DCH HC VIT NAM CUỐI ĐI NGUYN:
Tìm hiu “Chu Dch Cu Nguyên” 周易究原(1916)
của Lê Văn Ngữ 黎文敔 (1859–?)
Yijing Scholarship in Late-Nguyen Vietnam:
A Study of Le Van Ngu's 黎文敔 Chu Dich Cuu Nguyen 周易究原
(An Investigation of the Origins of the Yijing, 1916)
Benjamin Wai-ming Ng. (Ngô Vĩ
Minh 吳偉明)
(Chinese University of Hong Kong)
Lê Anh Minh dch
Dch hc Vit Nammt lĩnh vực nghiên cứu chưa được biết nhiu.
Rt ít tác phm của người Vit viết v Kinh Dch hin tn gii hc gi
hiện đại v Kinh Dch vbản không [2]. Bài tham lun này ch
ớc đầu tìm hiu Dch hc Vit Nam tc độ đối chiếu, văn bản, và lch
sử. Trước tiên, tôi khái quát v Dch hc Vit Nam t khi Kinh Dịch được
du nhp vào Việt Nam đầu đời Nguyn (1802–1945), đồng thi gii thiu
vài hc gi tiêu biu cùng tác phm ca h, nêu các đặc điểm ca Dch
hc Vit Nam. Phn chính yếu ca bài tham lun này nhằm phân tích văn
bn ca mt trong các bn bình chú Kinh Dch hin tn, đó tác phm
Chu Dch Cu Nguyên 周易究原 (Kho cu ngun gc Chu Dch, 1916).
Bài này nhm giúp chúng ta hiu biết sâu thêm v s phát trin ca Dch
hc Nho hc Vit Nam vào thi k đầy biến động cui đi Nguyn
(1886–1945).
DCH HC VIỆT NAM TRƯỚC THỜI LÊ VĂN NGỮ
Kinh Dch không phải kinh điển Trung Quc ảnh hưởng ph thông
nhiu trong gii hc gi Vit Nam. Tng Nho c th hc thuyết ca Chu Hi
朱熹 (1130–1200) vn coi trng T Thư hơn Ngũ Kinh đã chiếm ưu thế trong
Nho hc Vit Nam. Không ai biết đích xác Kinh Dịch được truyn vào Vit Nam
t bao gi. Sut hơn một ngàn năm dài, từ 111 tcn đến 939 cn, Vit Nam b Trung
Quốc đô hộ, các quan lại thương buôn Trung Quốc đã định hoặc tm trú ti
Vit Nam, còn người Vit thì cũng qua Trung Quốc đ triu cng, mua bán, hoc
du học. Dường như những người Trung Quc Việt Nam này đã mang các bn
bình cKinh Dch ca đời Hán (206 tcn–200 cn) đến đời Đường (618–906) vào
Việt Nam, đặc bit min Bc Vit Nam. Vit Nam cũng in lại các kinh điển
Trung Quc vào các thi k khác nhau. Mt trong những tư liệu ghi chép sm nht
cho biết rằng các văn bản Trung Quốc đưc in ti Việt Nam vào năm 1007. Đó
lúc triều đình Vit Nam cho in lại các kinh điển Pht giáo Nho giáo. Nhưng
không trong đó bản Kinh Dch hay không.
Vào đời (1010–1225), triu đình áp dng h thng khoa c lp nhà
Thái hc theo hình ca Trung Quc. Mc không phi môn hc chính
nhưng Kinh Dịch cũng nằm trong chương trình hc. Pht giáo cũng nhiều nh
hưởng như Nho giáo trong thi này mt snhà (như Bảo Giám 寶鑒)
cũng đã nghiên cu Kinh Dch.[3]
Suốt đời Trn (1225–1400), triều đình hoàn thin phát trin h thng
trường hc khoa c. Triều đình cho in TThư Ngũ Kinh làm sách giáo khoa
áp dng cho các kthi và các trường công. Các hc giđời Trn cũng viết thêm
li bình chú ca mình vào kinh điển Nho giáo. Tại trường, các hc sinh t 14
đến15 tui phải đọc Tứ Thư Ngũ Kinh để chun b cho các khoa thi sau này.[4]
Tng Nho ca Chu Hi tr thành hc thuyết ít nhiu ảnh hưởng vào đời
(1428–1789). Triều đình lp ra các chc tiến sĩ Ngũ Kinh để đề cao Ngũ Kinh vì e
rằng các kinh điển Nho giáo như Kinh Dịch, L Ký, Xuân Thu b xao ng.[5] Ti
triều đình, nơi nhà Thái học, Kinh Dịch được nghiên cứu như mt b kinh ca Nho
giáo và nơi bộ L Kinh Dịch được s dụng như một sách bói. Tuy nhiên, vì không
phi là kinh sách quan trng ti c nThái hc ln b L, rt ít hc sinh chuyên
v Kinh Dch.[6] Kinh Dịch chưa hề chiếm v trí quan trng trong c khoa thi.[7]
Triều đình cho in li Ngũ Kinh và các li nh chú làm sách giáo khoa cho các
trưng công tại kinh đô cũng như các địa phương. Nhiều Nho sĩ trong thời này đã
bình chú kinh điển Trung Quc bng ch Hán phiên dch các kinh này ra ch
Nôm. Mt s Nho sĩ đã ni tiếng v Dch hc. Thí dnhư Nguyễn Bnh Khiêm
阮秉謙 (1491–1587), mt Nho sĩ cũng n thơ Nôm, rt ni tiếng v Kinh
Dch.[8] Quý Đôn 黎貴敦 (1726–1784) mt n ngoi giao cũng là Nho gia
theo Chu Hi tr tác rt nhiu đã viết mt bình chú quan trng v Kinh Dch
với nhan đề Dch Kinh Tng Thuyết 易經層說 (S gii thích lp lang v Kinh
Dch, 1752). Chu ảnh hưởng ca cái hc kho chng, tgóc độ văn bản hc
Quý Đôn đã phê bình Kinh Dch cùng vi các kinh điển Nho giáo khác.
Đời Nguyn (1802–1945) một giai đoạn đầy biến động. Nho hc đỉnh thnh
vào đầu đời Nguyn (1802–1885). Triu đình ci thin khoa c và đề cao luân
Nho go. Triu đình đã cho xut bn các bn dch ch Nôm ca những kinh điển
Trung Quốc, trong đó Kinh Dịch.[9] Các li bình chú ca Chu Hi Trình Di
程頤 (1033–1107) đã được chp nhận như những văn bản chính thức để hc
thi.[10] Các nhà Nho đã bình chú rt nhiu không ít nhng bình chú này vn
hin tn. Phm Quý Thích 范貴適 (17591825) đã viết quyn bình chú quan trng
nhan đề Chu Dch Vn Gii Toát Yếu 周易問解撮要 (Tóm tt các câu hi li
giải đáp về Chu Dch, 1805). Nh Bá Sĩ 汝伯士 (1759–1840), mt v quan cao cp,
đã khai trin ng Nho giáo trong quyn Dch H Gii Thuyết 易系解說 (Gii
thích v h thng ca Kinh Dch).
Cuối đời Nguyn (1886–1945) là một giai đoạn đầy khng hong ci cách,
tác động nhiu đến gii trí thc mới. Dưới ách cai tr ca Pháp, Việt Nam đã tiếp
nhn một chính sách văn hóa đề cao Tây hc, bài xích Hán hc. Thm quyn ca
hc thuyết Chu Hi đã b c hc ging ci cách cht vn.[11] Nguyn
Khuyến 阮勸 (1835–1909), mt vquan kiêm thi nhân, đã bày t ni lòng ca
mình trưc s suy tàn ca h thống Nho giáo. Trong bài thơ «Độc Dch» 讀易
(Đọc Kinh Dịch), ông đã viết:
Hi vũ nhược khai tân thế gii,
Dân phong ưng nhập c hng hoang;
Thanh thần độc khi quan Chu Dch,
Tiêu tức doanh hư vị dị tường.
(Nếu đời m khai tân thế gii,
Người ta cũng nên theo nn nếp thuở xa xưa,
Sáng sm thc dy, riêng mình ta đọc Dch,
Hiu rõ thế sự thay đổi cũng chưa dễ.) [12]
Cuối đời Nguyễn được xem bui suy tàn ca Nho giáo và Hán hc. Các li
bình chú cuối đời Nguyn cho thy mt mc độ sáng tân đ phá cu tc
điều này khó có th thấy được trong bt kgiai đon nào khác trong lch s Vit
Nam. Bu không khí trí thức đang biến đổi này th thy trong lĩnh vực Dch
hc. Thí d, Phan Bi Châu 潘佩珠 (1867–1940) mt nhà ci cách và tiên
phong trong các phong trào Tân học Đông Du đã nhn mnh s quan trng
ca vic áp dụng kinh điển Trung Quốc để phát huy c ci cách hin đại.[13]
Tác phm Dch Hc Chú Gii 易學注解 ca ông mt n lực theo xu hướng
này. Lê Văn Ngữ 黎文敔 (1859–?) đã viết mt tác phm mi mđầy tham
vọng, nhan đề Chu Dch Cu Nguyên 周易究原 (Kho cu ngun gc Chu Dch,
1916).
th kết lun v đặc điểm trước tiên d nhn thy nht ca một ngàn năm
Dch hc Vit Nam s trì tr kém phát trin. Dch hc ch dng mc khai
tâm hay nhp môn và Kinh Dịch chưa bao giờ tr thành một kinh điển ph thông
trong gii hc gi Vit Nam. Các tác phm ca Vit Nam viết v Kinh Dch thì ít
i và không ảnh hưởng lm. Không giống như Dịch hc ca Nht ca
Triu Tiên, Dch hc Việt Nam đã không phát trin thành các phái nghiên cu,
chng hạn như phái khảo chứng, phái tượng s, phái chiêm bc, hay phái thc
hành.
Đặc điểm th hai: về cơ bản, Kinh Dch chỉ được xem như sách học để đi thi.
Triều đình bao ln cho tái bn các bn bình chú ca Chu Hi và Trình Di cũng để
phc v cho khoa c. Hu hết ngưi ta hc Dịch như một b môn trong
chương trình học để đi thi.
Đặc điểm th ba: hc gi Việt Nam chưa đủ lão luyện để khai trin nhng
s thuyên thích riêng ca mình v Kinh Dch. H trung thành vi các bn thuyên
thích của đi Tng, còn các bn thuyên thích hay bình chú riêng ca h thì rt ít.
Mc dù mt s hc gi riêng lđã chu ảnh hưng của Vương Dương Minh, khảo