
- 18 -
Chương 2.
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG
2.1. Định nghĩa và phân loại phương pháp định mức lao động.
Phương pháp định mức lao động là tổng thể quan điểm, mô hình, căn
cứ, kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin…để định mức lao động.
Với định nghĩa đó, phương pháp định mức lao động được đặc trưng bởi
nhiều tiêu thức, do đó có nhiều cách phân loại tùy theo tiêu thức được lựa
chọn. Trong thực tiễn tiêu thức quan trọng nhất thường được dùng để
phân loại và cũng để phân biệt các phương pháp định mức lao động là mô
hình mức. Đó chính là công thức, đồ thị hay bảng xác định mối quan hệ
giữa mức lao động và các chỉ tiêu đưa vào tính toán (dữ liệu).
Theo mức độ chi tiết của mô hình mức, các phương pháp định mức lao
động được chia ra làm 2 nhóm: Các phương pháp tổng hợp và các
phương pháp phân tích. Theo đặc điểm cụ thể hơn của mô hình mức trong
mỗi nhóm trên, các phương pháp định mức còn chia ra: phương pháp
kinh nghiệm, phương pháp thống kê tổng hợp, phương pháp phân tích cấu
trúc, phương pháp phân tích nhân tố ảnh hưởng, phương pháp phân tích
tính toán (Hình 2.1)
Dưới đây trình bày thực chất, ưu nhược điểm và lĩnh vực áp dụng của
từng phương pháp.
Các phương pháp định mức lao động
Các phương pháp phân tích Các phương pháp tổng hợp
Phương pháp kinh nghiệm
Phương pháp thống kê tổng hợp
Phương pháp phân tich cấu trúc
Phương pháp phân tích
các nhân tố ảnh hưởng
Phương pháp phân tich-tính toán
Hình 2.1. Sơ đồ phân loại các phương pháp định mức lao động

- 19 -
2.2. Các phương pháp tổng hợp.
Gọi là các phương pháp tổng hợp vì đặc điểm chung của các phương
pháp là không xét chi tiết tới tính hợp lý của cấu trúc quá trình sản xuất
kinh doanh cũng như thành phần và mức độ hao phí lao động. Các
phương pháp tổng hợp còn được gọi là các phương pháp khái quát, gồm
phương pháp kinh nghiệm và phương pháp thống kê tổng hợp.
2.2.1. Phương pháp kinh nghiệm.
Trong phương pháp này, mức được xác định không dựa trên một công
thức tính toán nào mà chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của bản thân nhân
viên quản lý lao động. Mức được xác định như vậy nhanh, nhưng có tính
chất chủ quan nên có thể phản ánh những nhân tố tiêu cực vào mức. Đôi
khi mức cũng phản ánh được hao phí lao động xã hội cần thiết, nhưng đó
chỉ là kết quả ngẫu nhiên, không có tác dụng thuyết phục, không đề ra
điều kiện, biện pháp thực hiện mức.
Phương pháp sao chép, điều chỉnh không có cơ sở những mức lao động
đã cũ hay được lập ra ở nơi khác để áp dụng trong doanh nghiệp cũng là
phương pháp kinh nghiệm. Phương pháp kinh nghiệm được áp dụng
trong điều kiện chưa thực hiện được phương pháp định mức khác và cần
có sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động.
2.2.2. Phương pháp thống kê tổng hợp.
Trong phương pháp này, mức được xác định bằng mô hình bình quân
những số liệu thống kê tổng hợp, không loại trừ những thành phần bất
hợp lý có thể ẩn chứa trong số liệu. Ví dụ nếu phải xác định mức thời
gian hay mức sản lượng của một công việc thì với phương pháp thống kê
tổng hợp sẽ có các mô hình sau:
;
1
1
∑
∑
=
=
=m
i
i
m
i
i
K
H
t (2.1)
;
1
1
1
∑
∑
=
=
== m
i
i
m
i
i
H
K
t
n (2.2)
Trong đó:
t , n – mức thời gian, mức sản lượng của công việc,
i = m,1 - chỉ số các mẫu quan sát ( thống kê);
Ki - khối lượng sản phẩm đã thực hiện theo mẫu quan sát thứ i;

- 20 -
Hi - hao phí thời gian lao động tương ứng để làm ra khối lượng sản
phẩm Ki .
Ví dụ: có số liệu quan sát trực tiếp bước công việc khoan lỗ bằng búa
khoan hơi ép trong đá có độ kiên cố f=5 như bảng 2.1 thì : t= 45:15= 3
người.phút/mét.
Bảng 2.1
Mẫu quan sát Số mét khoan được, m Hao phí thời gian, người.phút
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1,5
1,5
1,5
1,5
1,5
1,5
1,5
1,5
1,5
1,5
4,5
4,0
4,2
4,3
4,6
4,7
4,5
4,8
4,4
4,5
Cộng 15 45
Ta có nhận xét: ở phương pháp thống kê tổng hợp, nhân tố chủ quan đã
được loại trừ, nhưng do thống kê có tính tổng hợp nên mức lao động vẫn
có thể ẩn chứa những thành phần và mức độ hao phí không hợp lý. Tính
thuyết phục của mức cũng kém vì không đề ra được điều kiện và biện
pháp thực hiện mức. Phương pháp thống kê tổng hợp chỉ nên áp dụng để
định mức cho những quá trình có cấu trúc đơn giản như bước công việc,
thao tác… hoặc biết chắc cấu trúc của nó tương đối hợp lý.
2.3. Các phương pháp phân tích.
Đặc điểm chung của các phương pháp phân tích là mức được xác định
nhờ một mô hình có xét chi tiết đến tính hợp lý của cấu trúc quá trình sản
xuất và những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động. Các phương
pháp phân tích gồm: phương pháp phân tích cấu trúc, phương pháp phân
tích nhân tố ảnh hưởng và phương pháp phân tích-tính toán.
2.3.1. Phương pháp phân tích cấu trúc
Trong phương pháp này mức được xác định bằng mô hình bình quân
những số liệu thống kê đã có sự phân tích chọn lọc, bảo đảm phản ánh
những thành phần hợp lý của quá trình sản xuất được định mức. Ví dụ
nếu phải xác định mức thời gian hay mức sản lượng của một công việc thì
với phương pháp phân tích cấu trúc có mô hình sau:

- 21 -
;
1
111
∑
∑∑∑
=
===
=p
i
i
p
i
q
j
r
k
ijk
K
H
t (2.3)
;
1
111
1
∑∑∑
∑
===
=
== p
i
q
j
r
k
ijk
p
i
i
H
K
t
n (2.4)
Trong đó:
t, n – mức thời gian, mức sản lượng;
i = p,1 - chỉ số mẫu quan sát;
j = q,1 - chỉ số các bộ phận cấu trúc hợp lý của quá trình sản xuất;
k = r,1 - chỉ số các bộ phận hao phí hợp lý của thời gian lao động.
Ví dụ có số liệu quan sát trực tiếp công việc bốc đất đá bằng máy xúc
EKG-8 trên gương tầng đá cấp III lên xe ô tô như bảng 2.2, trong đó chỉ
số các bộ phận cấu trúc quá trình sản xuất đồng nhất với chỉ số các bộ
phận hao phí thời gian lao động, tức j ≡ k , thì :
175,0
136.10
1773 ==t người.phút/m3
6,5
175,0
11 === t
n m3/ người.phút hay 2743 m3/người.ca
Bảng 2.2
Chỉ số
loại hao
phí (k)
Tên các loại hao phí thời gian
(Hk)
Chỉ số mẫu quan sát ( i)
Cộng
1 2 3 4
1
Chuẩn-kết (kiểm tra thiết bị và
nơi làm việc, tra dầu mỡ, bàn
giao ca…), người.phút
20 30 25 25 100
2
Các bước công việc chính (bốc
đất đá lên ô tô), người.phút 360 358 364 366 1448
3
Các bước công việc phụ (gom
đất, tạo nền, di chuyển…),
người.phút
36 34 37 38 145
4 Ngừng được định mức (tránh
mìn, ăn giữa ca …), người.phút 20 25 15 20 80
Cộng hao phí thời gian lao động được
định mức, người.phút 436 447 441 449 1.773
5 Hao phí thời gian lao động
không được định mức, ng.phút 44 33 39 31 147
Cộng hao phí thời gian lao động thực tế,
người.phút 480 480 480 480 1920
Khối lượng công tác thực hiện (Ki), m3 2.520 2.506 2.548 2.562 10.136

- 22 -
Ta có nhận xét: phương pháp phân tích cấu trúc tuy đã khắc phục thiếu
sót của phương pháp thống kê tổng hợp là đã xét đến tính hợp lý của cấu
trúc quá trình và hao phí, nhưng vẫn còn hạn chế là chưa xét đến nhân tố
ảnh hưởng tới hao phí. Mức lao động do đó không có cơ sở để áp dụng ở
nơi khác, với đối tượng khác.
Phương pháp phân tích cấu trúc thường được áp dụng để định mức lao
động nội bộ doanh nghiệp, khi không có điều kiện định mức bằng các
phương pháp phân tích khác.
2.3.2. Phương pháp phân tích các nhân tố ảnh hưởng.
Trong phương pháp này mức được xác định bởi một mô hình tương
quan có dạng:
),...,,...,,( 21 nj xxxxfY=; (2.5)
Trong đó:
Y
- Chỉ tiêu mức cần xác định;
),1( njx j=- các chỉ tiêu đặc trưng cho tác động của những nhân tố ảnh
hưởng khách quan đến năng suất lao động (sau đây gọi là các chỉ tiêu
nhân tố ảnh hưởng).
Ví dụ: mô hình mức hao phí lao động tổng hợp để tạo ra 1000 tấn than
khai thác bằng phương pháp hầm lò theo một kết quả nghiên cứu có dạng
như sau:
Y = 4,328 x1 + 0,009 x2 + 10,706 x3 – 0,004 x4 – 18,128; (2.6)
Trong đó:
Y – Hao phí lao động tổng hợp cho 1000 tấn than, người.ca/nghìn tấn
x1 – Chiều dầy trung bình vỉa, mét;
x2 – Tổng chiều dài lò chợ hoạt động bình quân, mét;
x3 – Chiều dài đường lò chuẩn bị phải chống giữ cho 1000 tấn sản lượng,
km/1000 tấn;
x4 – Trình độ sử dụng điện năng, KWh/người.
Gỉa thử trong kỳ kế hoạch, một mỏ than hầm lò có những chỉ tiêu nhân
tố theo mô hình 2.6 như sau: x1= 2m; x2= 7600m; x3=16km/1000 tấn; x4=
28.000 Kwh/người thì mức hao phí lao động tổng hợp cho 1000 tấn than
đối với doanh nghiệp này là:
Y
= 4,328 x 2 + 0,009 x 7.600 + 10,706 x 16 – 0,004 x 28.000 – 18,128 =
118,23 người.ca/ nghìn tấn.
Ta thấy phương pháp phân tích nhân tố ảnh hưởng đã tránh được
nhược điểm của phương pháp phân tích cấu trúc, đồng thời thu gọn dữ

