1
Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý đầu tư công
trong quá trình tái cấu trúc đầu tư công
TSKH. Võ Đại Lược
Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
Đầu công của Việt Nam trong những năm vừa qua đã những đóng góp rõ
rệt cho sự phát triển kinh tế - hội của đất nước. Tuy nhiên đầu công của Việt
Nam hiện nay đáng không ít những vấn đề cần được nghiên cu xnhư: chính
sách đầu tư, cấu đầu tư, hiệu quả kinh tế - xã hội,chế đấu thầu xây dựng, giám
sát v.v... Bản báo cáo này chđi sâu phân tích mt khía cạnh - đó cơ chế phân cấp
qun lý đầu tư công theo yêu cầu của Ban tổ chức hội thảo.
a) Hiện trạngvấn đề
Đặc điểm có tính thể chế của Việt Nam là:
Việt nam có số dân 87 triệu người, nhưng đã được chia ra 63 tỉnh thành với quy
n s lãnh th nhỏ, nhưng quyền tự chủ của địa pơng tương đối lớn. Các
tỉnh thành quyền quyết định rất lớn đến các vấn đề toàn quc, vì các phiều của
địa phương những phiếu quyết định trong các kĐại hi Đảng toàn quốc, trong
Quc hội.
- Các địa phương được quyền tự chủ rất lớn vquy hoạch phát triển, phân cấp đất,
quyền quyết định y dựng các sở hạ tầng trong tỉnh, tuy là cần sự đống ý của
cấp trên (chưa thấy cấp trên bác b rõ rệt các đề nghị của cấp Tỉnh).
- Hquả là Việt Nam đang tới 63 nền kinh tế Tỉnh thành 1 nền kinh tế toàn
quc, tỉnh thành nào cũng phấn đấu trở thành nhng nền kinh tế công nghiệp - c
2
khu cụm công nghiệp, có sân bay, bến cảng, trường Đại học cao đẳng, đài truyền hình
và pt thanh riêng...
Đặc điểm này đã đang chi phối các vấn đề phát triển của Việt Nam nói chung và
vấn đđầu công nói riêng. Đặc điểm này đã chi phi vn đphân cấp đầu ng
và tạo ra những bất cập.
a) “Khoán trắng đầu tư công”
Luật ngân sách 2004 quy định việc phân bổ vốn đầu tư giao chủ yếu cho các ngành
các địa phương, tạo chủ động cho các đơn vị. Các dán đầu được phân ra 4
nhóm:
- Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định.
- Nhóm A - t 200 tỷ đồng trở lên.
- Nhóm B - từ 30 tỷ đồng đến 600 tỷ đồng
- Nhóm C - T 30 tỷ đồng trở xuống
Các d án nhóm A, B, C được phân chia cho các ngành địa phương tự xét
duyệt, chỉ một số rất ít do Thủ ng phê duyệt (theo Nghị định số 16/2005/NĐ-
CP ngày 7/2/2005 của chính phủ).
Nghị định trên hu như đã giao toàn quyn cho các ngành và địa phương thẩm định
quyết định đu tư, gần như “khoán trắng”, c cơ quan trung ương dường như
giám sát, kiểm tra chiếu lệ mang tính hình thức, không có chế tài kỷ luật nghiêm ngặt.
Do vậy việc quản lý, điều chỉnh vĩ mô trong đu tư công đã bị buông lỏng.
b)Tính chất bình qn trong phân b vốn đầu công đã th hiện k rõ
trong quyết định s 210/26/QĐ - TTg, quy định 5 tiêu chí phân b vốn ngânch
cho các địa phương:
1. Dân s.
2. Trình độ phát triển - tlệ nghèo, thu nội địa, tlệ điều tiết về ngân sách
trung ương.
3. Diện tích tự nhiên
4. Số các đơn vị hành chính
5. Tiêu chí b sung - thành phố trực thuộc trung ương vàng trọng điểm.
3
Tính bình quân trong phân b vốn ngân sách đã hạn chế khả năng tập trung vốn
đầu vào những vùng có li thế địa kinh tế cao, khả ng sinh lời lớn, đây là một
yếu tố hạn chế hiệu quả của đầu ng. Chẳng hạn 2 tuyến phát triển Hà Ni - Hải
Phòng HCMinh - Vũng Tàu đã tập trung tới gần 80% giá trị sản ợng công
nghiệp cnước, nhưng cho đến nay vẫn chưa đường b cao tc, đường sắt tốc độ
cao... trong khi đó vốn đầu ng lại ưu tiên cho đường Bắc Nam, đường Hồ Chí
Minh..
c) Th chế về quản đầu huy động sử dụng vốn, về thành lp DNNN
mới, mthêm ngành nghkinh doanh, tuyển chọn và sdụng n bộ quản lý
DNNN i chung còn nhiu bất cập. Th chế, cơ chế thực hiện quyền và trách
nhiệm chủ sở hữu chưa đrõ, n nhiều sơ hở. Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm cho DNNN đã thiếu cơ chế thẩm định, kiểm tra, giám t... chặt chẽ; quản
tài chính ni bộ kém hiệu quả. Các bộ chức năng quản ngành chưa chế hữu
hiệu đquản các tập đoàn DNNN. Các DNNN quan quản cấp trên
các Bộ, ngành, nhưng dường như chính các bộ, ngành lại bị các tập đoàn, tổng ng
ty nhà nước chi phối. Không ít các quy đnh của c b ngành thiên v các lợi ích
nhóm hơn là lợi ích quốc gia.
d) Phân cấp quản lý các dự án đầu tư ng hiện còn nhiều bất cập
T2006 đến nay phần lớn d án đầu công đều được phân cấp cho ngành địa
phương - h quả là việc quyết định đầu ng đã tách rời việc bố trí vn. Hiện nay
các ngành và địa phương quyết định về dán đầu tư, nhưng nguồn vốn đều được ghi
là “xin vn từ ngân sách trung ương”. Không ít địa phương tận dụngc chuyến công
du của lãnh đạo cấp cao tới địa phương để xin dự án - xin vn. Hệ quả là các dự án do
các địa phương quyết định q nhiều, nhưng nguồn vốn đầu từ ngân sách lại hạn
hẹp và bdàn trải. Kng ít dán bthiếu vốn, thực hiện cầm chừng, kéo dài thời
gian kết thúc, chậm đưa vào sử dụng, do vậy hiệu quả ngày càng bị giảm thiểu.
Những đặc điểm trên đây của đầu tư công đã dẫn đến những hệ lụy tiêu cưc:
+ Nhiều dán đã hoàn thành, nhưng hiệu năng sử dng thấp - nhiều cảng đã
được xây dng với công suất bốc dỡ lớn, nhưng không hàng; một sn bay ít
khách; nhiều khung nghiệp, khu kinh tế có diện tích lấp đầy thấp...
+ Tình trạng tham nhũng trong đầu ng, cấp đất công phát triển - chưa giải
pháp hn chế hữu hiệu.
+ Các nthầu nước ngoài chiếm phần ln các dự án đầu công, đẩy các nhà
thầu Việt Nam có năng lực cũng thành nhà thầu phụ.