LUẬN VĂN:
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát
triển khoa học và công nghệ từ năm
1996 đến năm 2006
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, những thành tựu to lớn của cuộc cách
mạng KH&CN hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng
cao năng suất lao động xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia
làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống hội loài người. Bước vào thế kỷ XXI, trong
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, giao thông vận tải, môi trường... đều
những biến đổi to lớn do tác động của cuộc cách mạng KH&CN. Cùng với việc xuất hiện
những cơ hội mới cho sự phát triển thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế, KH&CN, thông tin... sẽ là
những thách thức không nhỏ đối với nhiều quốc gia trên thế giới.
Nhờ vận dụng nhanh chóng sáng tạo những thành tựu mới nhất của KH&CN,
cũng như tận dụng hiệu quả làn sóng đổi mới công nghệ, nhất công nghệ thông tin,
công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học... nên cục diện hiện nay của nhiều nước, nhiều khu
vực trên thế giới đã có sự thay đổi căn bản. Trong nhữngm đầu của thế kỷ XXI, trên quy
toàn cầu, nhiều nước đã y dựng cho mình cấu sản xuất nền tảng của stăng
trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc ứng dụng các thành tựu KH&CN, nhất các công
nghệ cao; các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) với nền tảng hoạt động xử thông tin; tri thức quyền sở hữu trí tuệ đang
được coi là tài sản quan trọng và quý báu nhất của mỗi quốc gia, sáng tạo là động lực của sự
phát triển.
Việt Nam quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, tiềm lực KH&CN còn yếu, trình
độ công nghệ còn lạc hậu, do đó quá trình CNH, HĐH đất nước tất yếu phải được tiến hành
thông qua cách mạng KH&CN.
Nhận thức được vai trò to lớn của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước, trước
hết sự phát triển của kinh tế - hội, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn rất quan tâm và đã đề ra một số nghị quyết về KH&CN (như Nghị
quyết 37 của Bộ Chính trị khoá IV; Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khoá VI; Nghị quyết 01
của Bộ Chính trị Nghị quyết TW7 khoá VII...). Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước, sự quan m của Đảng về KH&CN được thể hiện nét trong các Nghị quyết của
Đại hội lần thứ VIII thứ IX của Đảng, nhất trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2
Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá IX.
Với sự quan m lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với lĩnh vực KH&CN, từ sau
năm 1996 đến nay, KH&CN Việt Nam đã những bước phát triển nhảy vọt, góp phần to
lớn vào thắng lợi của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên: "Nn KH&CN nưc ta phát trin còn chậm, chưa ơng xứng với tiềm ng sẵn có,
chưa đáp ng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ CNH, H, còn thua kém so với nhiều
ớc trong khu vực" [16, tr.51]. Nguyên nhân chyếu : Một số chủ trương của Đảng về
KH&CN chưa được thchế hoá đầy đủ, chưa được quán triệt trong hoạt động thực tế của c
cấp chính quyền, các Bộ , ngành, địa phương; phương pháp quản nhà nước đối với KH&CN
chưa đổi mới kịp thời; chậm tổng kết thực tiễn để phát hiện những vướng mắc nảy sinh trong
nh vực hoạt động KH&CN để đổi mi, thchế hoá cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
cuộc sống... Tất cả đã làm cho hiệu quả tác động của c ch trương, chính ch về KH&CN
n hạn chế, triển khai thiếu đồng bộ, đưa đến trình độ KH&CN nước ta còn lạc hậu so với các
ớc trong khu vực và trên thế giới. Đây ng mặt hạn chế và khó khăn lớn nhất trong sự
phát triển của nền kinh tế nưc ta khi Việt Nam đã tr tnh thành viên chính thức của
WTO.
Chính vậy , việc nghiên cứu, tổng kết về quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo của Đảng trong việc thực hiện Định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ
CNH, HĐH đất nước một vấn đề rất cần thiết, giúp chúng ta hiểu được vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với sự phát triển KH&CN Việt Nam, thấy được những thành tựu hạn chế
của KH&CN Việt Nam, từ đó tìm ra những giải pháp chủ yếu cho việc nâng cao phát
triển tiềm lực KH&CN nước ta trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước, trong đó giải pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với khoa học - công nghệ. Với những do đó, tôi đã chọn vấn đề: "Đảng Cộng
sản Việt Nam lónh đạo phát triển khoa học công nghệ từ năm 1996 đến năm 2006"
làm đề tài cho luận văn thạc sĩ, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã nhiều tài liệu, nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của nhiều nhà khoa học,
nhà nghiên cứu lý luận trong nước và quốc tế viết về KH&CN như:
- PTS. Danh Sơn (chủ biên), Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát
triển kinh tế - xã hội trong CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb KHXH, Nội, 1999.
- PTS. Trần Thanh Phương, Tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
đối với nền kinh tế các nước bản phát triển, một số gợi mở về thời thách thức đối
với Việt Nam, Luận án PTS Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nội,
1996.
- PTS. Trần Thanh Phương, Tác động và những hệ quả kinh tế - hội của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ với sự phát triển ngưỡng cửa năm 2000, Hà Nội.
- Bộ Khoa học công nghệ môi trường, Chiến lược CNH, HĐH đất nước cách
mạng công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
- GS.TS Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải, duy khoa học trong thời đại cách mạng
khoa học công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
- V.V.Đênixp, Nguyn Duy Thông, Nguyn Trng Chuẩn, Cách mạng khoa hc k thut
công cuc y dng CNXH Vit Nam, Nxb Tiến bộ, M, 1986.
- B.Kêđrốp (chủ biên), Cách mạng khoa học, kỹ thuật CNXH, Nxb KHXH,
Nội, 1978.
Một luận văn, luận án các chuyên ngành Quản kinh tế, Kinh tế chính trị, Kinh tế
phát triển... bàn đến vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của kinh tế - hội cũng
như việc ứng dụng các thành tựu của KH&CN hiện đại trong các lĩnh vực kinh tế, như:
- Nguyễn Kim Phúc, Khoa học công nghệ đối với phát triển nuôi trồng thủy sản
Việt Nam: Thực trạng giải pháp, Luận văn thạc kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Đức Lợi, Vn dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sự phát triển nông
nghiệp nước ta, Luận án tiến kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nội,
2000.
- Cao Quang Xứng, Tiến bộ khoa học, công nghệ tiến trình hình thành kinh tế tri
thức Việt Nam, Luận văn thạc kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Nội, 2003.
- Nguyễn Minh Ngọc, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của ngành thuế
Việt Nam, Luận văn thạc kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nội,
2005.
Nhiều bài viết ca nhiều c giả được đăng tải trên các tạp c như:
- Đặng Ngọc Dinh, Vấn đề định hướng chiến lược phát triển khoa học công nghệ
nước ta, Tạp chí Cộng sản, số 3/1998.
- GS.VS Đặng Hữu, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học - công
nghệ, Tạp chí Cộng sản, số 8/1990.
- GS.VS Đặng Hữu, Phát triển đất nước bằng khoa học công nghệ, Tạp chí Cộng
sản, số 8/1991.
Ngoài ra còn có những tài liệu dùng trong các lớp tập huấn giảng viên Mác - Lênin,
tưởng Hồ Chí Minh các trường Đại học Cao đẳng tổ chức hàng m như: "Khoa học
công nghệ quá độ sang thế kỷ XXI toàn cầu hoá" của GS.TSKH Đình Cự (2000);
"Toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam" của TS. Chu Văn Cấp
(2003)...
Nhưng tất cả đều mới chỉ đề cập đến vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của
kinh tế - hội nói chung của đất nước nói riêng, chưa một công trình, một đề i
khoa học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thực
hiện chiếnợc phát triển KH&CN ởớc ta trong thời k đẩy mạnh CNH, HĐH đất nưc, nht
trong giai đon từ 1996 đến m 2006. Tuy nhiên để m những yêu cầu, nhiệm vụ của đề
i này, lun văn kế thừa kết quả ca các công trình nghiên cứu trưc.
3. Mc đích và nhiệm v của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Nhằm góp phần làm sáng tỏ n quá trình nhận thức lãnh đạo, chỉ đạo của TW
Đảng, Chính phủ về pt triển KH&CN t1996 đến 2006, qua đó khng định việc đổi
mới tăng cường s lãnh đạo của Đng là nhân t quyết định làm cho KH&CN trở
thành động lực mạnh mẽ ca snghiệp CNH, HĐH đt nước, p phần đảm bảo cho s
phát triển bền vững ca đất nước trong thời kỳ hội nhập.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn