.v.. cũng không giúp được nhiều trong việc tìm ra nh ảnh t thực
chất internet gì. Việc này hai do: Thứ nhất, internet được coi công cụ đa
năng. Internet cung cấp nhiều lựa chọn hơn bất cứ phương tiện cũ nào. Nó toàn diện
hơn nhiều với phạm vi sử dụng đa dạng, dụ như sự tham gia. Ngoài ra, cũng
cho phép khả năng tạo ra những liên kết tương tác lâu dài, rất cần thiết cho các cuộc
thảo luận, đối thoại. Một đặc điểm nữa tính minh bạch. Trong nhiều nh vực,
chúng ta có khả năng đạt được sự minh bạch với các công cụ hỗ trợ tìm kiếm
3
.
Thứ hai, ông đặt ra câu hỏi: Chúng ta tiếp xúc với công nghệ như thế nào?
Liệu tất cả chúng đều dành cho mọi người? “Điểm đặc biệt của internet là chỗ:
Một mặt cực kdễ uốn về mặt kthuật, người ta thểm m rất nhiều thứ với
nó. Mặt khác, ai cũng thể tham gia vào (…) Một mặt, khả năng tham gia được
mở rộng. Mặt khác, một số lại nằm trong tay của một số nhà khai thác nền tảng cụ
thể. Phương tiện có thể tùy chỉnh rộng rãi, người ta có thể làm nhiều thứ với nó (…)
Một đặc điểm nữa năng lực mở rộng trong thế giới kỹ thuật số. Vào những m
90 thế ktrước, người ta ý tưởng về hai thế giới: một thế giới thực tiễn một
thế giới trong không gian mạng, thế giới ảo, trong đó tồn tại những luật lệ khác, một
thế giới khuyết danh, không có người bằng xương thịt vànơi người ta thể chơi
bằng danh tính ảo, không ràng buộc cũng như không hệ quả cho đời sống thực.
Ngày nay người ta đã suy nghĩ khác. Bởi trên Myspace hay Facebook, người
ta không kết nối những mối liên hệ mới đưa o những mối quan hệ từ đời sống
2
Christoph Neuberber, “Dân chủ và không gian công cộng trong xã hội kỹ thuật số”. Goethe Institute, ã hội
số: Hiểu về xã hội kỹ thuật số, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2022, tr.151-152.
3
Christoph Neuberber, “Dân chủ và không gian công cộng trong xã hội kỹ thuật số”. Sđd, tr. 155.
116
thực vào đời sống ảo. Cả hai thế giới đan xen nhau (…) Cả hai thế giới hòa vào
nhau qua giao tiếp di động và trong tương lai là qua internet vạn vật.”
4
Tác giả gọi đó những đặc điểm thế giới kthuật số khác với những thứ
trước đây chúng ta biết. hệ qucủa thể hiện ba điểm: thứ nhất, sự sụp
đổ của những bối cảnh/ranh giới, tất cả thể cùng tham gia vào, cũng như
internet rất dễ điều chỉnh, không giới hạn, nên cái thiết chế trật tự từ trước
đến nay bị biến mất trên nhiều phương diện. “Ví dụ, trong báo chí, ranh giới giữa
chuyên nghiệp nghiệp bị xóa mờ. Chúng ta các nhà báo ng dân những
người tin rằng họ cũng đang làm việc như một phóng viên. Ranh giới đây rất
hồ. Chẳng hạn như, sự gia tăng của các quảng cáo trá hình bởi những người
ảnh hưởng trên mạng (…) Báo chí công dân và người gây ảnh hưởng là những ví dụ
cho thấy rằng chúng ta thường gặp phải c tác nhân qua lại, những đối tượng
không còn sở hữu một bản sắc cụ thể nữa. Ngay cả ranh giới của những mảng
truyền thông riêng biệt như báo, tạp chí, phát thanh, truyền nh cũng dần mờ đi”
5
.
Thứ hai, sự trở lại của đám đông với những hiện tượng tập thể trên mạng. Christoph
Neuberger cho rằng thực ra các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống,
như báo in phát thanh truyền hình đã bị đặt tên sai đó chưa từng đám
đông theo đúng nghĩa, nghĩa là một số lượng lớn người chủ động tương tác với nhau
trong một không gian, Truyền thông đại chúng thực ra chỉ biết một nhóm đám đông
yên lặng được đặt vào đó. Khán giả đó hoặc ngồi một mình hoặc cao nhất thì
được chia thành các nhóm nhỏ theo mục đích truyền thông. Đám đông được phân
giải y nằm trong tầm kiểm soát. Nhưng trên internet chúng ta đang trải nghiệm
những hiện tượng ơng tác tập thể. Động lực tương tác thông qua hành động tham
gia của rất nhiều người, phản ứng y chuyền, hiệu ứng tuyết lở (hoặc hiệu ứng leo
thang) của các phản hồi, một đám đông chủ động. Thứ ba, Christoph cho rằng công
nghệ càng hoàn hảo, t lại ng trn m quan trọng hơn. Càng ít trở ngại
công nghệ thì càng ít khó khăn trong việc sử dụng “Châm ngôn của Marshall
McLuhan: Phương tiện truyền thông thông điệp (The Medium is the message)
không còn giá trị nữa. Thay vào đó, người ta thể nói như Manual Castell: Trong
hệ thống truyền thông mới thì thông điệp chính phương tiện. Các đặc tính của
4
Christoph Neuberber, “Dân chủ và không gian công cộng trong xã hội kỹ thuật số”. Sđd, tr. 156-157.
5
Christoph Neuberber, “Dân chủ và không gian công cộng trong xã hội kỹ thuật số”. Sđd, tr. 158.
117
thông điệp định hình đặc tính của phương tiện truyền thông. Điều này nghĩa
gì? Chris Anderson, cựu Tổng Biên tập Wired đã viết: Bỗng nhiên xoay quanh
thứ chúng ta muốn chứ không phải là thứ mà các kênh muốn phát. Sự đa dạng trong
lựa ch n này đưa chúng ta quay lại với câu h i về ý nghĩa. Lúc đầu chúng ta đã
muốn làm với công nghệ này, cái hầu như không còn đặt giới hạn cho chúng
ta nữa
6
.
Như vậy, internet hầu như không đặt ra bất kỳ giới hạn nào cho chúng ta.
như một sự tất yếu, chuyển đổi số đang đưa đến cho báo chí, truyền thông Việt Nam
rất nhiều cơ hội cũng như những thách thức.
2. hội thách thức cho chiến lược chuyển đổi số của báo chí Việt
Nam từ góc nhìn độc giả
“Chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí truyền thông trước hết chính việc sử
dụng các công cụ, giải pháp công nghệ số để đổi mới mô hình, cách thức tác nghiệp,
sản xuất phân phối nội dung theo hướng tối ưu hóa hình tổ chức hoạt động
của các quan báo c-truyền thông”
7
. PGS.TS. Văn trong bài viết “Báo
chí, truyền thông trong xu thế chuyển đổi số” đã chỉ ra những lợi ích nổi bật cũng
như những khó khăn nhất định đối với báo chí Việt Nam. Cụ thể những khó khăn về
nhận thức, về nguồn lực đầu tư, về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho quá
trình chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí - truyền thông cũng nviệc thể chế hóa
các quan điểm, chủ trương thành những quy định cụ thể trong các hoạt động chuyển
đổi số.
Tại Diễn đàn “Chuyển đổi số để phục vụ bạn đọc tốt hơn”, Chủ tịch Hội Nhà
báo Việt Nam, Tổng Biên tập báo Nhân n Quốc Minh khẳng định: “Chuyển
đổi số con đường của cả nước báo chí cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Trong bối cảnh kỷ nguyên số với rất nhiều sự thay đổi về công nghệ nói chung, thay
đổi công nghệ làm báo, thay đổi hành vi của độc giả, khán thính giả, chúng ta không
cách o khác phải tích cực số hóa. Chuyển đổi số không chỉ vấn đề công
nghệ, mà còn là vấn đề về con người, tư duy”
8
.
6
Christoph Neuberber, “Dân chủ và không gian công cộng trong xã hội kỹ thuật số”. Sđd, tr. 160-161.
7
PGS.TS. Vũ Văn Hà, “Báo chí, truyền thông trong xu thế chuyển đổi số”, Tạp chí Tuyên giáo, ngày
21/12/2021.
8
Bích Phương, “Chuyển đổi số trong báo chí không chỉ là vấn đề công nghệ”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày
14/4/2022.
118
Trong bài viết nhỏ này, tôi muốn nhấn mạnh một số hội, thách thức cho
chiến ợc chuyển đổi số của báo chí Việt Nam từ góc nhìn độc giả, trên sở một
khảo sát nhỏ với 183 sinh viên tại Trường Đại học Khoa học hội Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Về hội, thể nói sự phát triển về công nghệ tăng trưởng mạnh mẽ số
lượng người dùng internet ở Việt Nam là một cơ hội cho việc chuyển đổi số của báo
chí Việt Nam. Ngày 19 tháng 11 năm 1997, internet chính thc đưc cung cp cho
người dân c nước, tuy nhiên dch v được cung cp trên h tng mạng điện thoi
c định, tốc đ truy cp còn hn chế. Đến năm 2003, internet ng thông rộng
ADSL (MegaVNN) mt trên th trường. Năm 2009, internet p quang FTTH
được trin khai vi tốc độ truy cp mạng tăng đáng kể so với ADSL. Đây cũng
thời điểm VinaPhone khai trương mạng 3G, m ra thi k bùng n internet cho di
động ti Vit Nam. T năm 2010, internet Việt Nam đã những c phát trin
vượt bc với xu hướng chuyn dch t dch v cáp đồng sang cáp quang. Năm 2016,
dch v 4G chính thc được trin khai ti Vit Nam. Năm 2020, dch v 5G đã được
đưa vào th nghim ti thành ph H Chí Minh Ni. Hin ti, 3 nhà mng
Viettel, MobiFone VinaPhone đang th nghim thương mại 5G vi quy nht
định. S phát trin ng ngh đã m tăng trưởng mnh m s ợng người dùng
Internet ti Vit Nam. Nếu vào năm 2000, ch 0.25% dân s s dng Internet thì 20
năm sau, số ngưi s dụng internet đã chiếm 73,2% dân s. Theo Báo cáo Digital
2022 ca WeAreSocial and Hootsuite, Vit Nam mt trong 20 quốc gia ngưi
s dng internet cao nht thế gii vi 72,1 triệu người (chiếm 73,2 % dân s) tăng
4,9% so với cùng kỳ năm 2021.
Tác gi đã thc hin mt kho sát nh vi 183 sinh viên tại Trường Đại hc
Khoa hc hội Nhân văn, Đại hc Quc gia Nội trong độ tui t 18 đến 22
và kết qu nhn thy ch 25.1% sinh viên s dụng internet dưi 6 gi mi ny, còn
35% sinh viên đưc hi dành 6-7 tiếng mi ngày, 31.1% sinh viên dành 8-9 tiếng
mi ngày, 8.7% sinh viên dành trên 10 tiếng mỗi ngày trên internet. Như vậy
75% các bạn trẻ trong diện khảo sát sử dụng internet hơn 6 gimỗi ngày, đó là điều
kiện rất thuận lợi để cho thị trường báo chí số.