ĐI MỚI HÌNH THC, PHƯƠNG PHÁP KIM TRA
ĐÁNH G NN T QUAN TRNG Đ PT TRIỂN
TƯ DUY ĐC LẬP SÁNG TẠO ĐI MỚI
PHƯƠNG PP HC TP TRONG SINH VIÊN ĐỊA LÍ,
TRƯNG ĐI HỌC SƯ PHẠM - ĐI HC ĐÀ NNG
INNOVATION OF MODE AND METHOD OF CONTROLLING AND
EVALUATING IS THE KEY FACTOR TO DEVELOP INDEPENDENT AND
CREATIVE THINKING TO INNOVATE THE STUDY METHOD OF
PEDAGOGY STUDENTS OF DANANG UNIVERSITY
ĐẬU THỊ HOÀ
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
TÓM TT
Bài viết này phân tích nhằm làm sáng tỏ cơ sở khoa học và sự cần thiết của việc đổi mới hình
thức, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học nói chung và sinh
viên địa nói riêng. Đồng thời đề xuất một số hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá
ưu thế trong việc phát triển duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện khả năng tự học và tnghiên
cứu cho sinh viên.
ABSTRACT
This article aims to analyse and clarify the scientific basis and the need of the innovation of
the forms, methods of study and study results of students in general, especially Geography
students. Concurrently, the writer puts forward some pre-eminent forms and methods of
controlling and evaluating students' study results that can develop their independent and
creative thinking and train their self-conciousness in study and research.
1. Đặt vấn đề
Vic kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của sinh viên có vai trò rất quan trọng, nó
va giữ vai trò động lực thúc đẩy quá trình dạy học, li vừa vai trò bánh lái, giúp giáo
viên điều chỉnh phương pháp dạy và giúp sinh viên thay đổi phương pháp học tập để phù hợp
với hình thức, phương pháp kiểm tra nhằm đạt kết quả cao. Thập niên gần đây để đáp ng với
nhu cầu của thời kì mi, giáo dục đại hc đang từng bước thay đổi chương trình phương
pháp đào tạo, tuy nhiên việc kiểm tra đánh gvẫn chưa được nghiên cứu mt cách đúng mc,
nhiu khi còn tùy tin, chquan, thiếu cnh xác, hình thức chnghĩa, nên việc đánh giá chất
lượng đào to chưa thực chất còn nhiu vấn đề bất cập trong việc sử dụng nguồn nhân lực cho
hi. Điều đó cho thấy việc thay đổi một hệ thống chương trình và phương pháp đào tạo mà
không thay đổi hệ thống kiểm tra đánh giá thì cũng không thể đạt được mục đích mong muốn.
Để ng cao chất lượng đào to các trường đại học, cùng với việc đổi mới, hoàn
thin chương trình, ni dung đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo thì cần phải đổi mới hình
thức và phương pháp kiểm tra đánh gkết quả học tập của sinh viên. Vấn đđặt ra là phi
c định cho được những sở luận, thực tiễn của việc đổi mới hình thức, phương pháp
kiểm tra đánh giá, trên sở đó xác định các hình thức, phương pháp ni dung kiểm tra
đánh giá cho phù hợp. Về thực chất đây là những nghiên cứu của việc đổi mi dạy hc theo
quan điểm của luận dạy học hiện đại.
2. Cơ sở khoa hc của việc đổi mới hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả
học tập và nghiên cứu của sinh viên
2.1. Cơ sở lí lun của việc đổi mới hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá
- Để đáp ứng với nhu cầu CNH, HĐH đất nước, hòa nhập vào trào lưu chung của thế
giới, mục đích chung của nền giáo dục nước ta là tạo nên nhân cách Việt Nam: Đào tạo ra lớp
thanh niên văn hóa, khoa hc k thut, tích cực, năng động, ng tạo, có khnăng lao
động với năng suất cao trong mt nền ng nghệ tiên tiến, ý chí vươn lên vì sthành đạt,
tiến bộ của bản thân và sphồn vinh của đất nước. Từ mục đích chung này, mi cấp học,
ngành học đều phải xác định mục đích cho mình nhằm đạt đuợc mục đích chung.
- Mục đích của giáo dục đại học hiện nay là: Đào tạo ra lớp sinh viên tnh độ
chuyên môn và kĩ năng thực hành vmt ngành nghề, khả năng phát hiện và giải quyết
những vấn đthông thường thuộc chuyên môn đào tạo. Điều đó đòi hi sinh viên phải có c
năng lực chủ động, sáng tạo, có óc phê phán, tính nhy cảm với thực tiễn. Do đó nhim vụ
của giáo dục đại học phải tập trung vào 3 lĩnh vực: Thứ nhất là dạy nghề: giúp sinh viên nm
vững kiến thức chuyên môn kĩ năng thực hành vmt ngành nghnhất định. Thhai là
dạy phương pháp: giúp sinh viên phát triển năng lực t tuệ (tư duy, nhn xét, di chuyển các
hành động t tuệ, tổ chức lao động trí óc mt cách khoa hc...), năng lực phát hiện và gii
quyết vấn đề, phương pháp thọc và tnghiên cứu. Thứ ba là dạy thái độ: bồi dưỡng cho
sinh viên trtnh người phẩm chất chính tr, có đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân.
Sthay đổi về mục đích, nhất thiết đòi hi phải thay đổi về nội dung và phương pháp
dạy hc, và thế trong hệ thống các thành tcủa quá trình dạy học, với sự tương quan nhất
định cần phải ch kiểm tra, đánh gphợp với sự thay đổi của mc đích, nội dung và
phương pháp dạy học. Việc kiểm tra đánh giá đi học cũng phải nhằm vào các hướng trên,
để các thành t của quá trình dy học mới thể tác động tương hỗ thúc đẩy chệ thng
phát triển, có như thế chất lượng giáo dục mới được nâng cao.
- Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế đặc trưng bằng sự đổi
mới kiến thức liên tục với sự bùng nthông tin phát triển mạnh m trên các lĩnh vực liên
ngành đa ngành. Khối lượng thông tin lớn, hiện đại, được truyn ti dưới nhiều loại hình
trên nhiều phuơng tiện, chúng ta thể tiếp cận thông tin và lấy thông tin mi nơi, mi
lúc. Trong bi cảnh này, vic đào tạo sinh viên bậc đại học cần phải thay đổi. Người dạy
không hướng chủ yếu vào cung cấp kiến thức, tích lũy kiến thức và cũng không nên chú trng
o kiểm tra, đánh giá việc ghi nhớ kiến thức và ch lũy được bao nhiêu kiến thức, mà phi
dạy cho sinh viên phương pháp ly thông tin và x thông tin vào những trường hợp cụ thể
mt ch sáng tạo, phi bồi dưỡng cho sinh viên khnăng thích ng, mm mi nhằm phát
hiện vấn đề và gii quyết vấn đề đáp ứng với nhu cầu của xã hi. Vậy kiểm tra, đánh gng
phải thay đổi: kiểm tra, đánh giá phương pháp lấy thông tin và xthông tin, cách vận dụng
thông tin để giải quyết những vn đề cụ thể mt cách sáng tạo. Đây chính là nhu cầu mà
hội đòi higiáo dục đại học trong việc cung cấp nguồn nhân lực.
2.2. Cơ sở thực tiễn của việc đổi mới hình thức và phương pháp kiểm tra đánh g
T gần nửa thế ktrước đây, thế giới đã đưa ra 3 mục tiêu dy học là: nhận thức
(cognitive), kĩ năng (psychomotor) và cm xúc (affective) hay còn gi là phẩm chất nhân văn,
[Bloom, 1956]. nước ta, hơn na thế k qua, việc dạy hc mới chỉ cý tới mục tiêu nhn
thức, còn các mc tiêu khác bị xem nhẹ hoặc không chú ý tới. Ngay trong mục tiêu nhận thức
vốn 8 bậc: biết, hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá, chuyển giao, sáng tạo, thì
chúng ta cũng chỉ chú ý và c gắng đạt các mục tiêu ở bậc thấp là biết và hiểu. Hay trong mục
tiêu kĩ năng 5 bậc: bắt chước, thao tác, chuẩn a, phối hợp, tđộng hóa, giáo viên nếu có
chú ý tới thì cũng chỉ mức bắt chước mà chưa hướng tới các mục tiêu mức độ cao hơn.
Điều này thhiện rất rõ ràng trong chế độ thi cử và kiểm tra đánh giá kết quả của nước ta.
Vic kiểm tra đánh gkết quả học tập của sinh viên tnhiều năm nay được thực hiện chặt
ch theo quy định của Bộ GD - ĐT hoặc của các trường qua các kì thi học phần, thi tốt
nghiệp.
- Vhình thức kiểm tra, thi: hiện nay chủ yếu áp dụng các hình thức như: viết, vn
đáp, trắc nghim.
Đề thi viết thời gian thể t60 phút đến 180 phút, các vấn đề nêu ra trong đề nhiu
nht cũng chỉ là 3 câu hi.
Thi vấn đáp thì scâu hỏi nhiều hơn, nhưng thi lượng kiến thức và thời gian kiểm tra
cho sinh viên càng eo hẹp hơn, mi sinh viên được hỏi mt vn đnhỏ trong thời gian t5
đến 10 phút.
Trắc nghim thể có từ vài chục đến tm câu hỏi với nhiều cách khác nhau như: lựa
chn, đúng sai, sóng đôi, tự lun...
Nhưng tất cả các hình thức và ni dung đề thi, kiểm tra trên đều nhằm mục đích kiểm
tra mức độ ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ, khái niệm, các nguyên mà sinh viên đã được học.
Cao hơn chút nữa là hiểu các liệu đã được học, khả năng mô tả tóm tắt, diễn giảng, phân
tích các thông tin thu nhận được.
dụ: Đối với khoa Đa , các đề thi, kiểm tra thường là: Trình bày khái nim, phân
tích mi quan hệ, mô tả hiện tượng và giải thích nguyên nhân... Điều này cũng chỉ đánh giá
được mức độ nhận thức biết và hiểu của sinh viên, chưa thể đánh gđược các mức độ nhận
thức như: tổng hợp, đánh giá, chuyển giao, sáng tạo của sinh viên.
Vic đánh g vkĩ ng ng chỉ là việc bắt chước lập li mt kĩ năng nào đó, hoặc
hoàn thành mt năng theo chỉ dẫn mà thôi.
Ví dụ: Các câu hỏi rèn luyện kĩ năng thường là: Hãy thành lập các biểu đồ, lát ct, s
dụng bản đồ để xác lập mi quan hệ giữa mt số yếu tố...
- Vthời lượng và thi gian: mi mt hc phần t2 đến 6 đơn vị học trình, theo
quy định mi học trình một bài kim tra và kết thúc học trình mt bài thi. Kết quả các
bài kiểm tra học trình không được tính vào kết quả thi, chỉ điều kiện thi cho nên cgiáo
viên sinh viên đều không quan tâm chú trọng. Bài thi được tiến hành vào cui hc kì n
trong suốt quá trình hc tập sinh viên không động lực thúc đẩy quá trình thọc, đến cuối
học kì chcần dành một thời gian ngắn trong 2- 3 tuần ôn và thi để tu luyện, việc tự học và t
nghiên cứu trong đại đa số sinh viên rất hạn chế. Không những thế để đối phó với đề thi nhiều
sinh viên còn học tủ, học lệch, nên việc đánh giá chưa khách quan. Thực tế việc kiểm ta đánh
giá c trường đại hc hiện nay đã phản ánh rõ nét việc dạy và hc, điều đó chưa thể i
được chất lượng đào tạo đại học của nước ta đã đạt được mục tiêu đào tạo và đã đáp ứng được
nhu cầu của xã hi trong thời kì mi.
Trong lí luận dạy học đại học nêu: kim tra đánh gng đoạn quyết định chất
lượng của quá trình dạy hc. Kiểm tra đánh ggiúp giáo viên biết được hiệu quvà chất
lượng giảng dạy, điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học, giúp người học biết được chất
lượng học tập, điều chỉnh phương pháp hc, giúp nhà qun lí ra quyết định về kết quả học tập
của người học, điều chỉnh chương trình đào tạo và t chức dạy học. Trong bi cảnh và ni
hàm chất lượng đã trình bày, việc đổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá trong
trường đại học là cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên để việc đổi mới kiểm tra đánh g hiệu
quả cần phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản như:
- Phải kiểm tra đánh giá theo mục tiêu đào tạo của từng môn hc, đồng thời phải kiểm
tra đánh giá theo các bậc nhận thức, các bậc kĩ năng và các bậc của năng lực tư duy môn
học dự kiến người học phải đạt được sau khi học xong.
- Cần áp dụng nhiều hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau: Viết, vấn
đáp, trắc nghiệm khách quan, đặc biệt đại học cần chú trọng và ưu tiên cho c hình thức:
bài tập ln, tiểu luận, tổng luận môn học. Vic kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên
trong quá trình học tập.
- Kết quả kiểm tra đánh giá phải được sử dụng để đánh gchất lượng giảng dạy, chất
lượng học tập và chất lượng đào tạo (chương trình, nội dung, phương tin và tổ chức đào to)
3. Mt số hình thức kiểm tra đánh giá ưu thế trong việc phát triển duy độc lập,
sáng tạo cho sinh viên nói chung và sinh viên địa lí nói riêng
Trong dạy học đại học hiện nay nhiều hình thức kiểm tra: Viết, vấn đáp, trắc
nghiệm khách quan, bài tập, niên luận... Mỗi hình thức mt thế mạnh và hạn chế riêng
trong kiểm tra các mặt chất lượng học tập của sinh viên.
Kiểm tra viết (tluận), đây là hình thức được sử dụng phổ biến nhất hin nay, nó dễ
sử dụng, thuận tiện trong cả ra đề, coi thi và chấm bài. Hn chế của hình thức này được nhiều
người nói đến là nếu đề thi và đáp án không tốt thì rất khó có thể đánh giá được khng giải
quyết vấn đề của người học, hình thức này cũng rất dễ làm cho sinh viên học tủ, học lệch.
Kiểm tra trắc nghiệm khách quan: đây là nh thc nhiều ưu điểm, cho phép khảo
sát một cách toàn diện kiến thức của người học, tránh được học thọc lệch. Nhưng nếu b
câu hi không đúng chất lượng, không đphân hóa thì cũng chỉ đơn thun là kiểm tra trí
nh, bắt sinh viên học vẹt mà thôi.
Các nh thức như, tiểu luận, bài tập lớn,... còn ít được coi trọng và đôi khi được sử
dụng khá tùy tiện, nhiều giáo viên thiếu cẩn trọng dẫn tới sinh viên chyếu là sao chép tài
liệu.
Chúng ta đã đang đổi mới về mục đích, nội dung và phương pháp dạy học đại hc,
tuy nhiên các hình thức kiểm tra đánh ghiện nay mới chỉ đánh giá được sự hiểu biết và vận
dụng kiến thức, còn việc phân tích, tổng hợp, đánh giá, giải quyết mt vấn đề thì n rất hạn
chế. Đb khuyết cho vn đề này chúng tôi thấy cần phải kết hợp linh hoạt nhiều hình thức
kiểm tra, tùy vào mục tiêu và ni dung của mi học phần, thể sử dụng mt loi hình kim
tra chính, kết hợp sử dụng c loi hình khác h trợ vào cui học trình, kết hợp các loi hình
khác nhau với hệ số điểm cho mi loại hình trong tổng điểm đánh giá cả học phần.
Qua nghiên cứu luận, và qua thực tế nhiều năm dạy học, chúng tôi nhn thấy: đối
với sinh viên nói chung và sinh viên địa lí i riêng, các hình thức kiểm tra đánh giá như: Báo
cáo thực địa, tiểu luận, bài tập lớn, tng luận môn học rất nhiều ưu thế trong việc phát
trin tư duy độc lập sáng tạo, phản ánh khả năng thao tác của người học mt cách cụ thể và
ràng. Bởi vì các hình thức trên đều đòi hỏi khả năng tự học, tự tìm kiếm thông tin, tlựa chọn
phương pháp để giải quyết mt vấn đề nào đó của sinh viên, nó phải tri qua một thời gian
cần thiết. Thực chất của các dạng kiểm tra này chính kiểm tra khnăng tnghiên cứu và
kh năng thao tác tư duy của sinh viên. Vì mục tiêu của việc thực hiện các báo cáo, tiểu luận,
bài tập lớn, chính là:
- Khám phá các thuộc tính của sự vật hin tượng
- Phát hin nhng quy luật vận động của sự vật hin tượng
- Vận dụng những quy luật để gii quyết, để sáng tạo gii pháp tác động vào sự vật
Mục tiêu trên mun thực hiện được thì phải thông qua những chức ng cụ thể của
vic nghiên cứu và những khả năng thao tác tư duy cơ bn của bản thân người nghiên cứu như
là:
- Khng mô tả: đó là kh năng ghi li nhng dữ kin thực nghiệm hoặc khả năng
quan sát đưa ra mt hệ thống tri thức giúp cho người đọc có một công cụ nhận dạng, phân biệt
được sự khác nhau giữa các sự vật hin tượng. Việc mô tả được thực hiện thông qua nn ngữ
thông tờng, hoặc bằng các phương tin đặc biệt to thành ngôn ngkhoa học như kí hiệu,
ma trận, đồ thị...
- Khnăng giải thích: đó là khnăng đưa ra được những thông tin thuộc vbản chất
của sự vật để nhận dạng chúng. Gii thích đề cập đến nhiều khía cạnh như ngun gốc, quan hệ
giữa các b phận cấu thành chỉnh thể, liên h giữa các quá trình bên trong các yếu t bên
ngoài svật, nguyên nhân và hậu quả của tác động vào svật và giải thích quy luật chung chi
phối quá trình vận động của sự vật.
- Khnăng tiên đoán: đó là khả năng dựa trên những kinh nghiệm, dựa vào khnăng
phân tích, tổng hợp mt s vấn đề luận và thực tin, dựa vào stính toán những quy luật
phát trin khách quan để đoán trước những hiện tượng tnhiên, hi chưa quan sát được,
hoặc còn chưa xác định được.
- Khnăng sáng tạo: đó chính là khnăng mà người nghiên cứu giải quyết một vấn đề
theo cách riêng của mình để tạo ra mt giải pháp mới. Giải pháp được bàn đến đây cha
đựng mt ý nghĩa tng quát nhất bao gồm các phương pháp, phương tin và các biện pháp c
thể.
Như vậy khi tiến hành làm mt hoạt động nghiên cứu, cho dù là báo cáo hay tiểu luận,
bài tập, thì người thực hiện ng phải vn dụng mt cách tối đa nhất những năng lực duy
năng lực thao tác của bản thân như: quan sát, mô tả, tìm tòi, phân tích, so sánh, đối chiếu,