Đề cương sinh lý học thần kinh cấp cao
Chương 1:
Câu hỏi tự luận
1.Trình bày các quan niệm về hoạt động thần kinh cấp cao trước thế kỉ XIX
và nêu ý kiến của anh ( chị) về các quan niệm đó
Quan niệm 1:
Người thầy thuốc lỗi lạc thời cổ Hy LẠP là Hypocrat đã xác định vai trò của
não đối với hoạt động tinh thần của con người Chính ông cũng đã mô tả một số
hiện tượng rối loạn chức năng của não. Ông cho rằng não là nơi sinh ra cảm xúc
và tư duy.
Quan điểm cá nhân:
Quan niệm 2:
2 nhà danh y Hy Lạp là Gerophin và Erazitrat vào thế kỷ thứ hai trước Công
nguyên: xác định mối liên hệ giữa cấu trúc của não và khả năng hoạt động trí
tuệ của con người. Các tác giả này đã đề cập đến mối quan hệ giữa các nếp nhăn
của não với khả năng thông minh của con người.
Quan điểm cá nhân:
Quan niệm 3:
Galiêng thì cho rằng “linh khí” nằm trong não và các dây thần kinh đã chỉ huy
năng lực, tâm linh, kí ức và tư duy. Ông còn phát hiện ra trên não có những
vùng điều khiển cử động của tay, chân, nét mặt và những động tác nhai, nuốt,
kêu rên
Quan niệm 4:
R.Đecac khai sinh ra khái niệm phản xạ. Ông đã dùng khái niệm “phản xạ” để
giải thích các hành động đơn giản của động vật và của con người. Theo ông,
phản xạ là sự phản ứng của cơ thể đối với tác nhân kích thích tác động vào nó
và do “tinh khí” của động vật gây ra, phản xạ là sự phản ánh của cảm giác thành
vận động.
Quan điểm cá nhân:
Quan niệm 5:
Cabanit cũng xác định vai trò của não đối với hoạt động tư duy, nhưng quan
niệm của ông còn rất đơn giản. Theo ông thì não tiêu hóa cảm giác và bài tiết tư
duy một cách hữu cơ.
Quan điểm cá nhân:
Quan niệm 6:
Vôc cho rằng não tiết ra tư duy đại loại như gan tiết mật, thận tiết ra nước tiểu.
Quan điểm cá nhân:
Câu 2:
Trình bày học thuyết của Xechenov về hoạt động thần kinh cấp cao và nêu ý
kiến của anh (chị) về học thuyết này
Hoạt động cũa não được coi là hoạt động phản xạ nhờ những công trình nghiên
cứu của I.M. Xechenov. Theo ông, nguyên nhân đầu tiên của bất cứ hành vi nào
cũng đều luôn là sự kích thích từ bên ngoài, bởi vì nếu không có kích thích ấy
thì không có các hành vi và cũng không có bất cứ tư tưởng nào. Ông còn khẳng
định rằng trong việc hình thành phản xạ không chỉ có sự tham gia của hung
phấn mà còn có sự tham gia của ức chế.
Ông khẳng định rằng hoạt động tâm lý của con người không chỉ là một thể
nghiệm chủ quan mà bao giờ nó cũng gắn liền với hoạt động của phản xạ để đáp
ứng lại sự tác động của môi trường xung quanh do não điều khiển.
Ý kiến cá nhân:
Câu 3:
Trình bày học thuyết của các tác giả khác về hoạt động thần kinh cấp cao và
nêu ý kiến của anh chị về học thuyết này.
N.E Vveđenski đã tìm ra mối liên quan giữa hưng phấn và ức chế
I.P.Palov cho rằng con người là hệ thống hoàn chỉnh và trong hoạt động của hệ
thống này, hệ thần kinh có một vị trí tối cao và có vai trò quyết định
Câu 4:
Trình bày học thuyết của Pavlov về hoạt động thần kinh cấp cao nêu ý kiến của anh
(chị) về các học thuyết này.
Nhà sinh học Nga Pavlov người đã đưa ra khái niệm phản xạ điều kiện xây dựng
nên học thuyết về phản xạ có điều kiện.
Nếu động vật chỉ dựa vào các phản xạ không điều kiện thì rất khó thể tồn tại. Nếu
động vật chỉ biết ngồi một chỗ nuốt thức ăn khi ngưòi ta đưa tận miệng thì chúng sẽ bị
chết. Chúng chỉ có thể sống được khi biết tìm thức ăn qua những tín hiệu của thức ăn như mùi,
màu sắc, âm thanh, hình dáng, hay các dấu hiệu khác của môi trường chứa thức ăn. Nhưng
sống không phải chỉ biết ăn còn phải biết tự vệ. Cũng dựa vào những tín hiệu của môi
trường động vật phát hiện ra kẻ thù để biết cách tự vệ bằng sự lẩn tránh hoặc chống trả.
Nhờ các đường liên hệ thần kinh tạm thời trong vỏ não động vật phát hiện ra đường đi
của bầy, đàn hoặc đường đã đi qua để trở về noi ở của mình...
Tất cả các nhu cầu đó đòi hỏi phải một hình thức phản úng mới mẻ, linh hoạt, được hình
thành trong đòi sống thể thể thay đổi tuỳ từng điều kiện sống. Loại phản xạ này chỉ
được hình thành tồn tại trong những điều kiện nhất định nên Pavlov gọi phản xạ
điều kiện.
Câu 5:
Trình bày nội dung cơ bản của nguyên tắc quyết định tính theo học thuyết của Pavlov
Mọi phản xạ của thể người động vật đều được hình, thành theo chế nhân quả.
Chúng đều các phản ứng của thể đối vói các tác nhân kích thích tác động từ môi trường
bên ngoài hay môi trường bên trong của thể. Tính chất của phản xạ được xác định bởi
các tác nhân kích thích gây ra nó. Nói một cách khác, tính chất của phản xạ do tính chất của
tác nhân kích thích quyết định. Bỏi vậy, trong những điều kiện giống nhau, cùng một tác nhân
kích thích sẽ gây ra tác động giống nhau.
Hành vi của con người một tập họp các phản xạ. Nếu như phản xạ do tính chất của tác
nhân kích thích xác định thì hành vi cũng do tính chất của tác nhân kích thích xác định. Điều
này nghĩa mọi hành vi của trẻ đều con đường riêng của xuất hiện trong những
thòi điểm nhất định. Nhưng trong thực tế, các hoạt động tâm hành vi con người đều
hoạt động phản xạ nhưng mọi hoạt động phản xạ không phải đều hoạt động tâm lí. vậy,
nguyên tắc này chưa giải thích được đầy đủ thoả đáng về sở sinh học của các hoạt
động tâm lí của trẻ.
Câu 6:
Trình bày nội dung cơ bản của nguyên tắc cấu trúc theo học thuyết của Pavlov.
Theo Pavlov, các hiện tượng về thần kinh của con người bắt nguồn từ sở vật chất của
nó. Kết quả của quá trình hoạt động thần kinh tạo nên các hoạt động, các hành vi của con
người. Các hành vi của con người chính quá trình phối họp các phản xạ điều kiện theo
những cách thức nhất định để tạo nên các hệ thống phản xạ vùng phức tạp nhưng lại thống
nhất vói nhau. chê sinh của các phản xạ điều kiện các đường liên hệ thần kinh tạm
thòi. Bản thân của các đường liên hệ thần kinh tạm thòi bao giờ cũng do một cấu trúc nhất
định thực hiện. Chính các cấu trúc này đã tham gia vào việc tạo ra các mối tương quan chức
năng mói trong quá trình phát triển thể. Bất một hành vi nào của con người cũng đều do
một cấu trúc nhất định trên vỏ não thực hiện. Ví dụ, hoạt động ăn uống của con người qua các
lứa tuổi cũng tuân theo nguyên tắc cấu trúc. Để có được hành vi ăn uống đúng cách, con người
phải luyện tập từng phản xạ có điều kiện cho thành thạo. Tham gia vào hoạt động ăn của trẻ có
thể kể tói một số phản xạ bản như cách cầm thìa, cầm bát, cách xúc cơm, vun cơm trong
bát, cách đưa cơm vào miệng, cách nhai cơm và cách nuốt thức ăn... Như vậy, chỉ có một hành
vi tương đối đơn giản “ăn cơm” đã một cấu trúc khá phức tạp rồi. Trong những hành
vi phức tạp hơn, số lượng phản xạ tham gia vào hành vi càng nhiều tạo thành một cấu trúc
cùng phức tạp, đỏi hỏi sự tham gia của nhiều bộ phận sự điều khiển linh hoạt của hệ
thần kinh. Điều khiển những hành vi phức tạp trong hoạt động cảm xúc và hoạt động tinh thần
phải sự tham gia của vỏ não. Để thực hiện được chức năng này, bán cầu đại não đã hoạt
động theo nguyên tắc phân tích tổng họp các xung động thần kinh để đưa ra được các hành
vi đúng đắn và có hiệu quả cao.
Câu 7:
Trình bày nội dung cơ bản của nguyên tắc phân tích và tổng họp theo học thuyết của Pavlov.
Trong hoạt động thần kinh luôn song song tồn tại hai quá trình đối lập và hỗ trợ lẫn nhau. Đó là quá
trình phân tích và quá trình tổng họp các xung động thần kinh.
Quá trình phân tích là quá trình tách sự vật ra thành các yếu tố thành phần. Quá trình phân tích diễn
ra các bộ phận của hệ thần kinh trung ưong ngay các quan phân tích. Quá trình phân tích lúc
đầu xảy ra ngay tại các quan thụ cảm. Khi tác nhân kích thích tác động vào các quan thụ cảm thì
các quan thụ cảm thực hiện quá trình phân tích các thuộc tính của chúng để tạo thành các xung động
thần kinh. Còn các dạng phân tích cao cấp nhất được tiến hành ở vỏ não.
Quá trình tổng họp là quá trình tổng họp các yếu tố thành phần thành một hệ thống chung của các sự
vật, các hiện tượng của thế giới khách quan. Kết quả của quá trình tổng họp là giúp cho con người tri giác
một cách trọn vẹn các sự vật, các hiện tượng của thế giói khách quan. Cơ sở của sự phân tích và tổng họp
là sự tương tác giữa các quá trình hưng phấn và ức chế về mặt không gian cũng như về mặt thời gian.
Câu 8:
Trình bày nội dung học thuyết của Anokhin về hệ thống chức năng của hoạt động thần kinh cấp cao.
Theo P.K. Anokhin, các chức năng thần kinh tham gia vào quá trình hình thành hành vi động vật
không phảicác phản xạ đơn thuầnmỗi hành vi được thực hiện nhờ sự tham gia của các hệ thống
chức năng. Muốn tham gia vào một hệ thống chức năng, các phản xạ phải có các điều kiện là cùng chung
mục đích, có quyền lọi chung và phải loại bỏ bớt độ tự do sinh lí của chúng, l oàn bộ quá trình hình thành
hành vi của động vật gồm ba giai đoạn chính: giai đoạn tổng họp hướng tâm; giai đoạn đưa ra cách giải
quyết, giai đoạn hình thành kêt quả thông tin ngược chiều. giai đoạn tổng họp hướng tâm, bên cạnh
các thông tin mở đầu, vỏ não còn tiếp nhận cả các thông tin về tình huống trong đó đã diễn ra hành
động. Chỉ trong trạng thái thức tỉnh, động vật mói có khả năng tiếp nhận, xử líchọn lọc thông tin, đưa
ra chưong trình hành động và kiểm tra lại các diễn biến của hành vi. Bộ phận đảm bảo trưong lực cho não
tổ chức lưới. Việc tiếp nhận, xử lưu trữ thông tin do vỏ não đảm nhiệm vói sự tham gia của thuỳ
chẩm, thuỳ thái dưong và thuỳ đỉnh.