Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 3
ĐỜI SỐNG, LỄ HỘI, PHONG TỤC
TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI CHĂM
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 4
ịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh t
duyên hải miền Trung Việt
Nam trất lâu đời, đã từng kiến tạo nên
một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng
sâu sắc của văn hoá n Ðộ. Ngay từ
những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã
tng y dựng nên vương quốc Chămpa.
Hiện tại cư dân gồm hai bộ phận
chính: Bphận t Ninh Thuận và
Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bàlamôn
(một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo
đạo Islam truyền thống gọi người
Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa
phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc,Tây
Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành ph
HChí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo)
mới.
oạt động sản xuất: Người Chăm
truyền thống nông nghiệp
ruộng nước, giỏi làm thu lợi và làm
vườn trồng cây ăn trái. Bên cnh việc làm
ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng
khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người
Chăm Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu
bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và
buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
gh thủ công phát triển vùng
Chăm nổi tiếng là dệt lụa tằm
nghgốm nặn tay, nung trên các l
thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng
giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên
hải miền Trung đã từng nơi hoạt động
của những đội hải thuyền nổi tiếng trong
lch sử.
n: Người Chăm ăn m, gạo
được nấu trong những nồi đất
nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau
củ, do săn bắt, i lượm chăn nuôi,
trồng trọt đem lại. Thức uống rượu
cần rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ
biến trong sinh hoạt và trong các lnghi
phong tục cổ truyền.
ặc: Nam nđều quấn y tấm.
Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ
ngực cài khuy. Ðàn mặc áo dài chui
đầu. Màu ch đạo trên y phục là màu
trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong
sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc
như người Việt miền Trung, chỉ
chiếc áo i chui đầu là còn thy xuất
hin trong giới nữ cao niên.
: Người Chăm cư t tại Ninh
Thuận, Bình Thuận, nhà đất
(nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi
nhà được y cất gần nhau theo một trật
t gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và
các con nh tuổi, nhà của các cô gái đã
lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó
kho thóc, buồng tân hôn và ch
của vợ chồng cô gái út.
L
H
Ngh dệt thổ cẩm của ngư
ời Chăm
đang phát triển và thích
ứng với kinh tế
hàng hoá, ph
ục vụ đáng kể cho nhu cầu du
khách khắp cả nước.
Ă
M
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 5
Phương tiện vận chuyển: Ch yếu và
thường xuyên vẫn là i gùi cõng trên
lưng. dân Chăm cũng là những người
thđóng thuyền kỹ thuật cao để hoạt
động trên sông biển. Họ làm ra những
chiếc xe bò kéo, trâu kéo trọng tải khá
lớn để vận chuyển trên bộ.
uan h xã hội: Gia đình người
Chăm mang truyền thống mẫu hệ,
mặc dù hội Chăm trước đây là hội
đẳng cấp, phong kiến. những vùng
theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã
chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới
được đề cao, nhưng những tập quán mẫu
hvẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ
gia đình, dòng h với việc thờ cúng tổ
tiên. dân Chăm vốn được phân thành
hai thtộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng
Niee Mdân tộc Ê đê. Về sau thị
tộc Cau biến thành tầng lớp của những
người bình dân, trong khi thtộc Dừa tr
thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ.
Dưới thị tộc là các dòng htheo huyết hệ
mẹ, đứng đầu là một người đàn thuộc
dòng con út. Mi dòng họ lại có nhiều chi
họ. Xã hi cổ truyền Chăm được phân
thành các đẳng cấp như xã hi Ấn Ðcổ
đại. Họ những vùng cư triêng
những ngăn cách rõ rệt: không được thiết
lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng
một xóm, không ăn cùng một mâm...
ưới xin: Ph nữ chủ động trong
quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú
phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ.
Sính l do nhà gái lo liệu. Gia đình một
v một chồng là nguyên tắc trong hôn
nhân.
a chay: Người Chăm hai
hình thức đưa người chết về thế
giới bên kia th táng và ho táng.
Nhóm n theo đạo Bàlamôn thường
hong theo giáo luật, còn các nhóm cư
dân khác tth táng. Những người trong
cùng một dòng hthì được chôn cất cùng
một nơi theo huyết hệ mẹ.
mới: Người Chăm Ninh
Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà
mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng
thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại
rừng. Khi g vận chuyển về làng phải
làm l đón y. Lễ phạt mộc được t
chức để khởi công cho việc y cất ngôi
nhà.
tết: Ni ta thực hiện nhiều
nghi l nông nghiệp trong một
chu km như: lễ khai mương đắp đập,
lhạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa
ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lBon
katê được tổ chức linh đình tại các đền
tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
ịch: Người Chăm có nông lịch cổ
truyền tính theo lịch âm.
ọc: Dân tộc Chăm chữ trất
sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí,
kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được
sáng tạo dựa vào hthống văn tSascrit,
nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn
hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa.
Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu
là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
ăn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật
trống mặt da Paranưng, trống
vỗ, kèn Saranai. Nền dân ca - nhạc cổ
Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân
ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung
như trống m, nhạc nam ai, ca hò Huế...
Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày
hội Katê diễn ra tại các đền tháp.
hơi: Trem thích đánh cù th
diều, đánh trận giả, thi cướp cờ,
chơi trò bịt mắt bắt dê.
http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=48
Q
C
M
L
L
H
V
C
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 6
LEÃ HOÄI KATEÂ CA
NGÖÔØI CHAÊM BaøLaMoân
TS. Nguyễn Đức Toàn
atê mùa l hội
lớn trong m của
người Chăm Bà
La Môn tại Ninh
Thuận và Bình Thuận. L hội
Katê ý nghĩa kính nhớ ông
t tiên, những người đã
khuất, tưởng nhớ đến các vị
anh hùng dân tộc (được người
Chăm suy tôn thành thần) như
Klong Garai:
các v vua đã nhiều công
lao đối với người Chăm thuở
xa xưa như kiến thiết đất
nước, hướng dẫn làm thủy lợi
và sản xuất nông nghiệp. Lễ hội Katê còn
ý nghĩa tưởng nhớ đến ông bà ttiên
bên ngoại (tức bên cha, người Chăm
theo mẫu hệ). Tương tự ý nghĩa kính nhớ
ông bà ttiên trong Katê, người Chăm
lChabur (vào 15/9 lịch Chăm) để tưởng
nh ông bà t tiên bên nội (bên mẹ).
Chabur đồng thời là dịp sùng kính thần
mẹ xứ sở Pô Nagar vị thần lớn nhất của
người Chăm. Lễ hội Chabur thường được
tchức với quy nhỏ hơn so với lễ hội
Katê.
Những nghi lễ chính của Katê được
diễn ra nơi các đền tháp. Ninh Thuận,
ba địa điểm hành l đền thờ Pô
Nagar ( làng Chăm Hữu Đức thuộc xã
Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh
Ninh Thuận), tháp Romê (gần làng
Chăm Hậu Sanh, thuộc địa bàn huyện
Ninh Phước, cách trung tâm thị xã Phan
Rang gần 20 Km về phía y nam theo
đường bộ) và tháp Pô Klong Garai (thị
trấn Tháp Chàm, ch Phan Rang 5 Km
theo đường quốc lộ 27 từ Phan Rang đi
Đà Lạt).
Theo truyền thống, ngày 1 tháng 7
lch Chăm ngày chính l của lễ hội
Katê, được tổ chức tại c đền tháp của
người Chăm. Vì thế, ngày này còn được
gọi là ngày lên tháp. Tính theo dương
lch, ngày lên tháp tương ứng với khoảng
thời gian từ giữa tháng 9 đến giữa tháng
10 dương lịch. m nay (2004), ngày lên
tháp nhằm vào ngày 13/10 dương lịch.
Đến ngày lên tháp, ngay tkhi trời chưa
kịp sáng, khắp các palay Chăm (làng
Chăm) của ni Chăm Bà La Môn tại
Ninh Thuận đã nhộn nhịp tiếng mọi
người gọi nhau để chuẩn b lên tháp”
(các tháp Chăm thường được y dựng
trên các ngọn đồi).
Đến khoảng 7 - 8 gi sáng m lên
tháp, y phục của các “thần vua” được
rước tdanok lên trên tháp để hành lễ.
Theo truyền thống, y phục vua Chăm do
người Raglai gìn gi được đem đến
danok vào ngày kế trước m lên tháp.
Ninh Thuận ba danok: danok vua Pô
làng Chăm Hậu Sanh, danok n
thần Pô Nagar làng Chăm Hữu Đức và
danok vua Klong Garai tại làng Phước
K
Thư mục chuyên đề Văn hóa Chăm 7
Đồng, cba danok đều nằm trên địa bàn
huyện Ninh Phước. Đoàn rước y-trang”
(trang phục của vua) lên tháp gồm dàn c
ngũ sắc, các gái Chăm múa lễ duyên
dáng rực rtrong chiếc áo dài Chăm
nhiều màu, các v chức sắc Bà La Môn
Giáo và những thầy lễ dân gian trang
trọng trong bộ lễ phục bước cạnh kiệu
rước y trang, nối tiếp kiệu rước là các
đông đảo đồng bào Chăm du khách t
các nơi quy tụ về.
Ngay khi đoàn rước đến vừa đến
trước cửa tháp, các gái Chăm phụ
trách múa l liền biểu diễn các điệu
Chăm truyền thống để chào đón các vị
thần linh vdự lễ hội Katê. Tiếp đến
nghi thức rảy nước trong Lễ Mở Cửa
Tháp do thy Cả Sư (Pô Dhia) các
thầy Bà Xế (Pasêh) thực hiện và nghi
thức tắm tượng (Pamưnay Yăng) được
tiến hành nơi tượng thờ (bên trong lòng
tháp hoặc tại chính điện của các đền thờ).
Những nghi thức này xuất phát từ c tập
tục bản địa vốn nguồn gốc sâu xa là
nền văn minh nông nghiệp lúa nước liên
quan đến thuật cầu đảo (cầu mưa). Y
phục vua Chăm được Pô Dhia làm l ban
phước và trao cho Muk Pajâu (Bà múa l
cộng đồng) mặc vào tượng vua trong tháp
thờ. Sau khi tiến hành nghi thức tắm
tượng, cuộc tế lễ bắt đầu.
Trong khung cảnh trang nghiêm tại
lòng tháp, tiếng thầy Kadhar kể tiểu sử và
ca tụng công đức các vị thần hòa quyện
với tiếng kèn saranai, đàn kanhi réo rắt và
tiếng trống ginăng rộn rã. Trong khi đó, ở
trước thềm cửa tháp, các phụ nữ Chăm
bày bin la liệt c lễ vật cúng thần linh
để cầu xin ơn lành, cầu cho gia đình một
năm mới an khang thịnh vượng. Lễ vật
cmón ngọt lẫn món mặn n: ngạnh
(dê), m, canh, món mặn, xôi, chuối,
bánh ngọt, trái cây… . Thời gian cúng lễ
trên tháp được kéo dài cho đến xế chiều
kết thúc vào khoảng 15 - 16 gicùng
ngày bằng nghi lễ đóng cửa tháp. Trong
khoảng thời gian tlúc mở cửa tháp cho
đến khi đóng cửa tháp, từng dòng người
đông đảo tiếp tục tuôn về các đền tháp.
Người lớn mang lễ vật đến cầu khấn
được buôn may bán đắt, gia đình bình an,
hòa thuận hoặc dâng lđể tạ ơn thần đã
đáp ứng lời cầu xin; thanh niên nam n
cầu thần ban cho văn hay, chữ tốt, nghề
nghiệp tinh thông, tình duyên mặn nồng...
các phnữ hiếm muộn cũng tranh thủ dịp
này để đến tháp cầu tự. Thông thường,
những ai nhu cầu được buôn may bán
đắt, học hành tn tới thì đến cầu với Pô
Klong Garai, muốn có sức mạnh, uy
dũng thì tìm đến Romê, còn muốn cầu
tthì m đến với Pô Nagar. Sau khi cầu
khấn cùng thần linh, mọi người lưu lại
chút ít thời gian để cùng nhau chuyn trò,
ghi hình k niệm hoặc sum họp ăn
uống… . Không chỉ người Chăm lên
tháp, còn một số người Việt khu
vực lân cận c tháp Chăm cũng đến cầu
xin, cúng i. Các du khách thường đến
viếng tháp Pô Klong Garai ít đến tháp
Romê, do tháp Klong Garai v
trí gần quốc lộ và trung tâm thtrấn Tháp
Chàm, thuận tiện cho các loại xe vào sát
chân đồi tháp.
Slà một thiếu sót lớn nếu chỉ đến dự
Katê vào ngày lên tháp, bởi vì theo
truyền thống hàng m, trong ngày tiếp
đón y phục vua Chăm do đồng bào
Raglai mang t trên núi xuống (kế trước
ngày lên tháp), tại làng Chăm Hữu Đức
(Ninh Phước - Ninh Thuận) bao gicũng
tchức múa Chăm (múa quạt) vi quy
lớn. Các du khách sẽ bchoáng ngợp
bởi khung cảnh hoành tráng s uyển
chuyển của hàng trăm thiếu nữ Chăm với
những điệu duyên dáng hòa nhịp cùng
tiếng trống ginăng rộn rã. Cuộc múa diễn
ra dưới ánh nắng cháy bỏng giữa trưa
(khoảng 12 - 13 gi trưa) của vùng đất
Phan Rang khô hạn trong stham gia cổ
động của cả ngàn người. Tiếp theo tiết
mục múa Chăm là các hoạt động thi đấu
ththao. Buổi tối ny m đó, cũng tại
Hữu Đức, mọi người sẽ cùng dđêm văn