
Chuyển dạng tài liệu dễ dàng hơn với công nghệ số
Paul Conway
- Trưởng phòng, Phòng Bảo quản, Thư viện
Trường Đại học Yale
Tóm tắt
Bài viết này nhằm ba mục đích. Trước tiên, bài viết định
nghĩa các công nghệ số dưới góc độ của truyền thông và mã
hoá. Tiếp theo, bài viết trình bày những thành ph
ần then chốt
của một hệ thống công nghệ ảnh số (digital imaging system)
và những bước quan trọng nhất trong quá trình tạo hình ảnh
số. Cuối cùng, bài viết nêu ra một số vấn đề lớn cần phải l
ưu
ý khi các th
ư viện và trung tâm lưu trữ chuyển từ quá trình
thử nghiệm công nghệ số sang sử dụng nó như một công cụ
để chuyển đổi cách thức hoạt động của mình.
Mục lục
Nh
ững khái niệm cơ bản về kỹ thuật số
Sản phẩm và quá trình tạo hình ảnh số
Nh
ững vấn đề cần lưu ý
Giới thiệu
Chúng ta đang sống trong một thế giới số. Kỹ thuật số hiện

hữu ở mọi nơi. Số bàn phím nhiều hơn cả số nhân viên văn
phòng. Ai cũng có riêng một trang Web. Không còn ai phải
đem theo tiền mặt. Những từ như "bitslag", "jitterati",
"NIMQ" và "CGIJoe" xuất hiện trong những câu chuyện
thường ngày. Những nhà tỷ phú công nghệ dường như sở
hữu những bản sao kỹ thuật số của tất cả những kho tàng
nghệ thuật. Đối với các thư viện và trung tâm lưu tr
ữ, lo ngại
dường như càng tăng lên rằng nếu chúng ta không áp dụng
kỹ thuật số, không hoà mình vào kỹ thuật số, không tư duy
kỹ thuật số thì chúng ta đang tự giam mình trong một bảo
tàng giấy khổng lồ.
Thế nhưng, thách thức lớn nhất mà chúng ta gặp phải có lẽ
không phải là đi theo công nghệ số mà phải là xây dựng một
ngôn ngữ chung để mô tả những biến đổi có tác động phi
thường như vậy tới cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Một
vốn từ chung là yếu tố then chốt để xây dựng một xã hội
hành động và một tầm nhìn chung về tương lai giữa những
người đang gánh trách nhiệm lưu giữ các nguồn lực văn hoá
của đất nước. Jim Taylor và Watts Wacker chỉ ra rằng "Nếu
nhìn lại lịch sử, giá trị thực sự đọng lại từ cuốn Những xu
hướng lớn (Megatrends) của Naisbitt và Làn sóng thứ ba
(Third Wave) của Toffler's hoá ra lại là từ ngữ chứ không
phải thế giới quan". Không đâu mà từ ngữ lại đáng để bàn
hơn là trong cách nhìn của chúng ta về vị trí của công tác

bảo quản trong thế giới số mà chúng ta đang sống.
Nh
ững khái niệm cơ bản về kỹ thuật số
ở mức độ cơ bản nhất, các công nghệ số là một sự tiếp nối
cách thức mà từ xưa đến nay chúng ta giao tiếp với nhau.
Nhu c
ầu giao tiếp tạo ra động cơ và cơ s
ở hợp lý cho sự phát
triển của đủ loại công nghệ. Thế giới số ngày nay gắn liền
với việc sáng tạo, chia sẻ và sử dụng thông tin dưới dạng số.
Thông tin số hoá là những dữ liệu được cấu trúc và xử lý,
lưu trữ và nối mạng, được trả tiền và được bán.
Thông tin nằm ở nhiều dạng khác nhau. Một trong những
cách phân biệt các dạng này là phân biệt giữa thông tin
tượng hình và thông tin mã hoá. Chúng ta hãy mô tả điều
này bằng cách nhìn vào rất nhiều cách biểu diễn chữ cái phổ
biến nhất trong bảng chữ cái Latinh - chữ cái E - bắt đầu với
những biểu tượng sơ khai của bảng chữ cái in.
Một bài học lịch sử
Thời kỳ từ phát minh của Guntenberg vào gi
ữa thế kỷ 15 cho
đến năm 1500 thường được gọi là sơ kỳ. Vào thời kỳ này,
các nhà in và nhà làm sách phải tốn khá nhiều công sức để
làm cho sản phẩm của mình - từ kiểu chữ, định dạng đến
trình bày - có bề ngoài và cách sử dụng giống như những
cuốn sách viết tay của những thế kỷ trước. Chỉ đến khi lý

thuyết về bảng chữ cái và lý thuyết về sách xuất hiện vào
khoảng thời kỳ mà tác phẩm cổ điển của Geofroy Tory được
thể hiện trên cấu trúc bảng chữ cái Latinh, những nhà làm
sách mới có thể bắt đầu tận dụng được phát kiến công nghệ
của Gutenberg.
Sơ đồ 1 là minh hoạ của chữ hoa "E" trong tác phẩm Champ
Leury của Tory năm 1529 được viết nhằm phát triển lý
thuyết về bảng chữ cái trên cơ sở các bộ phận của cơ thể
người và những nguyên lý cơ bản của Ơ-clit (Euclid). ở đây,
chữ cái "E" là một mẫu vẽ bằng mực trên giấy.
Thế giới được định hình bằng các chuỗi số 1 và số 0 vốn tồn
tại đã từ rất lâu. ý tưởng về máy tính số bắt nguồn từ hơn
300 trước đây trong bộ óc đầy sáng tạo của nhà toán học
người Đức Gottfried Wilhelm von Leibnitz. Năm 1679,
Leibnitz tưởng tượng ra một thiết bị mà trong đó các con số
nhị phân được thể hiện bằng những hạt nhỏ hình cầu, tuần
hoàn trong một cỗ máy như kiểu máy trong trò chơi b
ắn đạn,
được điều khiển bởi một dạng sơ khai của phiếu đục lỗ. Ông
mô tả một hệ thống số hoàn chỉnh mà trong đó tất cả các
phép tính đều có thể biểu diễn bằng những tập hợp của số 1
và số 0 - cách tiếp cận giống hệt cách mà các công nghệ số
ngày nay đang sử dụng.
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên sơ khai của kỹ thuật số

- thời kỳ được đánh dấu bằng những nỗ lực thầm lặng nhằm
làm tạo ra những sản phẩm kỹ thuật số có hình thức và tính
năng giống như những sản phẩm công nghệ tương tự
(analog) cùng loại. Nhưng chỉ khi nào chúng ta xây dựng
được một lý thuyết về biểu diễn thông tin dạng số chúng ta
mới có thể khai thác hết sáng tạo toán học của Leibnitz.
Ngày nay, lý thuy
ết đó đang được hình thành.
Sơ đồ 2 là một mẫu chữ tượng hình khác - ch
ữ Braille. ở đây
chữ cái "e" được biểu diễn bằng những dấu chấm nổi to và
nhỏ theo những đường kẻ có thể cảm nhận được. Cũng cần
lưu ý rằng cùng một mẫu chữ có thể được hiểu hoặc là chữ
"E" hoặc là số "5" tuỳ thuộc ngữ cảnh của mẫu chữ đó được
sử dụng. Ngữ cảnh cũng là ý tưởng rất quan trọng đối với
việc biểu diễn thông tin dưới dạng số. Đối với chữ Braille,
nếu bạn biết ngữ cảnh và hiểu được mẫu chữ, việc giao tiếp
sẽ nhanh chóng và hiệu quả.
Ngôn ng
ữ Ký hiệu của Mỹ sử dụng dấu hiệu làm biểu tư
ợng.
Đó là ngôn ngữ mà người ta kết hợp hình dáng và c
ử chỉ của
bàn tay để truyền đạt ý nghĩa. Hình dáng mà không có c
ử chỉ
mới chỉ là một nửa của quá trình (truyền tin). Giao tiếp phụ
thuộc vào việc cùng hiểu ý nghĩa của cả hai thành phần đó
của ngôn ngữ. Sơ đồ 3 là sự thể hiện dưới dạng tĩnh của chữ
cái "E".

